Thứ Tư , 7 Tháng Mười Hai 2016

Chăm sóc trẻ sinh non

Bài viết thứ 8 trong 11 bài thuộc ebook Chăm sóc trẻ sơ sinh

Trẻ sinh non có cần được chăm sóc đặc biệt không?

Trẻ được sinh ra sớm (trước ngày sinh dự tính) có thể cần được chăm sóc đặc biệt trong 2 năm đầu tiên, đặc biệt là nếu trẻ rất nhỏ sau khi sinh (dưới 3 pound hay 1.36 kg). Dưới đây là một số lời khuyên về cách chăm sóc khi đưa trẻ sơ sinh trở về nhà từ bệnh viện.

chăm sóc trẻ sơ sinh

Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ

Điều quan trọng là dẫn con bạn đến văn phòng bác sĩ sau khi rời bệnh viện. Bác sĩ sẽ kiểm tra sự tăng cân và qua đó hiểu diễn biến của trẻ ở nhà.

Hãy thảo luận với bác sĩ về việc cho trẻ ăn. Bác sĩ có thể khuyên bạn nên bổ sung vitamin, sắt và sữa bột đặc biệt nếu trẻ bú bình. Vitamin thường được cho trẻ sinh non để giúp trẻ phát triển khỏe mạnh. Con của bạn cũng có thể cần thêm sắt vì trẻ sinh non thường không có nhiều sắt được lưu trữ trong cơ thể như trẻ sinh đủ tháng. Sau khoảng 4 tháng được bổ sung sắt, con của bạn sẽ có khoảng cùng một lượng sắt như một đứa trẻ sinh đủ tháng. Bác sĩ có thể muốn con của bạn được bổ sung sắt trong một năm hoặc lâu hơn.

Con bạn có thể không phát triển ở mức tương tự như trẻ sinh đủ tháng trong 2 năm đầu tiên. Trẻ sinh non thường nhỏ hơn trong thời gian này. Đôi khi trẻ tăng cân nhanh chóng và thường thì trẻ sinh non có thể bắt kịp với trẻ sinh đủ tháng đúng lúc. Để lưu giữ sự tăng trưởng của trẻ, bác sĩ có thể sử dụng biểu đồ tăng trưởng đặc biệt cho trẻ sinh non. Bác sĩ cũng sẽ muốn biết thêm sự năng động của trẻ, thời điểm trẻ có thể ngồi và bò lần đầu. Đây là những điều các bác sĩ muốn biết về tất cả các trẻ sơ sinh, không chỉ trẻ sinh non.

Thời gian biểu cho trẻ ăn

Lúc đầu, hầu hết trẻ sinh non cần 8-10 bữa ăn một ngày. Thời gian giữa những cử bủ dài hơn 4 giờ sẽ khiến trẻ bị mất nước. Trẻ dùng từ 6 đến 8 tã ướt một ngày cho thấy trẻ được bú đủ sữa mẹ hoặc sữa bột. Trẻ sinh non thường phun thức ăn sau khi ăn. Điều này là bình thường, nhưng bạn nên chắc chắn rằng trẻ vẫn tăng cân. Nói chuyện với bác sĩ nếu bạn nghĩ rằng trẻ đã ngừng tăng hoặc đang giảm cân.

Chuyển sang thức ăn đặc

Hầu hết các bác sĩ tư vấn cho trẻ ăn thức ăn đặc từ 4 đến 6 tháng sau ngày sinh dự tính ban đầu trẻ (không phải là ngày tháng năm sinh thật). Trẻ sinh non không phát triển như trẻ sơ sinh đủ tháng, vì vậy có thể cần thêm thời gian để trẻ sinh non phát triển khả năng nuốt. Nếu con bạn có vấn đề về sức khỏe, bác sĩ có thể đề nghị một chế độ ăn uống đặc biệt.

Trẻ ngủ như thế nào?

Mặc dù mỗi ngày ngủ nhiều giờ hơn so với những trẻ đủ tháng, trẻ sinh non ngủ trong những khoảng thời gian ngắn.

Tất cả trẻ sơ sinh, bao gồm cả trẻ sinh non, nên được đặt nằm ngửa vào giường, không phải nằm sấp. Dùng nệm chắc chắn và không dùng gối. Ngủ ở tư thế nằm sấp trên nệm mềm có thể làm tăng nguy cơ con bạn bị đột tử (SIDS), đó là hiện tượng trẻ dưới một tuổi chết đột ngột khi đang ngủ mà không biết nguyên nhân rõ ràng

Thính giác và thị giác của trẻ

Hiện tượng lé thì phổ biến ở trẻ sinh non hơn so với trẻ sinh đủ tháng. Thuật ngữ y tế cho tình trạng này là lác. Thông thường, Khi trẻ tăng trưởng và phát triển, hiện tượng này sẽ mất đi. Bác sĩ có thể muốn con bạn được kiểm tra bởi bác sĩ nhãn khoa nếu con bạn có vấn đề này.

Một số trẻ sinh non có một bệnh về mắt được gọi là bệnh võng mạc do sinh non (ROP). Ở những trẻ có tình trạng này, các mạch máu nhỏ trong mắt phát triển bất thường. ROP thường chỉ xảy ra ở những trẻ được sinh ra rất sớm, khoảng 32 tuần của thai kỳ hoặc sớm hơn. Nếu con bạn có nguy cơ bị ROP, bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn để trẻ được thường xuyên kiểm tra sức khỏe bởi một bác sĩ nhãn khoa,(thời điểm khám ROP thường là lúc trẻ được 4-6 tuần tuổi). ROP có thể được chữa lành để giúp ngăn ngừa mất thị lực.

Trẻ sinh non cũng có nhiều nguy cơ về thính khác hơn trẻ sinh đủ tháng. Nếu bạn nhận thấy trẻ dường như không nghe và nhận thấy bạn, hãy thảo luận với bác sĩ để trẻ có thể được kiểm tra các vấn đề thính giác. Bạn có thể kiểm tra thính giác của trẻ bằng cách làm cho tiếng ồn phía sau hoặc bên cạnh trẻ. Nếu con bạn không quay đầu, hoặc không giật mình vì tiếng động lớn, bạn nên nói với bác sĩ.

Chủng ngừa cho trẻ

Chủng ngừa (còn gọi là vắc xin) cho trẻ sinh non ở độ tuổi giống như của trẻ sơ sinh đủ tháng. Trẻ có thể cần chích ngừa cúm khi trẻ được 6 tháng tuổi. Trẻ sinh non có thể bị cúm nặng hơn so với trẻ đủ tháng. Thảo luận với bác sĩ về chích ngừa cúm cho toàn gia đình của bạn. Điều này có thể giúp bảo vệ con bạn khỏi mắc cúm từ một người nào đó trong gia đình.

Khi di chuyển cùng trẻ trong ô tô

Khi di chuyển cùng trẻ trong ô tô, dùng ghế ngồi xe cho trẻ sơ sinh (hoặc các loại ghế khác chuyên cho trẻ sơ sinh, như bác sĩ khuyến cáo). Hãy chắc chắn rằng đầu và cơ thể trẻ không bị trượt khi ngồi trên ghế xe. Bạn có thể sử dụng khăn hay chăn để hỗ trợ trẻ trên ghế.

Ghế cho trẻ nên được cài đặt ở ghế sau. Khi bạn đang lái xe, hãy luôn trông chừng trẻ bằng cách nhìn qua gương chiếu hậu. Bạn cũng có thể nhờ bạn bè hoặc thành viên trong gia đình ngồi cùng ở ghế sau với trẻ. Nếu bạn đang sử dụng thiết bị kiểm soát ngưng thở cho trẻ, nên dụng ngay cả khi trẻ đang ngồi trong xe. Đừng bao giờ bỏ con bạn lại một mình trong xe, thậm chí chỉ trong một vài phút.

Massage cho trẻ sinh non

Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng việc massage hay xoa bóp khoa học có thể giúp trẻ sinh non lên cân. Cụ thể hãy làm như sau:

  • Trong khung cảnh yên tĩnh và ánh sáng thật dịu
  • Cho trẻ nằm sấp hoặc nghiêng, bàn tay của mẹ có thể thoa một ít dầu thảo mộc (tuyệt đối không dùng dầu nóng). Bắt đầu xoa từ xa là phần chân, phần cuối cùng là mặt. Tốc độ xoa chậm là thích hợp với trẻ có tình trạng tăng kích thích, nếu trẻ bị giảm trương lực cơ thì xoa bóp nhanh sẽ có lợi. Không xoa bóp trên đầu.
  • Ngưng xoa bóp khi trẻ có biểu hiện sau: Nhíu mày, nhăn nhó, tiểu tiện, đột ngột xòe bàn tay hay giật mình.

Tài liệu tham khảo

  1. http://familydoctor.org/familydoctor/en/pregnancy-newborns/caring-for-newborns/infant-care/caring-for-your-premature-baby.html
  2. Bệnh viện Nhi Đồng 1 (2010), “Massage cho trẻ sinh non”, cẩm nang chăm sóc trẻ, Nhà xuất bản Y học, tr.137-140.


  • error: