Thứ Bảy , 3 Tháng Mười Hai 2016

Kiến thức chung về ung thư thanh quản

Bài viết thứ 3 trong 14 bài thuộc ebook Các bệnh Ung thư

Ung thư thanh quản là một loại ung thư/bệnh lý mà tế bào ác tính (tế bào ung thư) hình thành trong mô thanh quản .

Thanh quản là một phần của họng, giữa nền lưỡi và khí quản. Thanh quản có các dây thanh âm, rung động và tạo ra âm thanh khi không khí đi vào. Âm thanh vang lên qua hầu họng, miệng và mũi tạo thành tiếng nói.

Thanh quản có 3 phần chính:

  • Phần trên thanh môn: Phần trên của thanh quản phía trên các dây thanh âm, bao gồm cả nắp thanh quản.
  • Thanh môn: Phần giữa của thanh quản nơi chứa các dây thanh âm.
  • Phần dưới thanh môn: Phần dưới của thanh quản giữa các dây thanh âm và khí quản.

Hình 1: Giải phẫu thanh quản.

Hầu hết ung thư thanh quản bắt nguồn từ các tế bào vảy (tế bào gai), là các tế bào phẳng, mỏng lót ở mặt trong thanh quản. Ung thư thanh quản thuộc nhóm ung thư đầu và cổ.

Tiêu thụ quá nhiều các sản phẩm từ thuốc lá và rượu là những yếu tố nguy cơ của ung thư thanh quản .

Bất cứ điều gì làm tăng khả năng mắc một căn bệnh được gọi là yếu tố nguy cơ của căn bệnh đó. Tuy nhiên, mang một yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ bị ung thư, và ngược lại không mang yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ không bị ung thư. Tham khảo ý kiến của bác sĩ nếu bạn nghĩ mình có thể đang mang yếu tố nguy cơ nào đó.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư thanh quản bao gồm đau họng và đau tai .

Những triệu chứng trên đây cùng các dấu hiệu và triệu chứng khác có thể do ung thư thanh quản hoặc các bệnh lý khác gây ra. Đến gặp bác sĩ để kiểm tra nếu bạn có bất kỳ những dấu hiệu nào sau đây:

  • Đau họng hoặc ho kéo dài
  • Khó nuốt hoặc đau khi nuốt
  • Đau tai
  • Khối u ở cổ hoặc họng
  • Thay đổi trong giọng nói hoặc khàn tiếng

Hình 2: Ung thư thanh quản.

Xét nghiệm vùng họng và cổ được sử dụng để hỗ trợ phát hiện (tìm kiếm), chẩn đoán và xác định giai đoạn của ung thư thanh quản .

Các xét nghiệm sau đây có thể được chỉ định:

  • Khám họng và cổ : Kiểm tra các vị trí bất thường ở họng và cổ. Bác sĩ sẽ sờ trong miệng với ngón tay đeo găng và kiểm tra miệng và họng dùng  dụng cụ gương dài và nhỏ dưới ánh sáng. Điều này bao gồm cả việc kiểm tra bên trong của má và môi, nướu răng; phía sau, khẩu cái và sàn miệng; đầu, gốc (đáy) và hai bên (bờ) lưỡi và họng. Sờ cổ phát hiện các hạch bạch huyết bị sưng. Bác sĩ sẽ thu thập tiền sử thói quen liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân, tiền sử bệnh và các điều trị y khoa.
  • Sinh thiết : Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ lấy các mẫu tế bào hoặc mô tại vị trí tổn thương quan sát dưới kính hiển vi để kiểm tra các dấu hiệu ung thư. Có thể lấy mẫu mô bằng một trong những cách sau:
  • Soi thanh quản : Thủ thuật kiểm tra thanh quản phát hiện các vị trí bất thường. Gương hoặc kiêng soi hầu họng (dụng cụ mỏng dạng ống với ánh sáng và một ống kính để xem) được đưa vào miệng để quan sát thanh quản. Một dụng cụ đặc biệt trên kiếng soi hầu họng có thể được sử dụng để lấy mẫu mô.
  • Nội soi : Thủ thuật kiểm tra các cơ quan và mô trong cơ thể, chẳng hạn như họng, thực quản, khí quản nhằm phát hiện các bất thường. Ống nội soi (một ống mỏng, có bóng đèn chiếu sáng và một ống kính để quan sát) được đưa vào miệng để quan sát hầu họng. Một dụng cụ đặc biệt trên ống nội soi có thể được sử dụng để lấy mẫu mô.
  • Chụp CT (CT scan) : Thủ thuật tạo một loạt hình ảnh chi tiết về một cơ quan nào đó bên trong cơ thể, từ nhiều góc độ khác nhau. Những hình ảnh được tạo ra bằng hệ thống kết nối máy tính và máy chụp X-quang. Thuốc cản quang được nuốt hoặc tiêm vào tĩnh mạch để giúp thấy rõ hình ảnh của các cơ quan hoặc mô hơn. Thủ thuật này còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính có sử dụng chất cản quang.
  • Chụp MRI (chụp cộng hưởng từ) : Loại thủ thuật sử dụng điện từ, sóng radio, và máy vi tính để tạo một loạt hình ảnh chi tiết của một cơ quan trong cơ thể.
  • Chụp PET (positron emission tomography scan) : là một loại kỹ thuật tìm các tế bào của khối u ác tính (các tế bào ác tính của khối u) trong cơ thể. Một lượng nhỏ glucose (đường) phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch. Máy chụp PET quét xoay quanh cơ thể và cho thấy những nơi đường đang được sử dụng. Các tế bào của khối u ác tính xuất hiện sáng hơn trong hình vì chúng hoạt động mạnh (tích cực) hơn và sử dụng nhiều đường hơn so với các tế bào bình thường.
  • Xạ hình xương : Một thủ thuật kiểm tra liệu có các tế bào đang phân chia nhanh chóng, chẳng hạn như tế bào ung thư, trong xương hay không. Một lượng rất nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch và di chuyển trong máu. Các chất phóng xạ tích tụ trong xương ở những vị trí có các tế bào phân chia nhanh và được phát hiện bởi máy quét.
  • Uống Barium : Bệnh nhân uống một chất lỏng có chứa bari (một hợp chất kim loại màu trắng bạc). Chất lỏng tràn vào thực quản, dạ dày và bắt các tia X-quang. Và một loạt các hình ảnh X-quang thực quản và dạ dày được ghi nhận.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng (khả năng hồi phục) và các tùy chọn điều trị .

Tiên lượng (khả năng hồi phục) phụ thuộc vào những điều sau đây:

  • Giai đoạn bệnh
  • Vị trí và kích thước khối u
  • Độ ác tính mô học của khối u
  • Tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân bao gồm vấn đề bệnh nhân có bị thiếu máu hay không

Lựa chọn điều trị phụ thuộc những điều sau đây:

  • Giai đoạn bệnh
  • Vị trí và kích thước khối u
  • Duy trì khả năng nói chuyện, ăn uống, và hô hấp của bệnh nhân, càng bình thường càng tốt
  • Khả năng tái phát của ung thư

Cần lưu ý rằng hút thuốc và uống rượu sẽ làm giảm hiệu quả của điều trị ung thư thanh quản. Nếu bệnh nhân tiếp tục hút thuốc và uống rượu thì ít có khả năng được chữa khỏi và nhiều nguy cơ hình thành một khối u thứ hai (di căn) hơn. Sau khi điều trị ung thư thanh quản, bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên và cẩn thận (Nên tái khám ít nhất 1 lần/năm sau khi đã bước vào giai đoạn ổn định).

Tài liệu tham khảo: http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/treatment/laryngeal/Patient



  • error: