Thứ Bảy , 3 Tháng Mười Hai 2016

Ung thư buồng trứng

Bài viết thứ 22 trong 37 bài thuộc ebook Các vấn đề Phụ khoa

Ung thư là gì?

Ung thư xảy ra khi tế bào cũ không chết đi vào lúc chúng cần phải chết hoặc bị hư hỏng. Thông thường, cơ thể sửa chữa hoặc phá hủy những tế bào này. Đôi khi, các tế bào này có thể phát triển ngoài tầm kiểm soát. Điều này hình thành các khối u. Các khối u có thể là lành tính (không gây ung thư) hoặc ác tính (gây ung thư).

Khối u lành tính không lan ra các phần khác của cơ thể. Các khối u ác tính có thể xâm nhập và phá hủy các mô khỏe mạnh và cơ quan. Tế bào ung thư cũng có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và hình thành các khối u mới.

Ung thư buồng trứng là gì?

Ung thư buồng trứng là một bệnh có ảnh hưởng đến một hoặc cả hai buồng trứng, hai cơ quan nội tiết ở hai bên của tử cung.

Ung thư buồng trứng

Làm thế nào phân biệt được loại ung thư buồng trứng?

Các loại ung thư buồng trứng được phân loại dựa trên loại tế bào bị ung thư. Ba loại chính được liệt kê như sau:

  • Ung thư tế bào biểu mô-tế bào biểu mô bao phủ bề mặt của buồng trứng. 80-90% ung thư buồng trứng là loại này.
  • Ung thư tế bào mầm (germ cell cancer) – tế bào mầm là những tế bào trong buồng trứng phát triển thành trứng. Đây là loại ung thư thường gặp ởphụ nữ trẻ và thường có tỷ lệ chữa khỏi cao .
  • Ung thư tế bào mô đệm (stromal cell cancer)- ung thư mô đệm xảy ra trong các mô liên kết là phần cấu tạo nên các cấu trúc bên trong của buồng trứng. Nó cũng có tỷ lệ chữa khỏi cao.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư biểu mô buồng trứng là gì?

Một số yếu tố nguy cơ có liên quan với ung thư buồng trứng biểu mô. Các yếu tố sau đây cho thấy sự tăng nguy cơ bị ung thư buồng trứng ở phụ nữ:

  • Lớn hơn 55 tuổi
  • Tiền sử gia đình bị ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư ruột đại tràng, ung thư nội mạc tử cung hoặc (ung thư niêm mạc tử cung)
  • Tiền sử bản thân mắc bệnh ung thư vú
  • Đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2
  • Chưa sinh con lần nào
  • Vô sinh
  • Lạc nội mạc tử cung

chẩn đoán ung thư buồng trứng

Những xét nghiệm nào hiện có để tầm soát ung thư biểu mô buồng trứng ?

Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm tốt để tầm soát ung thư cổ tử cung, nhưng nó không phát hiện ung thư buồng trứng. Khám  vùng chậu đôi khicó thể phát hiện các vấn đề với buồng trứng. Tuy nhiên, tại thời điểm này, không có xét nghiệm nào để tầm soát bệnh lý ung thư buồng trứng.

Có nên tầm soát bệnh lý ung thư biểu mô buồng trứng ở những phụ nữ có nguy cơ cao với bệnh này không?

Đối với phụ nữ có nguy cơ cao ung thư biểu mô buồng trứng, chẳng hạn như phụ nữ có đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2, việc khám định kỳ để kiểm tra ung thư buồng trứng được khuyến khích. Các xét nghiệm này bao gồm siêu âm qua âm đạo để tìm những thay đổi trongbuồng trứng và đo nồng độ CA 125. CA125 là một chất do tế bào khối u tạo ra. Đôi khi nó tăng ở phụ nữ bị ung thư buồng trứng.

Các triệu chứng của ung thư biểu mô buồng trứng là gì?

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng sau đây, và chúng không mất đi, chúng gặp thường xuyên hơn, hoặc tồi tệ hơn theo thời gian, bạn nên liên hệ ngay nơichăm sóc sức khỏe của bạn:

  • Báng bụng hoặc tăng kích thước bụng
  • Đau vùng chậu hoặc bụng
  • Khó ăn hoặc cảm thấy đầy bụng một cách nhanh chóng

Làm thế nào để chẩn đoán ung thư buồng trứng?

Nếu bạn có những triệu chứng thường xuyên hay kéo dài của ung thư buồng trứng, bạn thường sẽ  được khám bệnh toàn thân và khám kiểm tra vùng chậu.Việc kiểm tra hình ảnh của buồng trứng, như siêu âm qua âm đạo có thể được thực hiện. Đo nồng độ CA 125 trong máu của bạn.

Cách duy nhất để biết chắc chắn rằng một người phụ nữ bị ung thư buồng trứng là làm sinh thiết. Trong sinh thiết, mô buồng trứng được lấy ra trong lúc phẫu thuật và được kiểm tra xem có tế bào ung thư không.

Làm thế nào điều trị ung thư buồng trứng?

Điều trị dựa trên các giai đoạn của ung thư và mức độ ung thư đã lan ra ngoài buồng trứng. Ung thư biểu mô buồng trứng có bốn giai đoạn. Giai đoạn I là giai đoạn nhẹ nhất. Giai đoạn IV là giai đoạn nặng nhất. Cấp độ ung thư (grade cancer) cũng quan trọng trong điều trị ung thư buồng trứng. Khối u buồng trứng được phân loại như cấp thấp hoặc cấp cao.

Nếu một phụ nữ được cho là có ung thư buồng trứng, cần phải phẫu thuật và các xét nghiệm khác để đánh giá giai đoạn và cấp độ của ung thư. Thông thường, phẫu thuật sẽ thực hiện cắt bỏ tử cung (cắt bỏ tử cung) và buồng trứng và ống dẫn trứng (salpingo – oophorectomy). Các hạch bạch huyết và các mô từ bụng có thể được phẫu thuật cắt đi. Hóa trị liệu có thể được thực hiện sau phẫu thuật. Hóa trị liệu là sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư.

Những xét nghiệm được sử dụng để đánh giá xem ung thư đã lan rộng (di căn) chưa?

Để tìm hiểu xem ung thư đã di căn chưa, có thể thực hiện việc kiểm tra hình ảnh như nội soi đại tràng, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), và chụp X- quang ngực. Nếu có thể, tốt nhất là  việc phẫu thuật và đánh giá kết quả sinh thiết nên được thực hiện bởi một bác sĩ được đào tạo hoặc có kinh nghiệm đặc biệt trong ung thư, chẳng hạn như một bác sĩ ung thư phụ khoa .

Những điều cần làm sau khi điều trị?

Phụ nữ điều trị ung thư buồng trứng cần thiết phải kiểm tra định kỳ, bao gồm thăm khám và xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ CA 125. Các xét nghiệm khác, như siêu âm, chụp X-quang, chụp cộng hưởng từ, hoặc chụp cắt lớp vi tính cũng có thể được thực hiện.

Thuật ngữ Ung thư buồng trứng

Sinh thiết : một quy trình trong đó một mẫu mô nhỏ được lấy ra để kiểm tra dưới kính hiển vi trong phòng thí nghiệm.

BRCA1 và BRCA2 : gene làm tăngnguy cơ ung thư vú và một số loại ung thư khác.

CA 125 : một chất trong máu có thể tăng khi có sự hiện diện của một số loại ung thư.

Nội soi đại tràng : kiểm tra toàn bộ đại tràng sử dụng một dụng cụ là ống nhỏ có ánh sáng.

Chụp cắt lớp vi tính : một loại kỹ thuật dùng Xquang để cho thấy cơ quan nội tạng và cấu trúc trong mặt cắt ngang. Còn được gọi là chụp CT hoặc CAT.

Lạc nội mạc tử cung : một tình trạng trong đó mô tương tự như mô nội mạc bình thường của tử cung được tìm thấy bên ngoài tử cung, thường gặp ở trên buồng trứng, ống dẫn trứng, và các cấu trúc vùng chậukhác.

Ống dẫn trứng : ống dẫn trứng đi từ buồng trứng đến tử cung.

Các hạch bạch huyết : các tuyến nhỏ ở bụng và các vùng khác của cơ thể lọc các dòng chảy của bạch huyết, là dịch gần như không màu rửa tế bào cơ thể. Dịch bạch huyết có thể mang tế bào bất thường đến các bộ phận khác của cơ thể.

Cộng hưởng từ hình ảnh :một phương pháp xem cơ quan nội tạng và các cấu trúc bằng cách sử dụng một vùng từ trường mạnh và sóng âm thanh.

Buồng trứng : hai tuyến nội tiết, nằm ​​ở hai bên của tử cung, có chứa các trứng thoát ra vào thời điểm rụng trứng và sản xuất các nội tiết tố (hormone).

Pap Test : một xét nghiệm trong đó các tế bào được lấy từ cổ tử cung và âm đạo và kiểm tra dưới kính hiển vi.

Kiểm tra vùng chậu : khám cơ quan sinh sản của phụ nữ.

Siêu âm qua ngã âm đạo : một loại siêu âm, trong đó đầu dò được thiết kế đặc biệt để được đặt trong âm đạo.

Tử cung : một cơ quan cấu tạo bởi cơ nằm trong vùng chậu của phụ nữ, là nơi chứa và nuôi dưỡng thai nhi phát triển trong thời gian mang thai.

Tài liệu tham khảo

http://www.acog.org/~/media/For%20Patients/faq096.pdf?dmc=1&ts=20140119T1043219774



  • error: