Thứ Bảy , 10 Tháng Mười Hai 2016

Ung thư gan nguyên phát

Bài viết thứ 2 trong 14 bài thuộc ebook Các bệnh Ung thư

Ung thư gan nguyên phát là ung thư bắt nguồn từ gan, khác với ung thư gan thứ phát là loại ung thư từ một cơ quan khác của cơ thể di căn đến gan. Trên thế giới, ung thư gan nguyên phát đứng hàng thứ 5 ở nam giới và thứ 7 ở nữ giới trong các loại ung thư thường gặp và đứng hàng thứ 3 về nguyên nhân gây tử vong do ung thư. Hơn 80% số trường hợp bệnh xuất hiện ở châu Á và châu Phi với yếu tố nguy cơ thường gặp nhất là nhiễm viêm gan siêu vi B mạn tính từ giai đoạn trẻ nhỏ. Trong khi tại các nước phương tây, tần suất ung thư gan nguyên phát thấp hơn và yếu tố nguy cơ chủ yếu là do lạm dụng rượu. Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm viêm gan siêu vi B trong dân số khá cao (15-20%) là nguyên nhân chính khiến ung thư gan nguyên phát đứng hàng đầu trong các loại ung thư thường gặp ở cả nam và nữ. Nhìn chung, ung thư gan nguyên phát có tiên lượng xấu. Phẫu thuật cắt bỏ khối u là lựa chọn hàng đầu cho khả năng chữa khỏi cao nhất tuy nhiên chỉ có một số ít trường hợp còn có thể thực hiện được.

Gan là gì?

Ung thư gan 1

Gan nằm ở bụng trên bên phải. Gan có nhiều chức năng bao gồm:

  • Dự trữ glycogen (nhiên liệu cho cơ thể). Glycogen được tổng hợp từ các loại đường ăn vào. Khi cần thiết, gan lại phân huỷ glycogen thành glucose đưa vào máu.
  • Chuyển hoá chất béo và chất đạm (protein) từ thức ăn.
  • Sản xuất protein cần thiết cho quá trình đông máu (các yếu tố đông máu).
  • Chuyển hoá và/hoặc loại bỏ rượu, thuốc, chất độc và độc tố  khỏi cơ thể.
  • Tiết mật giúp hoà tan và hấp thu chất béo trong thức ăn.

Ung thư là gì?

Cơ thể được cấu thành từ hàng triệu tế bào nhỏ bé. Ung thư là bệnh ở mức độ tế bào mà chúng đều có đặc điểm chung là có cấu tạo bất thường và tăng sinh ngoài tầm kiểm soát. Có nhiều loại tế bào khác nhau tạo nên nhiều loại mô và cơ quan khác nhau trong cơ thể. Do đó có nhiều loại ung thư khác nhau tùy tế bào bệnh xuất phát từ cơ quan nào.

Khối u ác tính là một khối u chứa những tế bào ung thư đang tăng trưởng. Trong quá trình phát triển, nó xâm lấn vào các mô và cơ quan lân cận gây tổn thương cho các cơ quan này. Ngoài ra, tế bào ung thư từ khối u ban đầu cũng có thể di chuyển theo dòng máu hay bạch huyết đến gieo rắc ở cơ quan khác. Từ đó chúng tiếp tục tăng sinh và hình thành khối u thứ phát gọi là di căn. Những khối u thứ phát này có thể tiếp tục phát triển, xâm lấn, gây tổn thương mô lân cận và di căn một lần nữa.

Mỗi loại ung thư có mức độ nguy hiểm, khả năng điều trị hiệu quả và tiên lượng khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định đó là loại ung thư gì, kích thước như thế nào và đã có di căn hay chưa. Những thông tin này cho phép bạn có được những lực chọn điều trị thích hợp và tiên lượng bệnh.

Ung thư gan nguyên phát là gì?

Ung thư gan được phân loại thành ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ phát:

  • Ung thư gan nguyên phát là ung thư bắt nguồn từ gan.
  • Ung thư gan thứ phát là bệnh ung thư di căn đến gan từ một bộ phận khác của cơ thể. Nhiều loại ung thư có thể di căn đến gan, trong đó thường gặp nhất là ung thư ruột, tụy, dạ dày, phổi hoặc ung thư vú. Điều trị và tiên lượng của ung thư gan thứ phát thường khác với ung thư gan nguyên phát.

Phần còn lại của bài viết này chỉ đề cập đến ung thư gan nguyên phát. Đặc biệt nói về loại phổ biến nhất của dạng này là ung thư tế bào gan .

Có nhiều loại ung thư gan nguyên phát khác nhau bao gồm:

  • Ung thư tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma – HCC). Thường gặp nhất trong các loại ung thư gan nguyên phát (khoảng 90% các trường hợp). Đây là loại ung thư bắt nguồn từ tế bào gan thường do hậu quả của xơ gan hoặc viêm gan.
  • Ung thư tế bào gan dạng tấm sợi (Fibrolamellar hepatocellular carcinoma FHCC ) là một phân loại hiếm gặp của ung thư tế bào gan. Loại ung thư này thường phát triển trên nền mô gan bình thường.
  • Ung thư tế bào ống mật (Cholangiocarcinoma – CC). Đây là loại ít gặp (khoảng 5 – 10% trường hợp). Tế bào ung thư phát triển từ tế bào biểu mô ống mật.
  • Ung thư nguyên bào gan (Hepatoblastoma). Là một bệnh ung thư hiếm gặp ở trẻ em (chỉ khoảng 0,5-1 % trường hợp).
  • Sarcoma mạch máu (Angiosarcoma). Đây là loại rất hiếm. Ung thư phát triển từ tế bào mạch máu trong gan.

Nguyên nhân gây ung thư gan nguyên phát

Khối ung thư bắt đầu từ một tế bào bất thường mà nguyên nhân gây nên hiện tượng này hiện vẫn chưa được biết rõ ràng. Người ta cho rằng những tác nhân gây tổn thương hoặc thay đổi gen trong tế bào làm cho tế bào nhân lên một cách mất kiểm soát.

Hầu hết những bệnh nhân ung thư gan có ghi nhận một hoặc vài yếu tố nguy cơ sau:

  • Xơ gan . Là thương tổn tiến triển chậm gây ra sẹo xơ trong nhu mô gan. Có nhiều nguyên nhân gây xơ gan nhưng thường là do uống rượu và viêm gan siêu vi C. Tuy nhiên, chỉ một số ít bệnh nhân ung thư gan tiến triển thành ung thư gan.
  • Nhiễm viêm gan siêu vi B hoặc viêm gan siêu vi C lâu dài . Thông thường phải mất khoảng 20-30 năm sau khi nhiễm bệnh mới xuất hiện ung thư gan. Nhiễm viêm gan siêu vi rất phổ biến ở châu Á và châu Phi. Rất nhiều trẻ nhỏ ở đây nhiểm viêm gan siêu vi B, đó là lí do ung thư gan ở những vùng này thường gặp ở người trẻ tuổi.
  • Ăn phải một số chất độc hoặc độc tố . Ví dụ như aflatoxin, là chất thường bị dây nhiễm trong một số loại thực phẩm như hạt đậu phộng bị mốc. Vấn đề này chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển.
  • Một số tình trạng viêm nhiễm kéo dài của đường ruột như viêm loét đại tràng, làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư đường mật.
  • Một số bằng chứng cho thấy hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ ung thư gan.
  • Nhiễm ký sinh trùng (sán lá gan) . Chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư đường mật.

Các triệu chứng của bệnh ung thư gan nguyên phát là gì?

Ở giai đoạn sớm, bệnh có thể không có triệu chứng gì. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng đầu tiên có thể khá mơ hồ và không đặc hiệu như cảm thấy không khỏe, khó chịu (buồn nôn), chán ăn, sụt cân và mệt mỏi. Nhiều người mắc bệnh ung thư gan nguyên phát đã có các triệu chứng liên quan đến xơ gan từ trước. Do đó, nếu đang bị xơ gan mà sức khỏe của bạn diễn tiến xấu đi khá nhanh thì có khả năng đã xuất hiện ung thư gan.

Khi ung thư tiến triển xa hơn nữa, các triệu chứng đặc hiệu có thể xuất hiện bao gồm:

  • Đau bụng ở vị trí của gan.
  • Vàng da và niêm mạc. Triệu chứng bắt đầu xuất hiện trước tiên ở tròng trắng của mắt sau đó vàng dần dần toàn thân. Vàng da xuất hiện do ung thư gây tắc nghẽn ống mật làm bilirubin không được bài tiết xuống ruột và thấm vào máu.
  • Ngứa.
  • Bụng to. Có thể do khối ung thư phát triển to hoặc do tụ dịch trong ổ bụng gây ra bởi các rối loạn chức năng gan.

Làm thế nào để chẩn đoán và đánh giá ung thư gan?

Tầm soát ung thư gan

Thực hiện siêu âm và xét nghiệm alpha – fetoprotein (AFP) trong máu cách mỗi 6 – 12 tháng được khuyến cáo dành cho người có nguy cơ cao ung thư gan. Những người có  nguy cơ cao bao gồm người mắc bệnh xơ gan liên quan đến viêm gan siêu vi B hoặc C. Tầm soát giúp phát hiện ung thư gan ở giai đoạn sớm và do đó có cơ hội điều trị thành công.

Ung thư gan 2

Hình siêu âm bụng cho thấy nốt ung thư tế bào gan (HCC) ở gan trái.

Đánh giá ban đầu

Nếu bị nghi ngờ ung thư gan, bạn có thể được đề nghị làm một số xét nghiệm. Mục đích của các xét nghiệm này nhằm:

  • Xác định rằng bạn có bị ung thư gan hay không. Nếu có thì xác định đây là ung thư gan nguyên phát hay ung thư gan thứ phát.
  • Đánh giá giai đoạn của ung thư. Xác định xem ung thư đã ảnh hưởng bao nhiêu phần gan và liệu đã có lan ra các cơ quan khác của cơ thể chưa?
  • Đánh giá tình trạng chức năng gan và sức khỏe chung của bạn.

Do đó, cần thực hiện một số các xét nghiệm bao gồm:

  • Siêu âm, CT scan hoặc MRI. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh này cho phép xác định chính xác vị trí và mức độ lan rộng của ung thư gan.
  • Sinh thiết gan. Bác sĩ thực hiện lấy một mẫu mô nhỏ và quan sát dưới kính hiển vi để xem các tế bào bất thường nhờ đó xác định loại ung thư.
  • Xét nghiệm máu giúp đánh giá chức năng gan và tình trạng sức khỏe của bạn.
  • Các xét nghiệm khác có thể được thực hiện nếu các xét nghiệm trên không không đủ để xác định rõ tình trạng bệnh của bạn. Ví dụ như nội soi ổ bụng (nhìn vào bên trong ổ bụng qua ống soi).

Ung thư gan 3

Hình CT scan bụng cho thấy khối ung thư tế bào gan (HCC) ở gan phải (mũi tên đen).

Ung thư gan 4

Hình MRI gan cho thấy nốt ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) ở gan trái (mũi tên trắng).

Các lựa chọn để điều trị ung thư gan nguyên phát là gì?

Các phương pháp điều trị chính của ung thư gan nguyên phát là phẫu thuật và hóa trị. Ngoài ra còn có một số kỹ thuật điều trị khác cũng có khi được sử dụng. Việc lựa chọn phương pháp điều trị tuỳ thuộc vào các yếu tố sau:

  • Vị trí của khối ung thư.
  • Giai đoạn của ung thư (kích thước và độ lan rộng của ung thư).
  • Tình trạng sức khỏe, đặc biệt là tình trạng chức năng gan (nhiều trường hợp ung thư gan có chức năng gan kém do xơ gan đi kèm).

Bạn cần thảo luận với chuyên gia về ung thư gan. Họ có thể cung cấp cho bạn những thông tin về ưu và khuyết điểm, tỷ lệ thành công, các tai biến có thể gặp của những phương pháp điều trị có thể áp dụng cho trường hợp ung thư của bạn.

Bạn cũng nên thảo luận với các chuyên gia về các mục tiêu điều trị. Ví dụ:

  • Một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích chữa khỏi ung thư. Cơ hội tốt nhất để ung thư gan được chữa khỏi là khi bệnh được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm. Các bác sĩ thường có khuynh hướng gọi là điều trị triệt để ung thư (remission) thay vì gọi là chữa khỏi bệnh ung thư (cure). Điều trị triệt để có nghĩa là không còn bằng chứng của ung thư sau khi điều trị. Nếu bạn được điều trị triệt để ung thư, bạn có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, một số trường hợp ung thư tái phát lại sau điều trị triệt để vài tháng hay vài năm. Đây là lí do tại sao bác sĩ  hay tránh dùng từ chữa khỏi bệnh.
  • Trong trường hợp ung thư gan không còn có thể chữa khỏi được, điều trị nhằm mục đích kiểm soát ung thư. Những phương pháp điều trị này nhằm hạn chế sự tăng trưởng và lan rộng của khối ung thư giúp bạn tránh được các triệu chứng ung thư trong một thời gian.
  • Một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích giảm nhẹ triệu chứng. Ví dụ, nếu ung thư đã ở giai đoạn muộn, thuốc giảm đau giúp bạn bớt đau hoặc các phương pháp điều trị làm giảm kích thước khối u giúp giảm nhẹ các triệu chứng do ung thư gây ra.

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư là phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu nhằm mục đích đều trị triệt để ung thư nếu còn có thể thực hiện được. Phẫu thuật này được thực hiện khi khối u không quá to, chưa lan rộng ra ngoài gan và phần gan còn lại sau khi cắt còn đủ để đảm nhiệm chức năng. Mô gan còn lại sẽ tái sinh bù trù vào phần gan bị cắt sau vài tuần. Tuy nhiên, không thể thực hiện phẫu thuật này nếu khối u khá to mà gan bị xơ nặng.

Ghép gan cũng là một lựa chọn điều trị triệt để nhưng cũng chỉ phù hợp cho một số ít trường hợp.

Vài phẫu thuật khác đóng vai trò điều trị giảm nhẹ. Ví dụ phẫu thuật đặt ống thông đường mật (stent) khi có tắc mật do ung thư xâm lấn vào ống mật để điều trị vàng da, đặt ống dẫn lưu dịch qua thành bụng để giảm nhẹ báng bụng.

Hóa t rị

Hóa trị là phương pháp sử dụng thuốc chống ung thư để diệt tế bào ung thư hoặc để ngăn chặn chúng tăng trưởng. Hoá trị không thể chữa khỏi ung thư nhưng có thể làm giảm kích thước khối u và nhờ đó làm chậm tiến triển của bệnh.

Nhiều loại thuốc mới đang được nghiên cứu để điều trị ung thư gan. Ví dụ sorafenib là một loại thuốc ức chế kinase đa mục tiêu. Nó cản trở sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Nghiên cứu cho thấy sorafenib có thể có lợi ích cho những bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến triển xa.

Các phương pháp điều trị khác

Một số kỹ thuật điều trị khác đôi khi được sử dụng như:

  • Hủy u bằng chích cồn (percutaneous ethanol injection – PEI). Cồn nguyên chất được chích trực tiếp vào khối u qua da dưới hướng dẫn và định vị của siêu âm. Cồn hủy u bằng cách làm mất nước trong mô, đông protein trong tế bào và  ngừng cung cấp máu nuôi u do phá hủy mạch máu trong u.
  • Hủy u bằng sóng radio (Radiofrequency Ablation – RFA). Bác sĩ chọc kim qua da vào khối u. Sóng radio cường độ cao được được truyền qua kim để làm nóng tế bào ung thư và tiêu diệt chúng.
  • Phương pháp áp lạnh (Cryotherapy). Một dụng cụ nhỏ bằng kim loại chứa nitơ lỏng (cryoprobe) được áp trực tiếp vào khối u. Nhiệt độ cực lạnh của nitơ lỏng giúp tiêu diệt tế bào ung thư.
  • Hoá tắc mạch (TACE). Thuốc hoá trị được trộn với hoá chất dầu sau đó hỗn hợp này được tiêm trực tiếp vào các nhánh động mạch cung cấp máu nuôi khối ung thư. Hóa chất dầu giúp giữ thuốc hóa trị tồn tại trong khối u lâu hơn do đó làm tăng hiệu quả điều trị ung thư.
  • Xạ trị. Sử dụng chùm tia bức xạ năng lượng cao chiếu tập trung vào mô ung thư để tiêu diệt hoặc ngăn chặn sinh trưởng các tế bào ung thư. Xạ trị ít khi được sử dụng cho bệnh ung thư gan nguyên phát ngoại trừ một số trường hợp ung thư đường mật.

Tiên lượng ung thư gan nguyên phát như thế nào?

Nhìn chung ung thư gan nguyên phát có tiên lượng xấu. Người mắc bệnh ung thư gan thường có sức khoẻ kém do xơ gan kèm theo. Chỉ một số ít bệnh nhân có cơ hội điều trị triệt để bằng phẫu thuật cắt bỏ ung thư gan hoặc ghép gan. Khi không còn điều trị triệt để được, các phương pháp khác chỉ có thể làm chậm tiến triển của bệnh.

Điều trị ung thư là một lĩnh vực đang phát triển. Nhiều phương pháp điều trị mới tiếp tục được nghiên cứu và phát triển nên các thông tin trên đây là rất chung chung. Các chuyên gia có thể cung cấp chính xác hơn các thông tin về đặc điểm bệnh lý, điều trị và tiên lượng cụ thể cho trường hợp của bạn.

Tài liệu tham khảo

http://www.patient.co.uk/health/Cancer-of-the-Liver-Primary.htm
http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/data/news/2011/4/8017/chandoangnp.htm
http://phongkhamchuyengan.com/viem-gan-b.htm
http://www.wattpad.com/3101050-ung-th%C6%B0-gan-tr%E1%BA%A7n-v%C4%83n-h%E1%BB%A3p
http://www.radrounds.com/photo/hepatocellular-carcinoma-hcc
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2211568413000892
http://radiology.rsna.org/content/214/3/761/F6.expansion.html
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0720048X12000320
http://globocan.iarc.fr/factsheets/cancers/liver.asp
http://www.intechopen.com/books/liver-tumors-epidemiology-diagnosis-prevention-and-treatment/epidemiology-and-risk-factors



  • error: