Chủ Nhật , 11 Tháng Mười Hai 2016

Viêm Nha Chu

Bài viết thứ 1 trong 3 bài thuộc ebook Một số bệnh răng miệng thường gặp

Viêm nha chu là gì?

Mô nha chu là mô quanh răng hay các mô nâng đỡ răng bao gồm các cấu trúc nâng đỡ răng là mô mềm (nướu răng) và xương nâng đỡ ( xương ổ răng).

Cấu trúc răng và mô quanh răng

Hình 1: Cấu trúc răng và mô quanh răng

“Viêm nha chu” là một từ chuyên môn dùng để chỉ sự viêm nhiễm xung quanh răng hay nói cách khác là một sự nhiễm trùng nướu nghiêm trọng làm phá huỷ các mô nha chu. Hầu hết các bệnh về nha chu trong đó có viêm nha chu là sự nhiễm trùng mô nha chu. Trong viêm nha chu, các cấu trúc xương ổ răng ( xương nâng đỡ quanh răng) từ từ mất đi. Các vi khuẩn bám vào bề mặt răng và ngày càng tăng số lượng dẫn đến đáp ứng của hệ thống miễn dịch biểu thị là tình trạng viêm.

Mảng bám vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra bệnh nha chu. Mảng bám vi khuẩn là một màng có tính keo dính, không màu bao phủ bề mặt răng.

Viêm nha chu không điều trị thường sẽ dẫn đến hậu quả mất răng, mặt khác còn có thể làm tăng nguy cơ bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim hay các bệnh khác gây ảnh hưởng đến sức khoẻ. Trong nha khoa, viêm nha chu đáp ứng tốt nếu có sự phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan tới nướu và mô nha chu. Có 8 chuyên ngành lớn trong nha khoa mà nha chu học là một trong số đó. Trong hầu hết các trường hợp, viêm nha chu là có thể phòng tránh được. Viêm nha chu thường là hậu quả của việc vệ sinh răng miệng kém.

Theo định nghĩa y khoa, “viêm nha chu” nghĩa là:

  • Sự viêm nhiễm các mô nha chu.
  • Một bệnh viêm nhiễm mãn tính của các mô nha chu xảy ra do các mảng bám vi khuẩn bám vào răng, được đặc trưng bởi viêm nướu, phá huỷ cấu trúc xương ổ và các liên kết bám dính quanh răng, tiêu ngót quanh chóp do sự tấn công của các biểu mô do sự hình thành túi nha chu; và hậu quả là lung lay răng và mất răng.

Viêm nha chu và viêm nướu có khác nhau hay không ?

Viêm nướu xuất hiện trước viêm nha chu. Viêm nướu thường liên quan tới sự viêm nướu đơn thuần, trong khi viêm nha chu là một bệnh không chỉ đề cập tới viêm nướu mà còn có sự phá huỷ mô mềm và xương quanh răng. Ban đầu, viêm nướu xuất hiện trước, mảng bám vi khuẩn hình thành, tích tụ trên bề mặt răng, dẫn đến sưng, đỏ và nhiễm trùng nướu và có thể gây chảy máu khi đánh răng. Mặc dù, nướu bị kích thích và rất khó chịu nhưng răng vẫn không bị mất. Mô mềm và xương ổ quanh răng không bị phá huỷ. Khi không được điều trị, viêm nướu có thể tiến triển thành viêm nha chu. Khi đó, nướu và mô xương bị tụt về phía xa so với răng tạo ra một túi lớn gọi là túi nha chu. Các mảnh vụn thức ăn tích tụ trong khoảng trống giữa răng và nướu và gây ra sự nhiễm trùng ở đó. Hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ tấn công các vi khuẩn hay mảng bám dọc theo đường viền nướu. Xương và các mô liên kết giúp giữ răng trong xương bắt đầu bị ảnh hưởng và bị phá huỷ do độc tố vi khuẩn. Dần dần, răng bị lung lay cho đến lúc có thể bị rơi ra khỏi xương ổ răng.

viêm nha chu 1 viêm nha chu 1

Hình 2 và hình 3:  Hình ảnh túi nha chu trong viêm nha chu

Nói 1 cách đơn giản, viêm nha chu là một sự phá huỷ không hoàn nguyên các cấu trúc nâng đỡ răng trong khi viêm nướu thì không.

Dấu hiệu và triệu chứng của viêm nha chu

Dấu hiệu là những điều mà ta tự cảm thấy được và nói cho bác sĩ biết trong khi triệu chứng thường được bác sĩ phát hiện ra. Ví dụ: đau là dấu hiệu trong khi viêm, đỏ là các triệu chứng. Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm nha chu bao gồm:

  • Viêm (sưng) nướu, nướu có thể bị sưng tấy tái phát nhiều lần.
  • Nướu màu đỏ tươi, thỉnh thoảng có thể màu tím.
  • Đau khi chạm nướu.
  • Nướu bị tụt làm cho răng nhìn có vẻ dài hơn bình thường.
  • Xuất hiện khoảng trống lớn giữa các răng.
  • Có thể có mủ chảy ra giữa răng và nướu.
  • Chảy máu khi đánh răng.
  • Chảy máu khi dùng chỉ nha khoa.
  • Miệng có vị kim loại.
  • Hôi miệng.
  • Mất răng.
  • Cảm giác khác nhau giữa các răng khi cắn lại.

Nguyên nhân của viêm nha chu là gì?

Mảng bám hình thành trên răng, đây là một màng vàng nhạt thường tồn tại trên răng. Nó được tạo ra do các vi khuẩn tìm cách bám dính vào bề mặt bị mềm. Chải răng có thể làm sạch các mảng bám nhưng chúng sẽ nhanh chóng xuất hiện lại trong 1 ngày hoặc nhanh hơn. Nếu không được làm sạch khỏi bề mặt răng, sau 2 hoặc 3 ngày, các mảng bám trở nên cứng dần trở răng vôi răng. Vôi răng hay còn gọi là cao răng thường rất khó làm sạch so với mảng bám và thường cần được thực hiện bởi nha sĩ vì bạn không thể tự làm sạch vôi răng. Mảng bám phát triển dần dần, phá huỷ răng và mô nha chu. Ban đầu, bệnh nhân có thể bị viêm nướu nặng. Tình trạng viêm nướu kéo dài có thể tạo ra các túi giữa nướu và răng. Vi khuẩn xâm nhập các túi này và tiết ra độc tố. Cơ thể sẽ tạo ra đáp ứng miễn dịch kéo theo sự phát phá huỷ xương và mô liên kết giúp giữ răng chắc, làm cho răng lung lay và có thể rơi ra ngoài.

Yếu tố nguy cơ dẫn đến viêm nha chu

Yếu tố nguy cơ là những yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh. Ví dụ, béo phì là yếu tố nguy cơ đối với bệnh tiểu đường loại 2. Nghĩa là những người bị béo phì dễ mắc bệnh tiểu đường hơn người khoẻ mạnh bình thường. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến viêm nha chu gồm:

  • Hút thuốc – người hút thuốc lá có vẻ dễ bị viêm nướu hơn. Hút thuốc còn làm giảm hiệu quả điều trị bệnh.
  • Thay đổi hóoc môn ở nữ – ở tuổi dậy thì hay thời kì mang thang và cho con bú là nhưng thời điểm mà hóoc môn của phụ nữ thay đổi. Sự thay đổi này làm tăng nguy cơ viêm nướu ở nữ giới.
  • Tiểu đường – bệnh nhân tiểu đường có tỉ lê viêm nướu cao hơn người cùng độ tuổi.
  • AIDS – người bị AIDS thường mắc nhiều bệnh về nướu.
  • Ung thư – ung thư và các phương pháp điều trị ung thư có thể gây ra bệnh về nướu.
  • Thuốc – một số loại thuốc gây tác dụng phụ làm giảm nước bọt sẽ gây tăng nguy cơ bị viêm nướu.
  • Di truyền – một số người nhạy cảm hơn về mặt di truyền đối với bệnh về nướu.

Chẩn đoán viêm nha chu

Một nha sĩ tốt phải nhận biết và chẩn đoán được viêm nha chu. Nha sĩ sẽ hỏi các bệnh nhân về những dấu hiệu và phát hiện được các triệu cứng trong khi khám răng miệng cho bệnh nhân. Nha sĩ dùng một dụng cụ gọi là thám trâm, cây đo túi để khám.

Dụng cụ thâm khám

Hình 4: Dụng cụ thâm khám

Các phương pháp điều trị bệnh nha chu?

Mục tiêu chính của các các nha sĩ khi điều trị viêm nha chu là làm sạch vi khuẩn trong các túi nha chu quanh răng và phòng chống sự phá huỷ xương và mô. Để đạt hiệu quả tốt nhất khi điêu trị, bệnh nhân cần phải hợp tác tốt với nha sĩ và đảm bảo việc chăm sóc vệ sinh răng miệng tốt. Điều này gồm chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày và sử dụng chỉ nha khoa ít nhất 1 lần/ ngày. Nếu đã có các khe hở giữa các răng, bệnh nhân cần sử dụng một loại bàn chải đặc biệt gọi là bàn chải kẽ răng để làm sạch các khe này. Sử dụng tăm mềm nếu khe hở nhỏ. Đối với các bậnh nhân bị viêm khớp hoặc có vấn đề đặc biệt có thể dùng bàn chải điện để làm sạch tốt hơn. Điều quan trọng là bệnh nhân cần hiểu rằng viêm nha chu là 1 bệnh mãn tính. Do đó việc vệ sinh răng miệng tốt cần duy trì suốt đời. Đồng thời bệnh nhân nên khám răng định kỳ đều đặn.

Điều trị cơ bản ban đầu

Làm sạch mảng bám và vôi răng là điều tối cần thiết để phục hồi sức khoẻ nha chu. Đây là một điều trị quan trọng và cơ bản nhất luôn được thực hiện để điểu trị các bệnh viêm nha chu. Bác sỹ nha khoa sẽ dùng dụng cụ siêu âm để cạo sạch vôi răng mảng bám.

Các thuốc chỉ định cho bệnh viêm nha chu

  • Thuốc súc miệng kháng khuẩn được chỉ định (ví dụ: chlorhexidine) giúp kiểm soát vi khuẩn khi điều trị viêm nướu cũng như khi phẫu thuật. Sử dụng tương tự nước súc miệng hàng ngày.
  • Chip kháng khuẩn – một mảnh nhỏ gelatin được tẩm đầy chlorhexidine đặt trong túi nha chu để làm giảm kích thước túi nha khoa. Chlorhexidine trong chip sẽ được giải phóng từ từ theo thời gian.
  • Gel kháng sinh – một loại gel chứa doxycycline được chỉ định để kiểm soát vi khuẩn. Nó được bơm vào trong túi nha chu sau khi làm sạch vôi răng.
  • Kháng sinh siêu nhỏ – các hạt rất nhỏ chứa minocycline được đặt vào túi nha chu sau khi làm sạch vôi răng để kiểm soát vi khuẩn và làm giảm kích thước túi.
  • Thuốc ức chế enzyme – kiểm soát các enzyme phá huỷ bằng một liều thấp doxycycline. Sử dụng dạng uống kết hợp với cạo vôi và làm sạch bề mặt chân răng.
  • Thuốc kháng sinh dạng uống – chỉ định uống hàng ngày trong một thời gian ngắn đối với tình trạng viêm cấp hay viêm tại chỗ.

Viêm nha chu nặng

Nếu vệ sinh răng miệng tốt và các phương pháp không phẫu thuật đã được thực hiện nhưng bệnh nhân không có tiến triển tốt, có thể cần thực hiện các phương pháp phẫu thuật.

  • Phẫu thuật lật vạt – để xử lý và làm sạch vôi răng dễ dàng đối với các túi nha chu sâu. Nướu được mở lên, bộc lộ vùng cần làm sạch trong khi đó phương pháp thông thường không thể đạt tới được. Sau đó, nướu được trả lại vị trí cũ. Khi nướu lành thương sẽ bám chặt quanh răng.
  • Phẫu thuật ghép mô và xương – đầy là phương pháp giúp tái tạo phần mô và xương bị phá huỷ.

Các chuyên gia cho biết hiệu quả của ghép mô xương là rất khó đoán và khác nhau trong từng trường hợp. Hiệu quả điều trị phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh và sự hợp tác chặt chẽ trong việc đảm bảo vệ sinh răng miệng của bệnh nhân cũng như một số yếu tố khác ( tình trạng hút thuốc lá).

Biến chứng của viêm nha chu​

Biến chứng thường gặp nhất của viêm nha chu là mất răng. Tuy nhiên, bệnh nhân viêm nha chu còn có nguy cơ dễ mắc các vấn đề về hô hấp, đột quỵ, bệnh mạch vành, và sinh nhẹ cân. Phụ nữ có thai bị nhiễm khuẩn do mắc bệnh nha chu (trung bình – nặng) có thể dẫn đến sinh con thiếu tháng. Bệnh nhân tiểu đường mắc bệnh viêm nha chu cũng khó kiểm soát lượng đường hơn.

Tài liệu tham khảo

http://http://www.medicalnewstoday.com/articles/242321.php



  • error: