Thứ Sáu , 9 Tháng Mười Hai 2016

Xét nghiệm chức năng gan

Bài viết thứ 26 trong 34 bài thuộc ebook Các loại xét nghiệm

Xét nghiệm chức năng gan là xét nghiệm đo các hóa chất khác nhau trong máu do gan sản xuất ra. Một kết quả bất thường cho thấy gan có vấn đề, và có thể giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm khác có thể cần thiết để làm rõ nguyên nhân của vấn đề ở gan.

Gan làm những việc gì?

Xét nghiệm chức năng gan

Gan nằm ở bụng trên bên phải. Gan có nhiều chức năng bao gồm:

  • Dự trữ glycogen (được xem là nhiên liệu cho cơ thể), glycogen được làm từ các loại đường. Khi cần thiết, gan lại phân ly glycogen thành glucose đưa vào máu.
  • Chuyển hoá chất béo và chất đạm (protein) từ thức ăn.
  • Sản xuất protein cần thiết cho quá trình đông máu (các yếu tố đông máu).
  • Chuyển hoá và / hoặc loại bỏ rượu, nhiều loại thuốc, chất độc và các độc tố  khỏi cơ thể.
  • Gan cũng tiết ra mật. Đây là một chất lỏng màu vàng xanh có chứa acid mật, sắc tố mật và các sản phẩm chất thải như bilirubin. Mật được tiết ra từ tế bào gan và đổ vào các ống dẫn mật nhỏ. Các ống mật nhỏ hợp nhau thành ống mật lớn hơn và cuối cùng đổ vào ống mật chủ. Dịch mật từ ống mật chủ đổ vào tá tràng (đoạn ruột đầu tiên tiếp sau dạ dày) qua một lỗ mở gọi là nhú tá tràng. Túi mật nằm dưới gan bên phải của vùng bụng trên. Túi mật là nơi cô đặc và dự trữ dịch mật giữa các bữa ăn. Khi bạn ăn, túi mật co bóp để đẩy dịch mật qua ống túi mật vào ống mật chủ qua đó xuống tá tràng để giúp hoà tan và hấp thu chất béo trong thức ăn.

Xét nghiệm chức năng gan là gì?

Khi gan thực hiện các chức năng khác nhau của nó, nó làm cho hóa chất đi vào máu và mật. Các rối loạn chức năng gan khác nhau làm thay đổi nồng độ trong máu của các hóa chất này. Một số các hóa chất này có thể được đo trong máu. Một số xét nghiệm máu thường được thực hiện được gọi là xét nghiệm chức năng gan. Những chất thường được đo trong xét nghiệm chức năng gan bao gồm:

  • Alanine transaminase (ALT) . Đây là một enzyme giúp phân giải protein. (Enzyme là một protein giúp tăng tốc độ phản ứng hóa học. Có nhiều enzym khác nhau trong các tế bào của cơ thể). Một lượng lớn ALT có trong các tế bào gan. Khi gan bị tổn thương hoặc viêm (như trong viêm gan), nồng độ ALT máu thường tăng.
  • Aspartate aminotransferase (AST) . Đây là một enzyme thường được tìm thấy trong các tế bào gan. Khi xét nghiệm máu phát hiện nồng độ cao của enzyme này trong máu nó thường có nghĩa là gan bị tổn thương theo một cách nào đó. Tuy nhiên AST cũng có thể được phóng thích nếu tim hoặc cơ xương bị tổn thương. Vì lý do này ALT là thường được xem là đặc hiệu hơn cho gan.
  • Alkaline phosphatase (ALP) . Enzyme này có chủ yếu ở tế bào gan bên cạnh ống mật và trong xương. Nồng độ ALP máu cao trong một số loại bệnh ở gan và xương.
  • Albumin . Đây là protein chính được sản xuất bởi gan, và nó lưu thông trong máu. Khả năng sản xuất albumin (và các protein khác) giảm trong một số rối loạn chuyển hoá gan.
  • Tổng lượng protein . Xét nghiệm này đo lường albumin và tất cả các protein khác trong máu.
  • Bilirubin . Hóa chất này làm cho mật có màu vàng xanh. Nồng độ cao của bilirubin trong máu sẽ làm cho bạn vàng da. Bilirubin được làm từ huyết sắc tố (hemoglobin). Huyết sắc tố là một hóa chất trong các tế bào hồng cầu được phóng thích khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ. Các tế bào gan lấy bilirubin và gắn các phân tử đường với nó. Điều này sau đó được gọi là bilirubin ‘liên hợp’ được đi vào ống dẫn mật.
  • Nồng độ trong máu của bilirubin ‘liên hợp’ tăng xảy ra nhiều ở bệnh gan và ống mật chủ. Nó đặc biệt cao nếu có tắc mật. Ví dụ, do sỏi bị mắc kẹt trong ống mật chủ, hoặc bởi một khối u trong tuyến tụy. Nó cũng có thể cao trong bệnh viêm gan, tổn thương gan, hoặc nghiện rượu lâu dài.
  • Nồng độ bilirubin tự do trong máu tăng xảy ra khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ quá mức – ví dụ, trong thiếu máu tán huyết.

Giá trị bình thường của xét nghiệm chức năng gan thường có thể khác nhau giữa các phòng thí nghiệm khác nhau, vì vậy nó không phải là luôn luôn có thể so sánh kết quả trực tiếp nếu họ đã được thực hiện tại các nơi khác nhau. Ngoài ra, giá trị bình thường của các xét nghiệm gan cũng thường khác nhau cho nam và nữ.

Xét nghiệm chức năng gan được sử dụng để làm gì?

  • Để giúp chẩn đoán các rối loạn chức năng gan nếu bạn có những triệu chứng có thể là do bệnh gan (chẳng hạn như bệnh vàng da). Kết quả máu có thể giúp để chẩn đoán rối loạn nào gây ra vấn đề ở gan. Ví dụ, tùy thuộc vào enzyme nào là cao nhất, nó có thể hướng đến một rối loạn đặc biệt.
  • Theo dõi hoạt động và mức độ nghiêm trọng của các rối loạn chức năng gan.
  • Để phòng ngừa thường quy sau khi bắt đầu sử dụng một số loại thuốc, để kiểm tra xem chúng không gây tác dụng phụ làm tổn thương gan hay không.
  • Để tầm soát bệnh gan tiềm ẩn (ví dụ, ở người nghiện rượu hoặc viêm gan siêu vi).

Các xét nghiệm khác của gan

Xét nghiệm chức năng gan là hữu ích, và thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh gan. Tuy nhiên, các xét nghiệm khác của gan cũng có thể được thực hiện để xác định chẩn đoán của một rối loạn đặc biệt, và / hoặc theo dõi diễn biến của các rối loạn và đáp ứng điều trị.

Xét nghiệm máu khác có thể được thực hiện bao gồm:

  • Xét nghiệm máu đông . Gan sản xuất protein cần thiết cho quá trình đông máu (các yếu tố đông máu). Gan bị rối loạn chức năng không thể sản xuất đầy đủ các loại protein và do đó quá trình đông máu chậm lại. Vì vậy, kiểm tra đông máu có thể được sử dụng như một dấu hiệu đánh giá mức độ nghiêm trọng của các rối loạn chức năng gan nhất định.
  • Gamma- glutamyltransferase (GGT hoặc ‘gamma GT’) . Đây là một enzyme có trong các tế bào gan. Một nồng độ cao của enzyme này đặc biệt liên quan đến nghiện rượu nặng. (Gan phân giải và đào thải rượu khỏi cơ thể và GTT tham gia vào quá trình này).
  • Miễn dịch học . Có thể được thực hiện để phát hiện:
    • Vi rút và kháng thể kháng virus. Nhiễm virus khác nhau có thể gây ra bệnh viêm gan – ví dụ, virus viêm gan A, virus viêm gan B, vv…
    • Tự kháng thể. Là những kháng thể tấn công một phần của cơ thể bạn và xảy ra khi có các rối loạn tự miễn. Các rối loạn tự miễn phổ biến nhất của gan là:
  • Xơ gan mật nguyên phát (kết hợp với kháng thể kháng ty thể).
  • Viêm gan tự miễn (kết hợp với kháng thể cơ trơn).
  • Viêm xơ đường mật nguyên phát (kết hợp với kháng thể kháng nhân tế bào chất).
  • Các loại protein trong máu có thể hướng đến các bệnh gan cụ thể – ví dụ:
    • Ceruloplasmin giảm trong bệnh Wilson.
    • Thiếu anpha1-antitrypsin là một nguyên nhân phổ biến của xơ gan.
    • Nồng độ cao của ferritin là một dấu hiệu của bệnh quá tải sắt (haemochromatosis).
  • Các xét nghiệm khác như sinh thiết gan, siêu âm, chụp CT, MRI, vv,…có thể cần thiết để làm rõ nguyên nhân gây ra rối loạn gan, và / hoặc theo dõi tiến trình của nó.

Lưu ý: Xét nghiệm chức năng gan bình thường không phải lúc nào cũng loại trừ được bệnh gan.

Tài liệu tham khảo:

http://www.patient.co.uk/health/liver-function-tests
http://sinhvienykhoa115.wordpress.com/2012/05/15/chuyen-de-tuan-2-benh-qua-tai-sat/
http://www.benh.vn/Can-lam-sang/11.htm



  • error: