Thông tin dinh dưỡng chung – Y Học Cộng đồng https://yhoccongdong.com Dự án “Y Học cùng cộng đồng” phổ biến những kiến thức khoa học và thường thức về y học cho cộng đồng Việt Nam Wed, 14 Feb 2018 12:29:19 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.9.4 Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe https://yhoccongdong.com/thongtin/14927/ Sun, 21 Jan 2018 10:10:05 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14927 hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

Nói tới thực phẩm chức năng, chúng ta nghĩ rằng đó là loại thực phẩm “nếu sử dụng sẽ có lợi cho sức khỏe”. Các loại thực phẩm chức năng rất dễ nhầm lẫn với thuốc y tế

Bài viết Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 

 Ở Việt Nam nhiều người đang dùng SAI từ “Thực phẩm chức năng” để chỉ cho nhiều thứ thật ra chưa được chứng minh “chức năng” gì. Y học cộng đồng xin giới thiệu bản dịch bài viết cùng tên của bà Umegaki Keizo, Trưởng trung tâm thông tin thuộc Viện nghiên cứu Sức khỏe và Dinh dưỡng Nhật Bản.

hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 Phân loại thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 Hàng ngày, những gì chúng ta ăn uống vào cơ thể được chia ra làm 2 loại: Thực phẩm và Dược phẩm. Thực phẩm chức năng thuộc vào nhóm thực phẩm (Hình 1).

 Các thực phẩm liên quan tới sức khỏe được chia làm 2 nhóm. Một nhóm là thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe, được chính phủ cho phép ghi rõ chức năng, được gọi là Thực phẩm có tác dụng đặc định đối với sức khỏe và thực phẩm có chức năng dinh dưỡng. Nhóm kia là các loại thực phẩm không được phép ghi chức năng, nhưng trong dân gian lại hay bị gọi thành “thực phẩm chức năng”. Việc ghi rõ thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe do Luật tăng cường sức khỏe quy định. Trong khi đó, “Cái được gọi là thực phẩm chức năng” gồm có các loại thực phẩm bổ sung, thực phẩm hỗ trợ dinh dưỡng, thực phẩm hỗ trợ sức khỏe, thực phẩm thiên nhiên… Những loại thực phẩm này không có định nghĩa mang tính pháp lý.

Hình 1. Phân loại Thực phẩm và Dược phẩm ở Nhật Bản.

 Những loại thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe được chỉ định là những sản phẩm được nhà nước xác định là có tác dụng và an toàn đối với con người và cho phép ghi rõ trên nhãn. Đối với loại thực phẩm có chức năng dinh dưỡng, những loại vitamin và khoáng chất đã từ lâu được công nhận về tác dụng và độ an toàn đối với con người thì nếu đáp ứng được quy định của chính phủ về hàm lượng có trong sản phẩm đó thì được phép ghi chức năng dinh dưỡng trên nhãn. Những sản phẩm nói trên cũng chỉ là một trong những mặt hàng thực phẩm, KHÔNG ĐƯỢC GHI “có tác dụng “trị bệnh” hoặc “điều trị” như thuốc y tế.

 “Cái hay được gọi là thực phẩm chức năng” cũng không được ghi những chức năng về sức khỏe và dinh dưỡng trên nhãn. Trong trường hợp này, nhà sản xuất và phân phối hay tìm cách phổ biến “Câu chuyện của người đã sử dụng” để quảng bá cho tác dụng của sản phẩm.

 Trong những sản phẩm được phân loại thành “cái gọi là thực phẩm chức năng” có những sản phẩm được ca ngợi là có tác dụng điều trị bệnh tật giống như thuốc, hoặc có thêm thành phần dược phẩm một cách bất hợp pháp. Những mặt hàng này, nếu bị các cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện ra, sẽ bị công bố và liệt vào danh sách những “thuốc y tế không được công nhận và không có giấy phép”.

Thực phẩm chức năng khác với thuốc y tế như thế nào

 Các loại thực phẩm chức năng được chế tạo dưới dạng viên hoặc viên nang rất dễ nhầm lẫn với thuốc y tế nhưng đây là hai hai mặt hàng hoàn toàn khác nhau. Đó là sự khác nhau về chất lượng sản phẩm (hàm lượng chất có hiệu lực, và có chất gây hại hay không), tính hiệu quả và an toàn có cơ sở khoa học cụ thể hay không (chứng cớ về khả năng điều trị bệnh) và môi trường sử dụng (có cơ cấu hỗ trợ mang tính chuyên môn hay không).

 Để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả, điều quan trọng là trong sản phẩm đó phải có “một lượng nhất định” những thành phần có hiệu quả và không có thành phần gây hại”. Tất cả các loại thuốc y tế đều được chế tạo dựa trên quy định về GMP (Good Manufacturing Practice) – “Quy định Sản xuất Tốt”, để đảm bảo có được sản phẩm có chất lượng ổn định. Nhưng hiện nay, phần lớn các thực phẩm chức năng không được chế tạo dựa trên tiêu chuẩn GMP này. Cũng có người nhầm lẫn giữa thuốc Bắc (Kampoyaku) và thực phẩm chức năng. Mặc dù cùng sử dụng cùng thành phần thực vật, nhưng thuốc Bắc tại Nhật Bản là thuốc y tế được đảm bảo về chất lượng.

 Cũng có những loại thực phẩm chức năng được quảng cáo là “có sử dụng thành phần thuốc y tế”. Nhưng thực ra, hàm lượng của thành phần của chất được ghi trên nhãn có trong sản phẩm đó ít đến mức không thể hy vọng là có tác dụng được. Cách sử dụng cũng như mục đích sử dụng cũng khác với thuốc y tế. Ví dụ: Gluosamine hydrochloride, một chất được cho là có tác dụng tốt trên khớp, thật ra đang được dùng trong một số thuốc y tế thông dụng (mua không cần đơn) nhóm 3 theo kiểu làm “phụ gia” chứ không phải vì là thành phần mang hiệu lực. Hoặc Hyaluronic acid được sử dụng để làm thuốc cải thiện chức năng của khớp chẳng hạn. Acid này chỉ có tác dụng khi ở dạng sản phẩm sau tinh chế với độ thuần khiết cao và được các cơ sở y tế dùng để tiêm vào khớp chứ không phải dùng qua đường uống.

 Khác với các loại thực phẩm chức năng, các loại dược phẩm đã được nghiên cứu và kiểm tra độ an toàn và tính hiệu quả trong việc chữa bệnh cho người và được các bác sĩ, dược sĩ tham gia tư vấn để đảm bảo cho người sử dụng an toàn và có hiệu quả. Ngoài ra, đối với những loại dược phẩm được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp phép lưu hành chính thức trong nước (Nhật Bản), nếu xảy ra hậu quả nghiêm trọng liên quan tới sức khỏe người tiêu dùng thì Nhà nước sẽ có chế độ cứu trợ tác dụng ngoại ý để hỗ trợ. Ngược lại, các thực phẩm chức năng thì không có chế độ này.

Những vấn đề của thực phẩm chức năng

 Nói tới thực phẩm chức năng, chúng ta thường mường tượng rằng đó là loại thực phẩm mà “nếu sử dụng sẽ có lợi cho sức khỏe”. Tuy nhiên, có loại thực phẩm được kiểm chứng rõ ràng về tính an toàn và hiệu quả sử dụng, nhưng cũng có loại hoàn toàn không được đánh giá gì. Ngoài ra, cũng có loại thêm vào thành phần thuốc y tế một cách bất hợp pháp.

 Về tác hại của thực phẩm chức năng, người ta chia thành “tác hại kinh tế” do mua và sử dụng loại hàng đắt tiền và “tác hại sức khỏe”. Nhìn chung, loại liên quan tới tác hại sức khỏe thường là các sản phẩm dạng viên hoặc viên nang. Lý do là vì các sản phẩm dạng viên và viên nang dễ bị nhầm với dược phẩm và dễ bị sử dụng để “chữa bệnh”. Hơn nữa, vì nồng độ/hàm lượng của một số chất nhất định có thể cao hơn trong các sản phẩm này, so với thức ăn hàng ngày, thực phẩm chức năng có thể ảnh hưởng lên cơ thể mạnh hơn và do vậy dễ có những tác dụng không mong muốn. Ngoài ra, những sản phẩm đắt tiền và hiếm thường có xu hướng gây hiểu nhầm là có thể kỳ vọng vào tác dụng chữa bệnh.

 Thực phẩm chức năng cũng có thể ảnh hưởng lên sức khỏe do sử dụng sản phẩm kém chất lượng, dùng quá nhiều, dùng ở người bị dị ứng/mẫn cảm hoặc tương tác với thuốc y tế. Cách nghĩ “Thực phẩm chức năng là thực phẩm nên có uống nhiều thì cũng không có vấn đề gì” sẽ dẫn tới việc tự ý sử dụng quá nhiều khi thấy không có hiệu quả, cũng là một đặc điểm rất cần lưu ý.

 Vì có quá nhiều loại thực phẩm chức năng, và người tiêu dùng tự phán đoán sử dụng chúng, nên hiện các cơ quan hữu trách của Nhật Bản không thể nắm bắt được chính xác hiện trạng cụ thể về tác hại lên sức khỏe của thực phẩm chức năng. Theo một cuộc khảo sát do Cục Bảo vệ Sức khỏe và Phúc lợi Tokyo, có khoảng 4% số người sử dụng thực phẩm chức năng cho biết cơ thể có vấn đề, đa phần là tiêu chảy, đau bụng, những triệu chứng dị ứng như phát ban, mẩn ngứa… Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết chức năng gan đã bị ảnh hưởng ở một số người.

 Một trong những ví dụ về tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe là việc dùng thực phẩm chức năng cùng với thuốc y tế, đặc biệt là ở những người đang bị ốm. Khi cơ thể đang yếu, bệnh nhân dễ bị ảnh hưởng xấu bởi những thành phần hấp thụ thêm. Trong trường hợp này, khi dùng chung với thuốc y tế, thì hiệu quả thuốc có thể bị giảm, và dễ gặp tác dụng phụ/ngoại ý hơn. Ví dụ: đối với người sử dụng thuốc chống đông máu Warfarin, nếu uống loại nước Aojiru, một loại thực phẩm chức năng có nhiều Vitamin K hoặc ăn natto (một loại đậu tương luộc chín lên men) thì chúng sẽ tương tác nhau làm giảm hiệu quả của warfarin, tăng nguy cơ bị tắc mạch máu (hiện tượng huyết khối).

 Vì vậy, ngay cả những chất mà chúng ta thu nạp hàng ngày từ thực phẩm, như vitamin hoặc khoáng chất, nếu được cô đặc thành chế phẩm thì có thể dẫn tới tương tác thuốc khi sử dụng cùng với thuốc y tế. Hiện nay, hầu như rất khó nắm bắt và dự đoán được khả năng tương tác chéo giữa thực phẩm chức năng và thuốc y tế. Lý do là vì không có số liệu chính xác về lượng và độ tinh khiết của những nguyên liệu đang sử dụng trong các loại thực phẩm này. Hơn nữa, người tiêu dùng thường tự quyết định sử dụng những sản phẩm chưa rõ thành phần, liều lượng và ảnh hưởng lên sức khỏe con người, nên cũng không thể phán đoán được có xảy ra tương tác thuốc hay không.

Những cách quảng cáo liên quan tới thực phẩm chức năng cần lưu ý

 Thực phẩm chức năng thường được chào bán với những câu văn hấp dẫn như: “Người nổi tiếng cũng sử dụng”, “Có những hóa chất hiếm”, “Đã trị được bệnh”, “Đã có bằng sáng chế”, “Đã được giải thưởng…”. Những câu văn như trên không đảm bảo cho tính hiệu quả, an toàn của sản phẩm. Thực phẩm chức năng, dù gì cũng chỉ là thực phẩm nên chúng ta cần phải cẩn thận với loại câu như “Đã trị được bệnh”. Cho tới thời điểm này, chưa có chứng cớ nào rõ ràng cho thấy thực phẩm chức năng đã trị được bệnh. Bảng dưới đây tổng hợp những loại câu nói phổ biến thường quảng cáo kèm các loại thực phẩm chức năng và các điểm lưu ý.

1

“Có hiệu quả ngay”, “Vạn năng”, “Cao nhất”, “Kỳ diệu”, “Đáng ngạc nhiên” Cần lưu ý tới những luận điệu tạo cảm giác kỳ vọng vào những điều kỳ diệu

2

“Thiên nhiên, tự nhiên”, “Hãy yên tâm vì đây là thực phẩm”, “An toàn với phụ nữ có mang và trẻ em” Các loại câu văn gây ấn tượng về tính an toàn. Trong những chất tự thiên, thiên nhiên cũng có nhiều chất độc. Ngay cả những chất đã biết rõ, trường hợp dùng quá nhiều cũng có khả năng gây hại. Không có thực phẩm chức năng nào đã được kiểm định là an toàn trên phụ nữ có thai và trẻ em.

3

“Có thành phần bí mật”, “Thành phần hiếm có”, “Chất có bản quyền” Những câu trên không có liên quan gì tới công hiệu mà các bạn mong đợi. Dù có là chất có bản quyền thì cũng không liên quan gì tới công hiệu cả.

4

“Được cho là có tác dụng với xxx”. “Có thành phần hiệu lực xxx” Cách nói mang tính truyền miệng thường không minh bạch. Dù có thành phần hiệu lực nhưng với hàm lượng thấp thì cũng không thể có công hiệu như mong đợi.

5

“Đã chữa được bệnh xxx” Những loại thực phẩm chức năng mà ai cũng có thể mua được thì không thể nào có tác dụng đủ mạnh để chữa bệnh. Ngoài ra, không có báo cáo nào nói về việc kiểm chứng tác dụng chữa bệnh trên người của các thực phẩm đó.

6

“Liệu pháp cổ truyền”, “Có chuyên gia công nhận”, “Có câu chuyện thực tế” Đây là những thông tin thu được trong những điều kiện đặc biệt và không chứng minh hiệu lực một cách khách quan. Cũng có khả năng bệnh khỏi là do tác dụng chính của thuốc điều trị mà người ta không nhắc tới. Câu chuyện trải nghiệm của một số người không có chứng cớ rõ ràng, và cũng đã có trường hợp là bịa đặt.

7

Được chính phủ (Bộ Y tế-Lao động-Phúc lợi hoặc Cục Bảo vệ Người tiêu dùng) chứng nhận Trừ những loại thực phẩm tốt cho sức khỏe được cấp phép, chính phủ không kiểm tra tính an toàn, hiệu lực của sản phẩm và KHÔNG chứng nhận bất cứ loại thực phẩm chức năng nào.

Bảng 2. Những cách nói hay được dùng để quảng cáo “thực phẩm chức năng”.

 Theo kết quả của một cuộc khảo sát, người sử dụng thực phẩm chức năng thường có xu hướng nghĩ rằng “Sản phẩm có đắt đi chăng nữa thì cũng nên ghi rõ tác dụng”. Tuy nhiên hiện nay, ngoài các loại vitamin và chất khoáng, chưa có hóa chất nào có chứng cớ đầy đủ về tác dụng trên cơ thể người để có thể ghi trên nhãn mác. Mặt khác, giả sử có tác dụng đi chăng nữa thì cũng có nghĩa rằng chúng có thể gây ra tác dụng không mong muốn. Những sản phẩm chỉ nhấn mạnh tới tác dụng mà không đề cập tới những tác hại tiềm ẩn thì không thể nói là những sản phẩm đáng tin. Ngay cả với những sản phẩm tốt thì cũng không phải là an toàn đối với tất cả mọi người. Tùy người, tùy cách sử dụng mà ảnh hưởng xấu vẫn có thể xảy ra.

Mua hàng qua mạng internet

 Mạng internet phổ biến đã khiến việc mua bán các loại thực phẩm chức năng cả trong và ngoài nước trở nên dễ dàng. Mua hàng qua mạng rất tiện lợi nhưng cũng có điểm bất lợi là “Không thể tự tay cầm hàng lên xem”, “Không xác nhận được tất cả mọi chi tiết ghi trên nhãn hàng”, “Không trực tiếp hỏi được về sản phẩm”… nên không thể xác nhận đầy đủ về sản phẩm trước khi mua. Hơn một nửa thực phẩm chức năng bị công bố là vi phạm pháp luật đã và đang được mua bán qua mạng.

 Do các cơ quan chức năng không đủ sức để điều tra toàn diện việc bán hàng qua mạng nên vẫn có những sản phẩm được bán ra với quảng cáo quá tay. Ví dụ, “Sản phẩm có thể tăng chiều cao thêm 10 cm dù đã qua độ tuổi trưởng thành!” là những chuyện hoàn toàn không thể có nhưng vẫn được quảng cáo. Đối với những sản phẩm có cơ sở sản xuất và chất lượng rõ ràng, đã được bản thân sử dụng nhiều lần thì việc tiếp tục mua trên mạng internet khá tiện lợi. Tuy nhiên, việc mua qua mạng những sản phẩm không biết rõ, không thể xác nhận chi tiết thì thật không phải là cách thông minh.

Cách sử dụng phù hợp

Điểm cơ bản của việc nâng cao sức khỏe là “Ăn uống cân bằng về dinh dưỡng, tập luyện phù hợp và nghỉ ngơi”. Người khỏe mạnh ai cũng có thể hiểu được rằng các thực phẩm chức năng sẽ không có tác dụng như thuốc y tế. Mặc dù thực phẩm chức năng không thể chữa được bệnh, nhưng cũng có người lo lắng cho sức khỏe của mình, hoặc bị ốm đau và muốn dùng thử những thực phẩm này. Hơn nữa, người thân, bạn bè, người quen biết lo lắng cho mình và cũng giới thiệu thì hẳn lại càng muốn sử dụng thử xem sao. Trước hết, điều quan trọng là phải bình tĩnh nghĩ xem liệu mình có “thực sự cần loại thực phẩm chức năng” đó hay không. Tuy nhiên nếu bạn vẫn muốn sử dụng thì cần lưu ý mấy điểm như sau:

  1. Trước khi sử dụng

 Trước hết, hãy lựa chọn sản phẩm có hình dạng, liều lượng, mùi, vị tương tự với thực phẩm tự nhiên chứ đừng lựa chọn những sản phẩm dễ sử dụng quá liều/nhiều như loại dạng viên hoặc viên nang. Đừng dựa vào những câu văn hấp dẫn trong quảng cáo hoặc dựa vào kinh nghiệm của những người đã từng sử dụng, mà cần phải TỰ MÌNH TÌM HIỂU về tính an toàn, công hiệu của những thành phần có trong sản phẩm đó. Chúng ta nên biết rằng những thông tin mà bạn bè, người quen cung cấp, phần lớn đều do người bán hàng cung cấp. Chúng ta hãy xác nhận xem, sản phẩm đó có nhãn GMP (hình 2) đảm bảo về chất lượng sản phẩm, lượng hóa chất có trong sản phẩm hoặc địa chỉ nhà sản xuất để liên lạc khi cần thiết… hay không.

  1. Khi sử dụng

 Luôn nhớ rằng đó là một loại thực phẩm và được sử dụng với vai trò hỗ trợ. Dùng thực phẩm chức năng cần kèm theo nỗ lực để làm sao cải thiện thói quen cuộc sống (ví dụ xem lại việc thay đổi chế độ ăn uống, tập thói quen vận động…). Không sử dụng nhiều loại thực phẩm chức năng dưới dạng viên hoặc viên nang cùng một lúc và không nên mong đợi các loại thực phẩm đó có tác dụng như thuốc y tế. Tránh dùng chung với thuốc y tế. Trường hợp muốn dùng chung, nên hỏi ý kiến của các nhà chuyên môn như bác sĩ, dược sĩ. Cần ghi lại quá trình sử dụng (tham khảo bảng 3) để biết rõ bản thân có cảm thấy tốt hơn trong quá trình sử dụng hay không. Khi cảm thấy tình trạng sức khỏe không tốt thì nên dừng ngay và xin tư vấn từ các nhân viên/ cơ quan y tế.

 Để biết thêm những kiến thức cơ bản, chi tiết về thực phẩm chức năng cũng như tính an toàn, hiệu lực của các thành phần hóa chất, hãy tham khảo “Thông tin về tính an toàn và hiệu lực của Thực phẩm chức năng” do Viện Nghiên cứu Sức khỏe và Dinh dưỡng Nhật Bản phát hành.

Tên thuốc 1

(Tên công ty sản xuất)

Tên thuốc 2

(Tên công ty sản xuất)

Ghi chú

(Tình trạng cơ thể/ thắc mắc)

Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần 2 viên x 1 lần Tình trạng không thay đổi gì
Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần Không uống Tình trạng tốt
Ngày/tháng/năm Không uống 2 viên x 1 lần Tình trạng xấu (đau dạ dày)
Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần 2 viên x 1 lần Tình trạng xấu (bị mẩn ngứa)

Bảng 3. Bảng theo dõi quá trình sử dụng “thực phẩm chức năng”.

Ghi chú:

Những chất có chức năng dinh dưỡng được phép ghi trên nhãn là 12 loại vitamin, gồm có (Acid Niacin, Acid Pantothenic (Vitamin B5), Biotin (Vitamin H), Vitamin A, B1, B2, B6, B12, C, D, E, Acid folic) và 5 loại vi khoáng (sắt, canxi, ma-giê, đồng, kẽm). Các loại thực phẩm này phải được quy định rõ lượng dùng an toàn của thành phần tương ứng trong 1 ngày và lượng của thành phần đó phải nằm trong phạm vi tối thiểu được quy định. Và trên nhãn dán không những ghi rõ chức năng dinh dưỡng mà còn phải ghi cả những điểm cần phải chú ý nữa.

Tài liệu tham khảo

http://www.kokusen.go.jp/wko/pdf/wko-201306_01.pdf

Bài viết Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Trà Yerba Mate – Thức Uống Bổ Dưỡng Hay Nguy Cơ Đối Với Sức Khoẻ? https://yhoccongdong.com/thongtin/tra-yerba-mate-thuc-uong-bo-duong-hay-nguy-co-doi-voi-suc-khoe/ Sun, 10 Aug 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/tra-yerba-mate-thuc-uong-bo-duong-hay-nguy-co-doi-voi-suc-khoe/

Bất chấp những tranh cãi về khả năng gây ung thư hoặc tác dụng phòng ngừa ung thư từ nhiều nghiên cứu, trà yerba mate vẫn tiếp tục được cho là thức uống sức khỏe và được bày bán trên thị trường Việt Nam với nhiều mẫu mã, hình thức và công dụng giúp giảm cân, phòng ngừa lão hóa, tăng cường hệ miễn dịch. Những phát hiện trái ngược này dẫn tới những nghi vấn rằng mate là thức uống bổ dưỡng hay nguy cơ đối với sức khỏe, nhất là ung thư đầu – cổ.

Bài viết Trà Yerba Mate – Thức Uống Bổ Dưỡng Hay Nguy Cơ Đối Với Sức Khoẻ? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Bất chấp những tranh cãi về khả năng gây ung thư hoặc tác dụng phòng ngừa ung thư từ nhiều nghiên cứu, trà yerba mate vẫn tiếp tục được cho là thức uống sức khỏe và được bày bán trên thị trường Việt Nam với nhiều mẫu mã, hình thức và công dụng giúp giảm cân, phòng ngừa lão hóa, tăng cường hệ miễn dịch. Những phát hiện trái ngược này dẫn tới những nghi vấn rằng mate là thức uống bổ dưỡng hay nguy cơ đối với sức khỏe, nhất là ung thư đầu – cổ. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về loại thức uống này và có sự cân nhắc khi sử dụng.

TRÀ YERBA MATE VÀ QUAN NIỆM VỀ THỨC UỐNG SỨC KHỎE

Yerba mate, còn gọi là erva mate hay mate, là thức uống phổ biến ở một số khu vực tại Nam Mỹ, nhất là Argentina. Loại trà này được chế biến bằng cách trộn lá khô của cây Ilex paraguariensis với nước nóng hoặc lạnh (gọi là mate nóng hay mate lạnh). Thông thường, hỗn hợp này được đựng trong quả bầu khô (guampa) và uống bằng ống hút bạc (bombilla). Yerba mate nổi tiếng là thức uống sức khỏe, trên 3 triệu trang web tìm thấy qua Google, có rất nhiều địa chỉ đề cập tới lợi ích của thức uống này. Với những người ủng hộ thì yerba mate được gọi là “Thức uống cổ của sức khỏe và tình bạn”.

Hình 1: Yerba mate và cây Ilex paraguariensis

TRÀ YERBA MATE VÀ UNG THƯ

Mặc dù được biết là thức uống sức khỏe nhưng rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự liên quan giữa việc tiêu thụ yerba mate thường xuyên với khả năng tăng nguy cơ ung thư đầu – cổ, bàng quang, thanh quản, thận, phổi và u lympho không Hodgkin’s, nhất là ung thư thực quản. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ cao khi đốt cháy yerba mate làm tăng nguy cơ ung thư thực quản, cao hơn so với yerba mate bình thường.

Theo một nghiên cứu khác, yerba mate tự nhiên là một yếu tố gây ung thư và là nguyên nhân giải thích sự liên quan của thức uống này với việc tăng nguy cơ mắc ung thư. Hai chương trình nghiên cứu đánh giá tác dụng gây ung thư của các chất hóa học, hỗn hợp và các chất tự nhiên là Đánh giá nguy cơ ung thư trên người của Trung tâm nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) và Báo cáo về các chất gây ung thư của Chương trình quốc gia về độc chất học tại Hoa Kỳ. Các chương trình này đưa trà yerba mate vào danh sách các chất có bằng chứng gây ung thư trên người ở mức độ trung bình.

NGHIÊN CỨU LÀM SÁNG TỎ TRANH CÃI NÀY

Nghiên cứu gần đây được thực hiện để cung cấp thông tin cụ thể về chủ đề này bằng cách kiểm tra cẩn thận cả mate nóng và lạnh. Các nhà nghiên cứu muốn xác định hai vấn đề:

– Một là yerba mate có chứa nhóm hợp chất polycyclic aromatic hydrocarbons hay không? Polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) được xếp vào loại các chất gây ung thư ở động vật và người.

– Hai là lượng PAHs có trong trà mate là bao nhiêu? Bởi vì có nhiều loại thức ăn và đồ uống cũng chứa PAHs. Tuy nhiên, một lượng nhỏ PAHs không gây ra bất kỳ vấn đề sức khỏe nào. Ngược lại, với lượng lớn, có thể làm tăng nguy cơ ung thư khi sử dụng trong thời gian dài.

Các nhà nghiên cứu đã tìm được mức độ của 21 hợp chất PAHs khác nhau trong 8 dòng thương mại của trà yerba mate. Họ kiểm tra mức độ PAH trong lá mate và trà, cả khi nóng và lạnh; đồng thời so sánh với mức độ PAH trong lá trà xanh – một thức uống nổi tiếng và đã được công nhận an toàn cũng như có nhiều lợi ích đối với sức khỏe.

Khi kiểm tra lá của 8 sản phẩm thương mại yerba mate, các nhà nghiên cứu thấy rằng chúng chứa tổng nồng độ PAH cao hơn từ 2 tới 11 lần nồng độ trong lá trà xanh. Về lượng PAHs có trong thức uống từ lá yerba mate, cả khi dùng nóng hay lạnh thì mate đều chứa một lượng đáng kể PAHs, nhưng họ không so sánh điều này với nước trà xanh.

Vấn đề mấu chốt là nếu chế biến theo cách truyền thống và tiêu thụ lượng trà giống như những người dân Nam Mỹ thì lượng PAHs hấp thu tương đương với người hút một bao thuốc lá/ngày. Kết luận này rút ra từ các nghiên cứu đánh giá nồng độ các chất chuyển hóa của PAHs trong nước tiểu sau khi hút thuốc và sau khi uống mate.

KHUYẾN CÁO CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG

Mặc dù người ta vẫn tin rằng trà mate là thức uống có lợi cho sức khỏe nhưng các bằng chứng đã cho thấy điều ngược lại. Khi sử dụng theo lối truyền thống của người Nam Mỹ, mate chứa một lượng lớn chất gây ung thư PAHs.

Cần phải lưu ý rằng dạng sử dụng truyền thống của yerba mate là thêm nước vào một mẻ lá nhiều lần và uống như trà. Điều này sẽ làm người sử dụng tiêu thụ nhiều PAHs hơn khi uống một lần. Như vậy, khi thưởng thức một cốc trà yerba mate theo kiểu uống trà gói thì lượng PAHs không cao như được ủ theo kiểu truyền thống. Vì vậy, nếu bạn có uống một cốc yerba mate thì cũng đừng lo lắng, khi đó lượng PAHs bạn tiêu thụ không vượt quá lượng tìm thấy trong nhiều loại thức ăn và đồ uống trong chế độ ăn trung bình của người Châu Mỹ.

Hình 2: Một số loại nước uống có chứa Yerba mate

Tóm lại, yerba mate không phải là chọn lựa tốt nhất cho đồ uống có lợi cho sức khỏe, nhưng nếu không sử dụng thường xuyên thì yerba mate có thể không liên quan tới sự xuất hiện của bất kỳ dạng ung thư nào.

Cùng hiệu đính: BS. Lâm Đại Phong

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. https://www.caring4cancer.com/go/cancer/nutrition/questions
  2. http://en.wikipedia.org/wiki/Yerba_mate

Bài viết Trà Yerba Mate – Thức Uống Bổ Dưỡng Hay Nguy Cơ Đối Với Sức Khoẻ? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Điều trị những triệu chứng do ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/dieu-tri-nhung-trieu-chung-do-ung-thu/ Tue, 25 Feb 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/dieu-tri-nhung-trieu-chung-do-ung-thu/

Khi ung thư hay việc điều trị ung thư gây ra tác dụng phụ ảnh hưởng đến việc ăn uống bình thường, những thay đổi là cần thiết để cung cấp đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Thuốc có thể được dùng để kích thích khẩu vị.

Bài viết Điều trị những triệu chứng do ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Khi ung thư hay việc điều trị ung thư gây ra tác dụng phụ ảnh hưởng đến việc ăn uống bình thường, những thay đổi là cần thiết để cung cấp đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Thuốc có thể được dùng để kích thích khẩu vị. Tốt nhất nên ăn các thức ăn chứa nhiều năng lượng, đạm, vitamin và khoáng chất. Những bữa ăn nên được tính toán để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và phù hợp với khẩu vị của bệnh nhân. Sau đây là một vài triệu chứng phổ biến gây ra bởi ung thư và việc điều trị ung thư kèm theo các cách điều trị hay kiểm soát chúng.

Điều trị triệu chứng ung thư

Hình: Điều trị những triệu chứng do ung thư

Biếng ăn

Biếng ăn là một trong số những vấn đề phổ biến ở bệnh nhân ung thư. Ăn uống trong không gian yên tĩnh, thoải mái và vận động thường xuyên có thể cải thiện khẩu vị. Những điều sau đây có thể hữu ích:

  • Ăn bữa ăn nhỏ giàu đạm, năng lượng mỗi 1-2 giờ thay vì 3 bữa ăn chính. Những thức ăn giàu năng lượng và giàu đạm có thể lựa chọn là:

– Pho mát và bánh quy
– Bánh nướng xốp
– Bánh pudding
– Thực phẩm bổ sung dinh dưỡng (đạm, chất khoáng và vitamin)
– Sữa chua
– Kem
– Sữa bột
– Bánh ngọt
– Chocolate (Sô cô la)

  • Bổ sung năng lượng và đạm cho thực phẩm với bơ, váng sữa hay đường.
  • Bổ sung thức ăn lỏng như súp, sữa, nước hoa quả, nước ép, sinh tố nếu khó khăn khi ăn các thức ăn đặc.
  • Ăn bữa sáng với lượng năng lượng và đạm bằng 1/3 lượng cần thiết của một ngày.
  • Ăn nhẹ với thức ăn giàu năng lượng và đạm.
  • Ăn những thực phẩm có mùi vị hấp dẫn. Có thể tránh những mùi mạnh bằng cách:

– Sử dụng túi luộc hoặc túi hấp cho lò vi sóng.
– Nướng ngoài trời không đậy kín lò.
– Sử dụng quạt trong lúc nấu ăn.
– Ăn thức ăn nguội thay vì nóng để giảm bớt mùi do hơi nóng bốc lên.
– Thay trang phục để loại bỏ mùi thức ăn trước khi vào phòng bệnh.
– Nên dùng thức ăn chế biến sẵn mang đi.

  • Chế biến thức ăn với công thức, mùi vị, gia vị với thành phần và độ đặc khác nhau để tăng khẩu vị, tránh nhàm chán. Sự ưa thích thức ăn có thể thay đổi theo ngày.
  • Lên thực đơn trước khi chuẩn bị bữa ăn.
  • Nấu và trữ lượng nhỏ thực phẩm yêu thích để luôn sẵn sàng lúc đói bụng.

Thay đổi khẩu vị

Những thay đổi khẩu vị có thể xảy ra do xạ trị, những vấn đề nha khoa, loét miệng và nhiễm trùng hoặc do một số thuốc. Nhiều bệnh nhân hóa trị cảm thấy vị đắng hoặc thay đổi mùi vị và họ thường đột ngột không thích một số thực phẩm nhất định. Điều này có thể gây ra chán ăn, sút cân và giảm chất lượng cuộc sống. Một số hoặc tất cả các loại vị giác có thể bình thường trở lại, nhưng việc này có thể mất đến một năm sau khi kết thúc điều trị. Những điều sau đây có thể hữu ích:

  • Ăn nhiều bữa nhỏ và ăn nhẹ nhiều lần trong ngày.
  • Ăn uống khi đói hơn là theo bữa ăn.
  • Ăn các loại thực phẩm yêu thích và thử thức ăn mới khi cảm thấy tốt nhất.
  • Ăn thịt gia cầm, cá, trứng và pho mát thay vì thịt đỏ.
  • Ăn trái cây chua (cam, quýt, chanh, bưởi) trừ khi bị loét miệng.
  • Thêm gia vị và nước sốt vào thức ăn.
  • Ăn thịt với sốt ngọt, chẳng hạn như nước sốt man việt quất, mứt hoặc táo.
  • Sử dụng nguồn đạm thực vật hay ăn món chay.
  • Sử dụng giọt chanh không đường, kẹo cao su hoặc kẹo bạc hà nếu có vị kim loại hoặc vị đắng trong miệng.
  • Súc miệng bằng nước trước khi ăn.
  • Ăn với gia đình và bạn bè.
  • Để những người khác chuẩn bị bữa ăn.
  • Sử dụng dụng cụ bằng nhựa nếu thực phẩm có hương vị kim loại.

Dùng viên kẽm sulfat trong khi xạ trị đầu mặt cổ có thể giúp khôi phục vị giác nhanh hơn sau khi điều trị.

Khô miệng

Khô miệng thường do xạ trị đầu mặt cổ và do một số loại thuốc. Khô miệng có thể ảnh hưởng đến giọng nói, mùi vị và khả năng nuốt, sử dụng răng giả hoặc việc mắc cài chỉnh nha. Ngoài ra nó còn tăng nguy cơ sâu răng và các bệnh về nướu (lợi) do ít nước bọt để làm sạch bề mặt răng và nướu răng.
Điều trị chính cho khô miệng là uống nhiều chất lỏng. Những cách khác giúp giảm khô miệng bao gồm:

  • Luôn mang theo nước.
  • Ăn các loại thực phẩm ẩm với nước sốt thêm, nước thịt, bơ động vật hoặc thực vật.
  • Ăn các loại thực phẩm và nước uống rất ngọt hay rất chua (để tăng tiết nước bọt).
  • Ăn tráng miệng được làm lạnh (như nho lạnh, kem).
  • Uống trái cây nghiền thay vì nước ép trái cây.
  • Mút ngậm kẹo cứng hay nhai kẹo cao su.
  • Sử dụng ống hút để uống nước.
  • Chải răng (bao gồm cả răng giả) và súc miệng ít nhất bốn lần một ngày (sau khi ăn và trước khi đi ngủ). Không sử dụng nước súc miệng chứa cồn.

Loét miệng và các loại nhiễm trùng

Loét miệng có thể gây ra bởi hóa trị và xạ trị. Các phương pháp điều trị này tác động đến các tế bào phát triển nhanh như tế bào ung thư. Tuy nhiên các tế bào bình thường trong miệng có thể bị cũng bị ảnh hưởng do chúng cũng phát triển nhanh. Loét miệng có thể gây đau, bị nhiễm trùng hoặc chảy máu và làm ăn uống trử nên khó khăn. Bằng cách lựa chọn loại thực phẩm phù hợp và chăm sóc răng miệng tốt, việc ăn uống sẽ được cải thiện. Những lời khuyên sau đây giúp cải thiện vấn đề này:

  • Ăn thức ăn mềm dễ nhai và nuốt, ví dụ như:

– Trái cây mềm như chuối, táo xay, dưa hấu
– Phô mai
– Khoai tây nghiền
– Mỳ ống và pho mát
– Bánh bông lan và pudding
– Gelatin (thạch hay đông sương)
– Nước ép trái cây (đào, lê,…)
– Trứng bác (scrambled eggs)
– Bột yến mạch hoặc những loại ngũ cốc nấu chín khác

  • Tránh ăn uống những thực phẩm sau:

– Trái cây và nước trái cây chua (như cam, quýt, chanh và bưởi)
– Thực phẩm cay hay mặn
– Các loại thực phẩm khô hoặc cứng: rau sống, yến mạch khô, bánh mì nướng và bánh quy giòn

  • Sử dụng một máy xay sinh tố để làm mịn rau (như khoai tây, đậu Hà Lan, cà rốt) và các loại thịt.
  • Thêm nước thịt, nước dùng, hoặc nước sốt vào thực phẩm.
  • Bổ sung đồ uống nhiều calo, giàu protein vào bữa ăn.
  • Nấu thực phẩm cho đến khi chín mềm.
  • Ăn thức ăn lạnh hoặc ở nhiệt độ phòng thay cho thức ăn ấm nóng để tránh kích ứng niêm mạc miệng.
  • Cắt thức ăn thành miếng nhỏ.
  • Sử dụng ống hút để uống nước.
  • Làm tê miệng với thức ăn, đồ uống lạnh trước khi ăn.
  • Chải răng (bao gồm cả răng giả) và súc miệng ít nhất bốn lần một ngày (sau khi ăn và trước khi đi ngủ).

Buồn nôn

Buồn nôn do điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến lượng và loại thực phẩm ăn vào. Những lời khuyên giúp bệnh nhân ung thư kiểm soát buồn nôn:

  • Ăn trước khi điều trị ung thư.
  • Súc miệng sạch trước và sau khi ăn.
  • Ăn các thực phẩm nhạt, mềm, dễ tiêu hóa, ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày.
  • Ăn các loại thực phẩm khô như bánh quy giòn, bánh mì que hoặc bánh mì nướng suốt cả ngày.
  • Từ từ uống từng ngụm chất lỏng suốt cả ngày.
  • Ngậm kẹo cứng như kẹo bạc hà hoặc nhỏ vài giọt chanh nếu miệng có cảm giác mùi khó chịu.
  • Tránh các loại thực phẩm có khả năng gây buồn nôn như các loại thực phẩm nhiều gia vị, có dầu mỡ hay có mùi mạnh.
  • Ngồi hoặc nằm ngả lưng trong một giờ sau khi ăn.
  • Không ăn trong một căn phòng có mùi nấu ăn hay nhiệt độ cao. Giữ cho không gian sống ở nhiệt độ thoải mái với rất nhiều không khí trong lành.

Tiêu chảy

Phương pháp điều trị ung thư, phẫu thuật dạ dày, ruột hoặc căng thẳng cảm xúc có thể gây ra tiêu chảy. Tiêu chảy kéo dài có thể dẫn đến mất nước và rối loạn điện giải (hạ natri, kali (những khoáng chất quan trọng) trong máu).
Những lời khuyên giúp bệnh nhân ung thư kiểm soát tiêu chảy:

  • Ăn canh, súp, chuối và hoa quả đóng hộp hay nước uống thể thao để giúp thay thế natri và kali bị mất do tiêu chảy.
  • Uống nhiều chất lỏng trong ngày. Chất lỏng ở nhiệt độ phòng thường tốt hơn chất lỏng nóng hoặc lạnh.
  • Uống ít nhất một cốc nước sau mỗi lần tiêu chảy.
  • Tránh những thực phẩm sau:

– Thực phẩm béo, chất lỏng nóng hoặc lạnh hay cà phê
– Loại thực phẩm nhiều chất xơ (như đậu khô) và các loại rau họ cải (như bông cải xanh, súp lơ, cải bắp)
– Sữa và các sản phẩm từ sữa, cho đến khi tìm được nguyên nhân tiêu chảy
– Thực phẩm và đồ uống tạo hơi (như đậu Hà Lan, đậu lăng, rau họ cải, kẹo cao su và soda)
– Kẹo không đường hoặc kẹo cao su từ sorbitol

Số lượng bạch cầu thấp và các loại nhiễm trùng

Xạ trị, hóa trị hoặc bệnh ung thư có thể làm giảm số lượng bạch cầu và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Những lời khuyên sau giúp bệnh nhân ung thư ngăn ngừa nhiễm trùng khi số lượng tế bào bạch cầu thấp:

  • Không nên ăn:

– Trứng hoặc cá sống
– Trái cây và rau quả đã cũ, mốc hoặc hư hỏng
– Thức ăn bán dạo để trong thùng hay hộp không đóng kín
– Rau tươi ở các tiệm ăn ngoài

  • Rửa tay thường xuyên để ngăn chặn sự lây lan của vi khuẩn.
  • Rã đông thực phẩm trong tủ lạnh hoặc lò vi sóng. Không bao giờ rã đông thực phẩm ở nhiệt độ phòng. Thực phẩm cần được chế biến ngay sau khi rã đông.
  • Giữ thức ăn nóng ở nhiệt độ nóng và thức ăn lạnh ở nhiệt độ lạnh.
  • Nấu chín hoàn toàn tất cả các loại thực phẩm.
  • Giữ lạnh những đồ ăn thừa trong vòng 2 giờ sau khi nấu và ăn chúng trong vòng 24 giờ.
  • Mua thực phẩm đóng gói đúng khẩu phần, tránh để thức ăn thừa.
  • Không mua hoặc ăn thức ăn quá hạn sử dụng.
  • Không mua hoặc ăn thực phẩm đóng hộp bị phồng, sứt mẻ hoặc hư hỏng.

Mất nước

Cơ thể cần nhiều nước để thay thế chất dịch bị mất mỗi ngày. Bệnh nhân có thể không ăn và uống đủ lượng nước cần thiết do buồn nôn, nôn và đau. Tiêu chảy kéo dài gây mất chất lỏng từ cơ thể. Một trong những dấu hiệu đầu tiên của mất nước là cảm giác rất mệt mỏi. Những lời khuyên sau đây giúp bệnh nhân ung thư ngăn ngừa mất nước:

  • Uống 8-12 ly chất lỏng mỗi ngày. Chúng có thể là nước, nước trái cây, sữa hoặc các loại thực phẩm có nhiều chất lỏng như kem và thạch (gelatin).
  • Không nên dùng đồ uống có cà phê như nước ngọt, cà phê và trà (cả nóng và lạnh)
  • Luôn mang theo một chai nước và uống ngay cả khi không khát.
  • Uống nhiều chất lỏng nhất vào giữa các bữa ăn.
  • Sử dụng các loại thuốc giúp ngăn ngừa và điều trị buồn nôn và nôn.

Táo bón

Táo bón (dưới 3 lần đi tiêu (đại tiện) trong một tuần) rất phổ biến ở những bệnh nhân ung thư, gây ra bởi những điều sau đây:

  • Quá ít nước hoặc chất xơ trong chế độ dinh dưỡng.
  • Ít vận động.
  • Điều trị ung thư, như hóa trị.
  • Một số loại thuốc dùng để điều trị các tác dụng phụ của hóa trị như buồn nôn và đau.

Ngăn ngừa và điều trị táo bón là một phần của chăm sóc bệnh ung thư.

Để ngăn ngừa táo bón:

  • Ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều chất xơ. 25-35 gram chất xơ mỗi ngày là tốt nhất. Nhãn thực phẩm thường ghi rõ lượng chất xơ trong khẩu phần. (Một số nguồn chất xơ được liệt kê dưới đây.) Thêm chất xơ dần dần mỗi ngày và uống nhiều nước cùng một lúc để giúp các sợi xơ di chuyển dễ dàng trong ruột.
  • Uống 8-12 ly nước mỗi ngày. Có thể uống nước, nước mận, nước ấm, nước chanh, và các loại trà không chứa cà phê (caffeine).
  • Đi bộ và tập thể dục thường xuyên với giày thể dục phù hợp.

Để điều trị táo bón:

  • Tiếp tục ăn các loại thực phẩm nhiều chất xơ và uống nhiều nước. Hãy thử thêm cám lúa mì vào khẩu phần ăn; bắt đầu mỗi ngày với 2 muỗng canh trong 3 ngày, sau đó tăng thêm 1 muỗng mỗi ngày cho đến khi táo bón thuyên giảm. Không dùng quá 6 muỗng canh mỗi ngày.
  • Tăng cường tập thể dục và hoạt động thể chất.
  • Sử dụng các loại thuốc không cần bác sĩ kê đơn, nếu cần thiết. Chúng bao gồm:

– ŸCác chất giúp phân tạo khối (như Citrucel, Metamucil, Fiberall và Fiber-Lax)
– Các chất kích thích (như Dulcolax và Senokot)
Ÿ- Các chất làm mềm phân (như Colace và Surfak)
Ÿ- Chất làm tăng thẩm thấu (như sữa magiê)

  • Có thể dùng hạt bông và bình phun thụt. Không sử dụng chất bôi trơn như dầu khoáng vì chúng có thể ngăn cản sự hấp thu các dưỡng chất quan trọng cho cơ thể.

Nguồn thực phẩm chứa chất xơ bao gồm:

  • Các loại đậu (đậu và đậu lăng)
  • Các loại rau quả
  • Ngũ cốc lạnh (nguyên hạt hoặc cám)
  • Ngũ cốc nóng
  • Trái cây
  • Bánh mì nguyên hạt

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page5

Bài viết Điều trị những triệu chứng do ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng https://yhoccongdong.com/thongtin/anh-huong-cua-qua-trinh-dieu-tri-ung-thu-den-dinh-duong/ Tue, 25 Feb 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/anh-huong-cua-qua-trinh-dieu-tri-ung-thu-den-dinh-duong/

Cơ thể cần thêm năng lượng và chất dinh dưỡng để lành vết thương, chống nhiễm trùng và phục hồi sau phẫu thuật. Nếu bệnh nhân bị thiếu hoặc suy dinh dưỡng trước khi mổ, quá trình hồi phục có thể gặp trở ngại.

Bài viết Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Dinh dưỡng và ung thư

Hình: Ảnh hưởng của quá trình  điều trị ung thư đến dinh dưỡng

Phẫu thuật và Dinh dưỡng

Phẫu thuật làm tăng nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng của cơ thể.

Cơ thể cần thêm năng lượng và chất dinh dưỡng để lành vết thương, chống nhiễm trùng và phục hồi sau phẫu thuật. Nếu bệnh nhân bị thiếu hoặc suy dinh dưỡng trước khi mổ, quá trình hồi phục có thể gặp trở ngại. Do đó cần bắt đầu chăm sóc dinh dưỡng trước khi phẫu thuật.

Phẫu thuật đầu, cổ, thực quản, dạ dày, ruột có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng.

Hầu hết bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật loại bỏ một phần hoặc tất cả cơ quan nào đó có thể ảnh hưởng đến khả năng ăn và tiêu hóa thức ăn của bệnh nhân. Những vấn đề dinh dưỡng do một số loại phẫu thuật cụ thể như sau:

  • Phẫu thuật đầu và cổ có thể gây ra vấn đề về:
    • Nhai
    • Nuốt
    • Ngửi và nếm thức ăn
    • Sản xuất nước bọt
    • Nhìn
  • Phẫu thuật thực quản, dạ dày hoặc ruột có thể cản trở hoạt động tiêu hóa thức ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng.

Tất cả vấn đề trên ảnh hưởng đến khả năng ăn uống bình thường của bệnh nhân. Ngoài ra, căng thẳng cảm xúc do phẫu thuật cũng có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn.

Liệu pháp dinh dưỡng có thể làm giảm các vấn đề dinh dưỡng do phẫu thuật.

Liệu pháp dinh dưỡng có thể làm giảm tác dụng phụ của phẫu thuật và cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho bệnh nhân ung thư. Liệu pháp dinh dưỡng bao gồm:

  • Đồ uống bổ sung dinh dưỡng
  • Dinh dưỡng qua đường ruột (ăn lỏng qua sonde (xông, ống thông) dạ dày hoặc ruột)
  • Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch (qua ống catheter thông vào máu)
  • Thuốc để tăng sự thèm ăn

Đa số bệnh nhân thường đau, mệt mỏi và/hoặc mất cảm giác ngon miệng sau khi phẫu thuật. Trong thời gian ngắn, một số bệnh nhân có thể chán ăn. Một số gợi ý sau có thể giúp cải thiện tình hình:

  • Tránh dùng đồ uống có hơi (như soda) và các loại thực phẩm gây ra hơi (gas) như: đậu, bông cải xanh, bắp cải, ớt xanh, củ cải, dưa chuột.
  • Tăng lượng calo trong thực phẩm bằng cách chiên, sử dụng nước thịt, mayonnaise và các loại sốt trộn salad. Có thể sử dụng thêm thực phẩm bổ sung nhiều calo và protein.
  • Chọn thực phẩm giàu protein và năng lượng giúp tăng cường dinh dưỡng và thúc đẩy lành vết thương như: trứng, pho mát, sữa, kem, các loại hạt, bơ đậu phộng, thịt, gia cầm, cá.
  • Nếu bị táo bón, hãy tăng lượng chất xơ theo từng lượng nhỏ và uống nhiều nước. Nguồn chất xơ tốt bao gồm: các loại ngũ cốc (như bột yến mạch và cám), đậu, rau, trái cây, bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt.

Hóa trị và dinh dưỡng

Hóa trị ảnh hưởng đến tất cả các tế bào trong cơ thể.

Hóa trị tác động lên các tế bào phát triển và phân chia nhanh như tế bào ung thư. Những tế bào khỏe mạnh và bình thường vẫn phân chia nhanh như các tế bào niêm mạc miệng, đường tiêu hóa và các nang tóc cũng có thể bị hóa trị giết chết.

Hóa trị có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng.
Hóa trị có thể gây ra tác dụng phụ ảnh hưởng đến việc ăn uống và tiêu hóa. Khi hơn hai loại thuốc chống ung thư được dùng phối hợp, tác dụng phụ xảy ra nhiều hơn hoặc nặng hơn. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm:

  • Chán ăn
  • Viêm và loét miệng
  • Thay đổi vị giác
  • Chóng no
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa
  • Tiêu chảy
  • Táo bón

Liệu pháp dinh dưỡng có thể làm giảm các vấn đề dinh dưỡng gây ra bởi hóa trị.
Bệnh nhân chịu tác dụng phụ do hóa trị có thể không ăn uống bình thường và có đủ dưỡng chất cần thiết để tạo thêm (phục hồi) các tế bào máu giữa các đợt điều trị. Liệu pháp dinh dưỡng có thể giảm các tác dụng phụ, giúp bệnh nhân phục hồi sức khoẻ, ngăn sút cân và duy trì tổng trạng. Liệu pháp dinh dưỡng có thể bao gồm:

  • Bổ sung thức uống dinh dưỡng giữa các bữa ăn.
  • Dinh dưỡng qua đường ruột (bằng sonde).
  • Thay đổi chế độ ăn như ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.

Xạ trị và dinh dưỡng

Xạ trị có thể ảnh hưởng đến các tế bào ung thư lẫn tế bào khỏe mạnh trong vùng điều trị.
Xạ trị có thể giết chết tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh trong khu vực điều trị. Mức độ thương tổn phụ thuộc:

  • Vùng cơ thể được điều trị.
  • Tổng liều xạ trị và cách thức chiếu tia.

Xạ trị có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng.
Xạ trị bất kỳ phần nào của hệ thống tiêu hóa đều gây tác dụng phụ về dinh dưỡng. Hầu hết các tác dụng phụ bắt đầu một vài tuần sau khi xạ trị và biến mất vài tuần sau khi kết thúc xạ trị. Một số tác dụng phụ có thể kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi kết thúc điều trị.
Một số tác dụng phụ thường gặp:

  • Đối với xạ trị vùng đầu, cổ
    • Mất cảm giác ngon miệng
    • Thay đổi vị giác
    • Đau khi nuốt
    • Khô miệng hoặc nước bọt quánh đặc
    • Đau loét miệng và nướu răng
    • Hẹp phần trên thực quản, có thể gây sặc, khó thở và khó nuốt
  • Đối với xạ trị vùng ngực
    • Nhiễm trùng thực quản
    • Khó nuốt
    • Trào ngược thực quản (dịch từ dạ dày chảy ngược lên thực quản)
  • Đối với xạ trị vùng bụng hoặc khung chậu
    • Tiêu chảy
    • Buồn nôn
    • Nôn mửa
    • Viêm ruột hoặc trực tràng
    • Giảm hấp thụ chất dinh dưỡng ở ruột

Xạ trị cũng có thể gây mệt mỏi và chán ăn.

Liệu pháp dinh dưỡng có thể làm giảm các vấn đề dinh dưỡng do xạ trị.

Liệu pháp dinh dưỡng có thể cung cấp đủ chất đạm và năng lượng, ngăn ngừa sút cân, giúp lành thương và duy trì tổng trạng. Liệu pháp dinh dưỡng bao gồm:

  • Thức uống bổ sung dinh dưỡng giữa các bữa ăn.
  • Dinh dưỡng qua đường ruột (qua sonde).
  • Thay đổi chế độ ăn như ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.

Bệnh nhân nhận xạ trị liều cao để chuẩn bị ghép tủy xương có thể gặp nhiều vấn đề về dinh dưỡng và nên có thêm tư vấn từ chuyên gia dinh dưỡng.

Liệu pháp sinh học và dinh dưỡng

Liệu pháp sinh học có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng.

Tác dụng phụ của liệu pháp sinh học là khác nhau tùy vào mỗi bệnh nhân và tùy theo loại tác nhân sinh học. Các vấn đề dinh dưỡng thường gặp bao gồm:

  • Sốt
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa
  • Tiêu chảy
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Mệt mỏi
  • Tăng cân

Liệu pháp dinh dưỡng có thể làm giảm các vấn đề dinh dưỡng gây ra bởi liệu pháp sinh học.

Các tác dụng phụ của liệu pháp này có thể gây ra giảm cân và suy dinh dưỡng nếu không được điều trị. Liệu pháp dinh dưỡng có thể giúp bệnh nhân hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết để cải thiện các tác dụng phụ do điều trị, ngăn ngừa giảm cân và duy trì sức khỏe tổng trạng.

Cấy ghép tế bào gốc và dinh dưỡng

Bệnh nhân cấy ghép tế bào gốc có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt.

Hóa trị, xạ trị và các loại thuốc được sử dụng trong cấy ghép tế bào gốc có thể gây chán ăn. Tác dụng phụ thường gặp bao gồm:

  • Thay đổi vị giác
  • Khô miệng hoặc nước bọt quánh đặc
  • Đau loét miệng và họng
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa
  • Tiêu chảy
  • Táo bón
  • Giảm cân, chán ăn
  • Tăng cân

Liệu pháp dinh dưỡng rất quan trọng cho những bệnh nhân cấy ghép tế bào gốc.

Bệnh nhân cấy ghép có nguy cơ bị nhiễm trùng rất cao. Hóa trị hoặc xạ trị liều cao làm giảm số lượng tế bào bạch cầu qua đó giảm khả năng chống lại nhiễm trùng hay tăng nguy cơ nhiễm trùng ở những bệnh nhân cấy ghép tế bào gốc. Vì thế, việc giúp bệnh nhân cấy ghép tránh bị nhiễm trùng là điều đặc biệt quan trọng.
Bệnh nhân được cấy ghép cần rất nhiều chất đạm và năng lượng để vượt qua và phục hồi sau điều trị, ngăn ngừa sút cân, chống nhiễm trùng và duy trì sức khỏe tổng trạng. Việc tránh nhiễm khuẩn từ thực phẩm cũng rất quan trọng. Liệu pháp dinh dưỡng trong quá trình cấy ghép bao gồm:

  • Chế độ dinh dưỡng chỉ gồm thực phẩm nấu chín và chế biến kỹ, vì rau sống và trái cây tươi có thể chứa vi khuẩn có hại
  • Hướng dẫn xử lý thực phẩm an toàn
  • Chế độ ăn đặc biệt tùy theo loại cấy ghép và phần cơ thể bị ảnh hưởng bởi bệnh ung thư
  • Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch trong vài tuần đầu tiên sau khi cấy ghép để giúp bệnh nhân nạp đủ năng lượng, chất đạm, vitamin, các khoáng chất và các dịch lỏng cần thiết

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page4

Bài viết Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn https://yhoccongdong.com/thongtin/dinh-duong-cho-benh-nhan-ung-thu-giai-doan-muon/ Tue, 25 Feb 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/dinh-duong-cho-benh-nhan-ung-thu-giai-doan-muon/

Chăm sóc giảm nhẹ đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn bao gồm liệu pháp dinh dưỡng (xem phần Điều trị triệu chứng) và/hoặc điều trị bằng thuốc

Bài viết Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Chăm sóc giảm nhẹ giúp làm giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Mục tiêu của chăm sóc giảm nhẹ (palliative care) là cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh nghiêm trọng hoặc bệnh đe dọa đến tính mạng. Chăm sóc giảm nhẹ nhằm ngăn ngừa hoặc điều trị các triệu chứng, tác dụng phụ và các vấn đề tâm lý, xã hội và tinh thần gây ra bởi bệnh tật hoặc phương pháp điều trị.

Chăm sóc giảm nhẹ đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn bao gồm liệu pháp dinh dưỡng (xem phần Điều trị triệu chứng) và/hoặc điều trị bằng thuốc.

Bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau

Chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn

Hình: Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn

Đặc điểm chung ở các bệnh nhân bị ung thư giai đoạn muộn là chán ăn. Bệnh nhân thường thích thức ăn mềm và chất lỏng. Những bệnh nhân khó nuốt nên ăn đồ lỏng quánh hơn là dịch lỏng như nước. Những bệnh nhân thường không có cảm giác đói nhiều và có thể cần rất ít thức ăn.

Bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn có thể ăn hầu hết các loại thực phẩm. Trong thời gian này, việc ăn uống chủ yếu là vì vui thích hơn là để nhận được đủ chất dinh dưỡng. Bệnh nhân thường không thể ăn đủ nhiều một loại thực phẩm nào để gặp rắc rối. Tuy nhiên, một số bệnh nhân phải tuân theo chế độ ăn đặc biệt. Ví dụ, bệnh nhân ung thư đường tiêu hoá có thể cần dùng thức ăn mềm để không bị tắc ruột.

Lợi ích và tác hại của hỗ trợ dinh dưỡng ở mỗi bệnh nhân là khác nhau

Trả lời các câu hỏi sau có thể giúp quyết định về việc sử dụng hỗ trợ dinh dưỡng:

  • Nhu cầu và nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình là gì?
  • Chất lượng sống của bệnh nhân sẽ được cải thiện hay không?
  • Liệu lợi ích mang lại có nhiều hơn nguy cơ và chi phí?
  • Có văn bản ghi rõ nguyện vọng của bệnh nhân hay không? Đây là một văn bản pháp lý ghi rõ hình thức điều trị hoặc chăm sóc mà một người muốn nhận (hoặc không muốn nhận) khi họ không còn khả năng tự quyết định việc điều trị. Một dạng văn bản thường gặp là di ngôn hay di chúc.

Bệnh nhân và người thân có quyền quyết định sau khi được giải thích đầy đủ. Đội ngũ y tế và chuyên gia dinh dưỡng có thể giải thích lợi ích cũng như nguy cơ của việc hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn. Đa số trường hợp, việc hỗ trợ dinh dưỡng là có hại nhiều hơn có lợi, đặc biệt là dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch. Tuy nhiên, với những ai có chất lượng cuộc sống tốt nhưng không có khả năng ăn uống đầy đủ qua đường miệng, dinh dưỡng qua sonde (xông, ống thông) dạ dày sẽ là tốt nhất. Lợi ích và nguy cơ của dinh dưỡng qua sonde dạ dày ở ung thư giai đoạn muộn bao gồm:

Lợi ích

  • Có thể giúp bệnh nhân tỉnh táo hơn
  • Có thể giúp người nhà bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn
  • Có thể làm giảm buồn nôn
  • Có thể mang lại hy vọng cho bệnh nhân

Tác hại

  • Có thể cần phẫu thuật để đặt ống sonde vào đường tiêu hóa
  • Có thể tăng lượng nước bọt ở miệng và họng, gây sặc hoặc viêm phổi
  • Có thể gây ra ỉa chảy hay táo bón
  • Có thể gây nhiễm trùng
  • Có thể làm việc chăm sóc bệnh nhân khó khăn hơn

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page6

Bài viết Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Dinh dưỡng và cách chăm sóc khi mắc bệnh ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/dinh-duong-va-cach-cham-soc-khi-mac-benh-ung-thu/ Sun, 16 Feb 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/dinh-duong-va-cach-cham-soc-khi-mac-benh-ung-thu/

Để tìm hiểu thêm các thông tin từ Viện Ung thư Quốc gia (NCI) về dinh dưỡng và điều trị bệnh ung thư, xem bài

Bài viết Dinh dưỡng và cách chăm sóc khi mắc bệnh ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Viện Ung thư Quốc gia

Để tìm hiểu thêm các thông tin từ Viện Ung thư Quốc gia (NCI) về dinh dưỡng và điều trị bệnh ung thư, xem bài: Đối phó với bệnh ung thư: Kiểm soát các biểu hiện/dấu hiệu thực thể

Để tìm hiểu them các thông tin từ Viện Ung thư Quốc gia (NCI) về dinh dưỡng và phòng chống bệnh ung thư, xem phần tóm tắt từ các đường dẫn sau:

  • Tổng quan về phòng chống bệnh Ung thư
  • Phòng chống bệnh Ung thư vú
  • Phòng chống bệnh Ung thư đại trực tràng
  • Phòng chống bệnh Ung thư thực quản
  • Phòng chống bệnh Ung thư phổi
  • Phòng chống bệnh Ung thư dạ dày

Các tổ chức

Để tìm hiểu thêm các thông tin chung về dinh dưỡng và các nguồn thông tin cụ thể, tham khảo:

  • Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

www.choosemyplate.gov

Hướng dẫn chế độ ăn uống cho năm 2010

  • Viện Dinh dưỡng và Tiểu đường

800-877-1600

www.eatright.org

  • Ủy ban thực vật Hoa Kỳ

800-373-7105

abc.herbalgram.org

  • Hội Ung thư Hoa Kỳ

800-227-2345

www.cancer.org

  • Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ

800-843-8114

www.aicr.org

  • Hội Dinh dưỡng qua đường ruột và đường truyền Hoa Kỳ

800-727-4567

www.nutritioncare.org

  • Trung tâm Quốc gia về y học cổ truyền (NCCAM)

888-644-6226 (NCCAM Clearinghouse)

866-464-3615 (Số điện thoại miễn phí)

nccam.nih.gov

  • Văn Phòng Thực phẩm bổ sung

301-435-2920

ods.od.nih.gov

Sách tham khảo

  • American Cancer Society’s Healthy Eating Cookbook: a Celebration of Food, Friends, and Healthy Living . 3rd ed. Atlanta, GA: The American Cancer Society, 2005.
  • Bloch A, Cassileth BR, Holmes MD, Thomson CA, eds.: Eating Well, Staying Well During and After Cancer . Atlanta, GA: American Cancer Society, 2004.
  • Ghosh K, Carson L, and Cohen E: Betty Crocker’s Living With Cancer Cookbook: Easy Recipes and Tips Through Treatment and Beyond . New York, NY: Hungry Minds, 2002.
  • Weihofen DL, Robbins J, Sullivan PA: Easy-to-Swallow, Easy-to-Chew Cookbook: over 150 Tasty and Nutritious Recipes for People Who Have Difficulty Swallowing . New York, NY: John Wiley & Sons, Inc., 2002.
  • Wilson JR: I-Can’t-Chew Cookbook: Delicious Soft-Diet Recipes for People With Chewing, Swallowing, or Dry-Mouth Disorders . Alameda, Calif: Hunter House Inc., 2003.

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page10

Bài viết Dinh dưỡng và cách chăm sóc khi mắc bệnh ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Tổng quan về dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/tong-quan-ve-dinh-duong-trong-cham-soc-ung-thu/ Wed, 15 Jan 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/tong-quan-ve-dinh-duong-trong-cham-soc-ung-thu/

Dinh dưỡng là quá trình mà trong đó thực phẩm được cơ thể hấp thu và sử dụng để phát triển, giữ cho cơ thể khỏe mạnh và thay thế mô. Dinh dưỡng tốt là quan trọng để có sức khỏe tốt.

Bài viết Tổng quan về dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Dinh dưỡng tốt là rất quan trọng đối với những bệnh nhân ung thư

Dinh dưỡng là quá trình mà trong đó thực phẩm được cơ thể hấp thu và sử dụng để phát triển, giữ cho cơ thể khỏe mạnh và thay thế mô. Dinh dưỡng tốt là quan trọng để có sức khỏe tốt. Ăn đúng loại thực phẩm trước, trong và sau khi điều trị ung thư có thể giúp bệnh nhân cảm thấy tốt hơn và có sức chịu đựng cao hơn. Một chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm ăn và uống đủ các loại thực phẩm và chất lỏng có chứa những chất dinh dưỡng quan trọng (các vitamin, khoáng chất, protein, carbohydrate, chất béo và nước ) mà cơ thể cần.

Dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư

Khi cơ thể không nhận được hoặc không thể hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe, người bệnh sẽ bị suy dinh dưỡng.

Những thói quen ăn uống lành mạnh là rất quan trọng trong quá trình điều trị bệnh ung thư

Liệu pháp dinh dưỡng được sử dụng để giúp bệnh nhân ung thư nhận được các chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì trọng lượng và sức mạnh, giữ cho tế bào/mô khỏe mạnh và chống lại nhiễm trùng. Những thói quen ăn uống có lợi cho bệnh nhân ung thư có thể rất khác biệt so với các hướng dẫn ăn uống thông thường.

Những thói quen ăn uống lành mạnh và dinh dưỡng tốt có thể giúp bệnh nhân đối phó với những ảnh hưởng của bệnh ung thư và tác dụng phụ trong quá trình điều trị ung thư. Một số phương pháp điều trị ung thư có hiệu quả cao hơn khi bệnh nhân được nuôi dưỡng tốt và được nhận đủ năng lượng (calo) và chất đạm (protein) trong chế độ ăn uống. Bệnh nhân có dinh dưỡng tốt sẽ có tiên lượng (cơ hội hồi phục) và chất lượng cuộc sống cao hơn.

Ung thư có thể thay đổi cách cơ thể hấp thụ và sử dụng dinh dưỡng

Một số khối u sản sinh ra các chất hóa học làm thay đổi cách cơ thể hấp thu một số chất dinh dưỡng nhất định. Việc hấp thu chất đạm (protein), tinh bột (carbohydrate) và chất béo của cơ thể có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là khi có khối u trong dạ dày hoặc ruột. Một bệnh nhân có thể có vẻ ăn uống đầy đủ nhưng cơ thể lại không thể hấp thụ tất cả các chất dinh dưỡng từ thực phẩm.

Ung thư và những phương pháp điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng

Đối với nhiều bệnh nhân, ung thư và điều trị ung thư gây khó khăn cho việc ăn uống tốt. Những phương pháp điều trị ung thư ảnh hưởng đến dinh dưỡng bao gồm:

  • Phẫu thuật
  • Hóa trị
  • Xạ trị
  • Liệu pháp miễn dịch
  • Cấy tế bào gốc

Khi đầu, cổ, thực quản, dạ dày, hoặc ruột bị ảnh hưởng bởi điều trị ung thư, việc tiếp nhận đầy đủ chất dinh dưỡng để duy trì sức khỏe sẽ trở nên rất khó khăn.

Những tác dụng phụ của ung thư và điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến ăn uống bao gồm:

  • Chán ăn (mất cảm giác ngon miệng)
  • Lở loét miệng
  • Khô miệng
  • Khó nuốt
  • Buồn nôn
  • Ói mửa
  • Tiêu chảy
  • Táo bón
  • Đau nhức
  • Trầm cảm
  • Lo âu

Ung thư và những phương pháp điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến vị giác, khứu giác, cảm giác ngon miệng và khả năng ăn đủ thức ăn hoặc hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thực phẩm. Đây là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng (tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng quan trọng). Suy dinh dưỡng có thể làm bệnh nhân yếu, mệt mỏi và dễ bị nhiễm trùng hoặc không chịu được điều trị ung thư. Suy dinh dưỡng có thể còn tồi tệ hơn nếu bệnh ung thư tiến triển hoặc di căn. Ăn quá ít chất đạm và năng lượng là những vấn đề rất hay gặp ở những bệnh nhân ung thư. Việc có đủ chất đạm và năng lượng là rất quan trọng để lành bệnh, chống nhiễm trùng và có sinh lực tốt.

Chán ăn và suy kiệt là những nguyên nhân phổ biến gây nên suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư

Chán ăn (biếng ăn, mất cảm giác ngon miệng) là triệu chứng thường gặp ở những người bị bệnh ung thư. Chán ăn có thể xảy ra từ sớm hoặc muộn hơn, sau khi ung thư đã tiến triển hoặc di căn. Một số bệnh nhân thấy chán ăn khi họ được chẩn đoán mắc bệnh. Hầu hết bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn bị chán ăn. Chán ăn là nguyên nhân phổ biến nhất gây nên suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư.

Suy kiệt là tình trạng đặc trưng bởi chán ăn, giảm cân, yếu hoặc teo cơ và suy nhược tổng thể. Tình trạng này là phổ biến ở những bệnh nhân có khối u ở phổi, tụy và đường tiêu hóa trên (như thực quản, dạ dày). Việc theo dõi và điều trị suy kiệt sớm là rất quan trọng vì tình trạng này rất khó chữa trị.

Bệnh nhân ung thư có thể bị biếng ăn và suy kiệt cùng một lúc. Giảm cân có thể xảy ra do nạp ít  năng lượng hơn, sử dụng nhiều năng lượng hoặc cả hai.

Việc điều trị giảm cân do ung thư và điều trị ung thư là rất quan trọng

Việc điều trị sớm các triệu chứng của ung thư cũng như những tác dụng phụ ảnh hưởng đến ăn uống và làm giảm cân là rất quan trọng. Liệu pháp dinh dưỡng và thuốc men có thể giúp các bệnh nhân duy trì trọng lượng tốt. Thuốc có thể được sử dụng cho những mục đích sau:

  • Để giúp tăng sự thèm ăn
  • Để giúp tiêu hóa thức ăn
  • Để giúp các cơ dạ dày và ruột co thắt (giúp thức ăn di chuyển trong lòng ruột tốt hơn)
  • Để ngăn ngừa hoặc điều trị buồn nôn và ói mửa
  • Để ngăn ngừa hoặc điều trị tiêu chảy
  • Để ngăn ngừa hoặc điều trị táo bón
  • Để ngăn ngừa và điều trị các vấn đề ở miệng (như khô miệng, nhiễm trùng, đau nhức và loét)
  • Để ngăn ngừa và kiểm soát cơn đau

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/patient/

Bài viết Tổng quan về dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Những loại chăm sóc dinh dưỡng https://yhoccongdong.com/thongtin/nhung-loai-cham-soc-dinh-duong/ Wed, 15 Jan 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/nhung-loai-cham-soc-dinh-duong/

Việc ăn uống bằng miệng luôn là tốt nhất nếu có thể. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể không có đủ dinh dưỡng qua đường miệng vì các vấn đề liên quan đến bệnh ung thư hoặc việc điều trị ung thư. Một số loại thuốc giúp tăng cảm giác thèm ăn có thể được sử dụng.

Bài viết Những loại chăm sóc dinh dưỡng được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

các loại chăm sóc dinh dưỡng

Hỗ trợ dinh dưỡng là cung cấp dinh dưỡng cho những bệnh nhân không thể ăn uống hoặc tiêu hóa bình thường

Việc ăn uống bằng miệng luôn là tốt nhất nếu có thể. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể không có đủ dinh dưỡng qua đường miệng vì các vấn đề liên quan đến bệnh ung thư hoặc việc điều trị ung thư. Một số loại thuốc giúp tăng cảm giác thèm ăn có thể được sử dụng.

Hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân không thể ăn có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau

Một bệnh nhân không có đủ dinh dưỡng qua đường miệng có thể ăn hoặc được cho ăn bằng dinh dưỡng qua đường ruột (thông qua một ống xông đưa vào dạ dày hay ruột) hoặc dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch (truyền vào máu). Các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể dưới dạng chất lỏng, bao gồm nước, chất đạm (protein), chất béo, tinh bột (carbohydrate), vitamin, và/hoặc các khoáng chất .

Sự hỗ trợ dinh dưỡng có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong thời gian điều trị ung thư, nhưng có một số tác hại cần được xem xét trước khi quyết định sử dụng nó. Bệnh nhân và nhân viên y tế nên thảo luận về những tác hại và lợi ích của mỗi loại hỗ trợ dinh dưỡng. (Xem thêm chi tiết ở bài Dinh dưỡng trong ung thư giai đoạn muộn)

Dinh dưỡng qua đường ruột

Dinh dưỡng qua đường ruột còn được gọi là ăn qua ống thông/xông dạ dày .

Dinh dưỡng qua đường ruột là cách đưa dinh dưỡng ở dạng lỏng (thường theo công thức) vào người bệnh nhân thông qua một ống xông/thông được đặt vào dạ dày hoặc ruột non. Các loại ống thông sau đây có thể được sử dụng:

  • Ống thông mũi dạ dày (nasogastric tube) được luồn qua mũi, xuống họng vào dạ dày hoặc ruột non. Loại ống này thường được sử dụng khi dinh dưỡng qua đường ruột là cần thiết chỉ trong một vài tuần.
  • Ống thông dạ dày (gastrostomy tube) hoặc ống thông tá tràng (jejunostomy tube) được đưa vào dạ dày hoặc ruột non (tương ứng) thông qua một lỗ được tạo ra trên bụng (thành bụng). Loại ống này thường được sử dụng để cung cấp thức ăn qua đường ruột dài hạn hoặc cho những bệnh nhân không thể dùng ống xông qua trong mũi và họng.

Loại công thức dinh dưỡng được sử dụng là dựa trên nhu cầu cụ thể của bệnh nhân. Có nhiều loại công thức cho những bệnh nhân có tình trạng bệnh đặc biệt như bệnh tiểu đường, bệnh cao mỡ máu,…Dinh dưỡng có thể được đưa vào cơ thể liên tục hoặc chia nhỏ thành 3-6 lần/ngày, mỗi lần 1-2 chén.

Dinh dưỡng qua đường ruột đôi khi được sử dụng khi bệnh nhân có thể ăn một lượng nhỏ thức ăn qua đường miệng nhưng không đủ để duy trì sức khỏe. Chất dinh dưỡng đưa vào cơ thể qua ống thông có thể tăng thêm năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe.

Dinh dưỡng qua đường ruột có thể được tiếp tục sau khi xuất viện.

Nếu dinh dưỡng qua đường ruột là là một phần của chương trình chăm sóc bệnh nhân sau khi xuất viện, bệnh nhân và người nhà hoặc người chăm sóc sẽ được giải thích và hướng dẫn để thực hiện việc này ở nhà.

Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch

Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch đưa chất dinh dưỡng trực tiếp vào dòng máu.

Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch được sử dụng khi bệnh nhân không thể hấp thụ thức ăn bằng miệng hoặc bằng ống xông/thông nói trên. Phương pháp này không sử dụng dạ dày hoặc ruột để tiêu hóa thức ăn. Các chất dinh dưỡng được truyền trực tiếp vào máu bệnh nhân, thông qua đường truyền tĩnh mạch (ống thông mỏng luồn vào tĩnh mạch). Những chất dinh dưỡng này bao gồm chất đạm (protein), chất béo, vitamin và các khoáng chất.

Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch thường chỉ được sử dụng ở những bệnh nhân cần hỗ trợ dinh dưỡng trong khoảng hơn năm ngày.

Ống thông có thể được đặt vào mạch máu trên ngực hoặc ở cánh tay.

Một ống thông tĩnh mạch trung tâm (central venous catheter) thường được đặt dưới da và đi vào một tĩnh mạch lớn ở ngực, cổ hoặc vùng bẹn. Loại ống thông này có thể được sử dụng để đưa dinh dưỡng vào cơ thể dài hạn.

Một ống thông tĩnh mạch ngoại vi (peripheral venous catheter) thường được đặt vào tĩnh mạch ở cánh tay. Loại ống thông này thường được sử dụng để đưa dinh dưỡng vào cơ thể ngắn hạn.

Bệnh nhân cần được kiểm tra thường xuyên để sớm phát hiện nhiễm trùng hoặc chảy máu tại nơi ống thông đi vào cơ thể.

Việc kết thúc hỗ trợ dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch cần được giám sát y tế.

Việc kết thúc hỗ trợ dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch cần phải được thực hiện từ từ và được giám sát bởi nhóm chăm sóc sức khỏe. Liều lượng dinh dưỡng tiêm qua đường tĩnh mạch cần được giảm từng tí một theo thời gian cho đến khi dừng hẳn hoặc tới khi bệnh nhân chuyển qua sử dụng dinh dưỡng qua đường ruột hoặc đường miệng.

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page3

Bài viết Những loại chăm sóc dinh dưỡng được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Liệu pháp dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/lieu-phap-dinh-duong-trong-cham-soc-ung-thu/ Wed, 15 Jan 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/lieu-phap-dinh-duong-trong-cham-soc-ung-thu/

Các liệu pháp dinh dưỡng giúp bệnh nhân ung thư cải thiện, duy trì chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hồi phục bệnh.

Bài viết Liệu pháp dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Tầm soát và đánh giá được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị ung thư và đánh giá cần được tiếp tục trong suốt quá trình điều trị

Tầm soát được tiến hành để tìm kiếm nguy cơ về dinh dưỡng ở bệnh nhân không có triệu chứng. Việc này có thể giúp tìm hiểu xem bệnh nhân có khả năng bị suy dinh dưỡng hay không, và từ đó đưa ra các phương thức để ngăn chặn.

Liệu pháp dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư

Đánh giá là công tác kiểm tra tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân qua đó giúp quyết định xem bệnh nhân có cần liệu pháp dinh dưỡng để điều trị.

Tầm soát và đánh giá có thể bao gồm các câu hỏi về những điều sau đây:

  • Thay đổi trọng lượng trong năm qua.
  • Những thay đổi về lượng và loại thực phẩm mà bệnh nhân ăn so với thói quen trước đó.
  • Những vấn đề ảnh hưởng đến ăn uống, như chán ăn, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, táo bón, lở miệng, khô miệng, thay đổi vị giác và khứu giác hoặc đau nhức.
  • Khả năng đi lại và các hoạt động khác trong đời sống hàng ngày như mặc quần áo, đi vào hoặc ra khỏi giường hoặc ghế, đi tắm và sử dụng nhà vệ sinh.

Thăm khám lâm sàng cũng được thực hiện để kiểm tra sức khỏe tổng quát cũng như tìm kiếm các dấu hiệu bệnh tật. Bác sĩ sẽ xem xem bệnh nhân có bị giảm cân, mất mỡ, yếu cơ hay bị phù (đọng dịch) hay không.

Tìm và điều trị sớm các vấn đề về dinh dưỡng có thể cải thiện tiên lượng (cơ hội phục hồi) của bệnh nhân

Tầm soát và đánh giá tình trạng dinh dưỡng sớm giúp tìm ra các vấn đề có thể ảnh hưởng đến phản ứng/tương tác của cơ thể với các phương pháp điều trị ung thư. Bệnh nhân bị suy dinh dưỡng hoặc nhẹ cân có thể không chịu nổi quá trình điều trị như những bệnh nhân được nuôi dưỡng tốt. Việc tìm kiếm và chữa trị sớm các vấn đề về dinh dưỡng có thể giúp các bệnh nhân tăng cân hoặc ngăn chặn giảm cân, giảm thiểu các vấn đề có thể phát sinh trong quá trình điều trị và giúp phục hồi sức khỏe.

Nhóm chăm sóc sức khỏe bao gồm các chuyên gia dinh dưỡng sẽ tiếp tục theo dõi các vấn đề dinh dưỡng

Một nhóm hỗ trợ dinh dưỡng sẽ kiểm tra tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân thường xuyên trong suốt quá trình điều trị ung thư và hồi phục. Nhóm chăm sóc có thể bao gồm:

  • Bác sĩ
  • Y tá
  • Chuyên gia dinh dưỡng
  • Nhân viên xã hội
  • Nhà tâm lý học

Một bệnh nhân có tôn giáo không cho phép ăn các loại thực phẩm nhất định có thể muốn nói chuyện với cố vấn tôn giáo về việc cho phép dùng những loại thực phẩm đó trong quá trình điều trị ung thư và hồi phục.

Ba mục tiêu chính của liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư

Mục tiêu chính của liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân trong quá trình điều trị tích cực và giai đoạn hồi phục là cung cấp các chất dinh dưỡng bị thiếu, duy trì tình trạng dinh dưỡng và ngăn chặn các vấn đề liên quan. Nhóm chăm sóc sức khỏe sẽ sử dụng liệu pháp dinh dưỡng để làm các việc như sau:

  • Ngăn chặn hoặc điều trị các vấn đề dinh dưỡng, bao gồm cả yếu cơ và yếu xương.
  • Giảm tác dụng phụ của điều trị ung thư và các vấn đề ảnh hưởng đến dinh dưỡng.
  • Duy trì sức mạnh và sinh lực cho bệnh nhân.
  • Giúp hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng.
  • Giúp cơ thể phục hồi và lành lặn.
  • Duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Tình trạng dinh dưỡng tốt cũng rất quan trọng khi bệnh đã thuyên giảm hoặc khỏi hẳn.

Mục tiêu của liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn là để cải thiện chất lượng cuộc sống

Các mục tiêu của liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn bao gồm:

  • Kiểm soát những tác dụng phụ.
  • Giảm nguy cơ nhiễm trùng.
  • Duy trì sức mạnh và sinh lực.
  • Cải thiện hoặc duy trì chất lượng cuộc sống.

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page2

Bài viết Liệu pháp dinh dưỡng trong chăm sóc ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Chế độ dinh dưỡng và lối sống của những bệnh nhân ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/che-do-dinh-duong-va-loi-song-cua-nhung-benh-nhan-ung-thu/ Tue, 07 Jan 2014 17:00:00 +0000 http://localhost/yhoccongdong/thongtin/che-do-dinh-duong-va-loi-song-cua-nhung-benh-nhan-ung-thu/

Mọi người đều cần có một chế độ ăn uống khoa học và thường xuyên tập thể dục để có sức khỏe tốt và ngăn ngừa bệnh tật. Bệnh nhân ung thư có những nhu cầu sức khỏe đặc biệt, bởi vì họ phải đối mặt với những nguy cơ liên quan đến tác dụng phụ muộn cũng như sự tái phát của căn bệnh này

Bài viết Chế độ dinh dưỡng và lối sống của những bệnh nhân ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Bệnh nhân ung thư có những nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt

Mọi người đều cần có một chế độ ăn uống khoa học và thường xuyên tập thể dục để có sức khỏe tốt và ngăn ngừa bệnh tật. Bệnh nhân ung thư có những nhu cầu sức khỏe đặc biệt, bởi vì họ phải đối mặt với những nguy cơ liên quan đến tác dụng phụ muộn cũng như sự tái phát của căn bệnh này. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một chế độ ăn uống khoa học giúp ngăn ngừa một loạt các tác dụng phụ muộn như bệnh béo phì, bệnh tim mạch, và hội chứng chuyển hóa. Các nhà nghiên cứu cũng đang tìm hiểu liệu một số chế độ ăn và thói quen vận động của những bệnh nhân sau điều trị ung thư có thể giúp  bệnh không bị tái phát hoặc tránh được bệnh ung thư mới xuất hiện hay không.

dinh dưỡng cho người bệnh ung thư

Chế độ ăn uống khoa học và lối sống có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân ung thư

Khảo sát cho thấy nhiều bệnh nhân ung thư đã không làm theo những hướng dẫn về cách thức phòng ngừa ung thư và có những hành vi, lối sống mà theo đó có thể làm tăng nguy cơ của tác dụng phụ muộn hoặc thậm chí làm cho những hậu quả này xấu hơn.

Những chương trình giáo dục có thể giúp bệnh nhân ung thư học cách thay đổi hành vi lối sống để giữ gìn sức khỏe ngày một tốt hơn. Chương trình bao gồm chế độ ăn uống, tập thể dục, và xử trí sự căng thẳng có nhiều khả năng giúp cho những bệnh nhân ung thư thích ứng  được những sự thay đổi này.

Những ảnh hưởng của chế độ ăn uống và lối sống đối với căn bệnh ung thư vẫn tiếp tục được nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.gov/cancertopics/pdq/supportivecare/nutrition/Patient/page8

Bài viết Chế độ dinh dưỡng và lối sống của những bệnh nhân ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>