Y Học Cộng đồng https://yhoccongdong.com Dự án “Y Học cùng cộng đồng” phổ biến những kiến thức khoa học và thường thức về y học cho cộng đồng Việt Nam Sun, 21 Jan 2018 16:00:22 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.7.9 Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe https://yhoccongdong.com/thongtin/14927/ Sun, 21 Jan 2018 10:10:05 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14927 hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

Nói tới thực phẩm chức năng, chúng ta nghĩ rằng đó là loại thực phẩm “nếu sử dụng sẽ có lợi cho sức khỏe”. Các loại thực phẩm chức năng rất dễ nhầm lẫn với thuốc y tế

Bài viết Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 

 Ở Việt Nam nhiều người đang dùng SAI từ “Thực phẩm chức năng” để chỉ cho nhiều thứ thật ra chưa được chứng minh “chức năng” gì. Y học cộng đồng xin giới thiệu bản dịch bài viết cùng tên của bà Umegaki Keizo, Trưởng trung tâm thông tin thuộc Viện nghiên cứu Sức khỏe và Dinh dưỡng Nhật Bản.

hãy hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 Phân loại thực phẩm liên quan tới sức khỏe

 Hàng ngày, những gì chúng ta ăn uống vào cơ thể được chia ra làm 2 loại: Thực phẩm và Dược phẩm. Thực phẩm chức năng thuộc vào nhóm thực phẩm (Hình 1).

 Các thực phẩm liên quan tới sức khỏe được chia làm 2 nhóm. Một nhóm là thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe, được chính phủ cho phép ghi rõ chức năng, được gọi là Thực phẩm có tác dụng đặc định đối với sức khỏe và thực phẩm có chức năng dinh dưỡng. Nhóm kia là các loại thực phẩm không được phép ghi chức năng, nhưng trong dân gian lại hay bị gọi thành “thực phẩm chức năng”. Việc ghi rõ thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe do Luật tăng cường sức khỏe quy định. Trong khi đó, “Cái được gọi là thực phẩm chức năng” gồm có các loại thực phẩm bổ sung, thực phẩm hỗ trợ dinh dưỡng, thực phẩm hỗ trợ sức khỏe, thực phẩm thiên nhiên… Những loại thực phẩm này không có định nghĩa mang tính pháp lý.

Hình 1. Phân loại Thực phẩm và Dược phẩm ở Nhật Bản.

 Những loại thực phẩm mang chức năng tốt cho sức khỏe được chỉ định là những sản phẩm được nhà nước xác định là có tác dụng và an toàn đối với con người và cho phép ghi rõ trên nhãn. Đối với loại thực phẩm có chức năng dinh dưỡng, những loại vitamin và khoáng chất đã từ lâu được công nhận về tác dụng và độ an toàn đối với con người thì nếu đáp ứng được quy định của chính phủ về hàm lượng có trong sản phẩm đó thì được phép ghi chức năng dinh dưỡng trên nhãn. Những sản phẩm nói trên cũng chỉ là một trong những mặt hàng thực phẩm, KHÔNG ĐƯỢC GHI “có tác dụng “trị bệnh” hoặc “điều trị” như thuốc y tế.

 “Cái hay được gọi là thực phẩm chức năng” cũng không được ghi những chức năng về sức khỏe và dinh dưỡng trên nhãn. Trong trường hợp này, nhà sản xuất và phân phối hay tìm cách phổ biến “Câu chuyện của người đã sử dụng” để quảng bá cho tác dụng của sản phẩm.

 Trong những sản phẩm được phân loại thành “cái gọi là thực phẩm chức năng” có những sản phẩm được ca ngợi là có tác dụng điều trị bệnh tật giống như thuốc, hoặc có thêm thành phần dược phẩm một cách bất hợp pháp. Những mặt hàng này, nếu bị các cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện ra, sẽ bị công bố và liệt vào danh sách những “thuốc y tế không được công nhận và không có giấy phép”.

Thực phẩm chức năng khác với thuốc y tế như thế nào

 Các loại thực phẩm chức năng được chế tạo dưới dạng viên hoặc viên nang rất dễ nhầm lẫn với thuốc y tế nhưng đây là hai hai mặt hàng hoàn toàn khác nhau. Đó là sự khác nhau về chất lượng sản phẩm (hàm lượng chất có hiệu lực, và có chất gây hại hay không), tính hiệu quả và an toàn có cơ sở khoa học cụ thể hay không (chứng cớ về khả năng điều trị bệnh) và môi trường sử dụng (có cơ cấu hỗ trợ mang tính chuyên môn hay không).

 Để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả, điều quan trọng là trong sản phẩm đó phải có “một lượng nhất định” những thành phần có hiệu quả và không có thành phần gây hại”. Tất cả các loại thuốc y tế đều được chế tạo dựa trên quy định về GMP (Good Manufacturing Practice) – “Quy định Sản xuất Tốt”, để đảm bảo có được sản phẩm có chất lượng ổn định. Nhưng hiện nay, phần lớn các thực phẩm chức năng không được chế tạo dựa trên tiêu chuẩn GMP này. Cũng có người nhầm lẫn giữa thuốc Bắc (Kampoyaku) và thực phẩm chức năng. Mặc dù cùng sử dụng cùng thành phần thực vật, nhưng thuốc Bắc tại Nhật Bản là thuốc y tế được đảm bảo về chất lượng.

 Cũng có những loại thực phẩm chức năng được quảng cáo là “có sử dụng thành phần thuốc y tế”. Nhưng thực ra, hàm lượng của thành phần của chất được ghi trên nhãn có trong sản phẩm đó ít đến mức không thể hy vọng là có tác dụng được. Cách sử dụng cũng như mục đích sử dụng cũng khác với thuốc y tế. Ví dụ: Gluosamine hydrochloride, một chất được cho là có tác dụng tốt trên khớp, thật ra đang được dùng trong một số thuốc y tế thông dụng (mua không cần đơn) nhóm 3 theo kiểu làm “phụ gia” chứ không phải vì là thành phần mang hiệu lực. Hoặc Hyaluronic acid được sử dụng để làm thuốc cải thiện chức năng của khớp chẳng hạn. Acid này chỉ có tác dụng khi ở dạng sản phẩm sau tinh chế với độ thuần khiết cao và được các cơ sở y tế dùng để tiêm vào khớp chứ không phải dùng qua đường uống.

 Khác với các loại thực phẩm chức năng, các loại dược phẩm đã được nghiên cứu và kiểm tra độ an toàn và tính hiệu quả trong việc chữa bệnh cho người và được các bác sĩ, dược sĩ tham gia tư vấn để đảm bảo cho người sử dụng an toàn và có hiệu quả. Ngoài ra, đối với những loại dược phẩm được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp phép lưu hành chính thức trong nước (Nhật Bản), nếu xảy ra hậu quả nghiêm trọng liên quan tới sức khỏe người tiêu dùng thì Nhà nước sẽ có chế độ cứu trợ tác dụng ngoại ý để hỗ trợ. Ngược lại, các thực phẩm chức năng thì không có chế độ này.

Những vấn đề của thực phẩm chức năng

 Nói tới thực phẩm chức năng, chúng ta thường mường tượng rằng đó là loại thực phẩm mà “nếu sử dụng sẽ có lợi cho sức khỏe”. Tuy nhiên, có loại thực phẩm được kiểm chứng rõ ràng về tính an toàn và hiệu quả sử dụng, nhưng cũng có loại hoàn toàn không được đánh giá gì. Ngoài ra, cũng có loại thêm vào thành phần thuốc y tế một cách bất hợp pháp.

 Về tác hại của thực phẩm chức năng, người ta chia thành “tác hại kinh tế” do mua và sử dụng loại hàng đắt tiền và “tác hại sức khỏe”. Nhìn chung, loại liên quan tới tác hại sức khỏe thường là các sản phẩm dạng viên hoặc viên nang. Lý do là vì các sản phẩm dạng viên và viên nang dễ bị nhầm với dược phẩm và dễ bị sử dụng để “chữa bệnh”. Hơn nữa, vì nồng độ/hàm lượng của một số chất nhất định có thể cao hơn trong các sản phẩm này, so với thức ăn hàng ngày, thực phẩm chức năng có thể ảnh hưởng lên cơ thể mạnh hơn và do vậy dễ có những tác dụng không mong muốn. Ngoài ra, những sản phẩm đắt tiền và hiếm thường có xu hướng gây hiểu nhầm là có thể kỳ vọng vào tác dụng chữa bệnh.

 Thực phẩm chức năng cũng có thể ảnh hưởng lên sức khỏe do sử dụng sản phẩm kém chất lượng, dùng quá nhiều, dùng ở người bị dị ứng/mẫn cảm hoặc tương tác với thuốc y tế. Cách nghĩ “Thực phẩm chức năng là thực phẩm nên có uống nhiều thì cũng không có vấn đề gì” sẽ dẫn tới việc tự ý sử dụng quá nhiều khi thấy không có hiệu quả, cũng là một đặc điểm rất cần lưu ý.

 Vì có quá nhiều loại thực phẩm chức năng, và người tiêu dùng tự phán đoán sử dụng chúng, nên hiện các cơ quan hữu trách của Nhật Bản không thể nắm bắt được chính xác hiện trạng cụ thể về tác hại lên sức khỏe của thực phẩm chức năng. Theo một cuộc khảo sát do Cục Bảo vệ Sức khỏe và Phúc lợi Tokyo, có khoảng 4% số người sử dụng thực phẩm chức năng cho biết cơ thể có vấn đề, đa phần là tiêu chảy, đau bụng, những triệu chứng dị ứng như phát ban, mẩn ngứa… Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết chức năng gan đã bị ảnh hưởng ở một số người.

 Một trong những ví dụ về tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe là việc dùng thực phẩm chức năng cùng với thuốc y tế, đặc biệt là ở những người đang bị ốm. Khi cơ thể đang yếu, bệnh nhân dễ bị ảnh hưởng xấu bởi những thành phần hấp thụ thêm. Trong trường hợp này, khi dùng chung với thuốc y tế, thì hiệu quả thuốc có thể bị giảm, và dễ gặp tác dụng phụ/ngoại ý hơn. Ví dụ: đối với người sử dụng thuốc chống đông máu Warfarin, nếu uống loại nước Aojiru, một loại thực phẩm chức năng có nhiều Vitamin K hoặc ăn natto (một loại đậu tương luộc chín lên men) thì chúng sẽ tương tác nhau làm giảm hiệu quả của warfarin, tăng nguy cơ bị tắc mạch máu (hiện tượng huyết khối).

 Vì vậy, ngay cả những chất mà chúng ta thu nạp hàng ngày từ thực phẩm, như vitamin hoặc khoáng chất, nếu được cô đặc thành chế phẩm thì có thể dẫn tới tương tác thuốc khi sử dụng cùng với thuốc y tế. Hiện nay, hầu như rất khó nắm bắt và dự đoán được khả năng tương tác chéo giữa thực phẩm chức năng và thuốc y tế. Lý do là vì không có số liệu chính xác về lượng và độ tinh khiết của những nguyên liệu đang sử dụng trong các loại thực phẩm này. Hơn nữa, người tiêu dùng thường tự quyết định sử dụng những sản phẩm chưa rõ thành phần, liều lượng và ảnh hưởng lên sức khỏe con người, nên cũng không thể phán đoán được có xảy ra tương tác thuốc hay không.

Những cách quảng cáo liên quan tới thực phẩm chức năng cần lưu ý

 Thực phẩm chức năng thường được chào bán với những câu văn hấp dẫn như: “Người nổi tiếng cũng sử dụng”, “Có những hóa chất hiếm”, “Đã trị được bệnh”, “Đã có bằng sáng chế”, “Đã được giải thưởng…”. Những câu văn như trên không đảm bảo cho tính hiệu quả, an toàn của sản phẩm. Thực phẩm chức năng, dù gì cũng chỉ là thực phẩm nên chúng ta cần phải cẩn thận với loại câu như “Đã trị được bệnh”. Cho tới thời điểm này, chưa có chứng cớ nào rõ ràng cho thấy thực phẩm chức năng đã trị được bệnh. Bảng dưới đây tổng hợp những loại câu nói phổ biến thường quảng cáo kèm các loại thực phẩm chức năng và các điểm lưu ý.

1

“Có hiệu quả ngay”, “Vạn năng”, “Cao nhất”, “Kỳ diệu”, “Đáng ngạc nhiên” Cần lưu ý tới những luận điệu tạo cảm giác kỳ vọng vào những điều kỳ diệu

2

“Thiên nhiên, tự nhiên”, “Hãy yên tâm vì đây là thực phẩm”, “An toàn với phụ nữ có mang và trẻ em” Các loại câu văn gây ấn tượng về tính an toàn. Trong những chất tự thiên, thiên nhiên cũng có nhiều chất độc. Ngay cả những chất đã biết rõ, trường hợp dùng quá nhiều cũng có khả năng gây hại. Không có thực phẩm chức năng nào đã được kiểm định là an toàn trên phụ nữ có thai và trẻ em.

3

“Có thành phần bí mật”, “Thành phần hiếm có”, “Chất có bản quyền” Những câu trên không có liên quan gì tới công hiệu mà các bạn mong đợi. Dù có là chất có bản quyền thì cũng không liên quan gì tới công hiệu cả.

4

“Được cho là có tác dụng với xxx”. “Có thành phần hiệu lực xxx” Cách nói mang tính truyền miệng thường không minh bạch. Dù có thành phần hiệu lực nhưng với hàm lượng thấp thì cũng không thể có công hiệu như mong đợi.

5

“Đã chữa được bệnh xxx” Những loại thực phẩm chức năng mà ai cũng có thể mua được thì không thể nào có tác dụng đủ mạnh để chữa bệnh. Ngoài ra, không có báo cáo nào nói về việc kiểm chứng tác dụng chữa bệnh trên người của các thực phẩm đó.

6

“Liệu pháp cổ truyền”, “Có chuyên gia công nhận”, “Có câu chuyện thực tế” Đây là những thông tin thu được trong những điều kiện đặc biệt và không chứng minh hiệu lực một cách khách quan. Cũng có khả năng bệnh khỏi là do tác dụng chính của thuốc điều trị mà người ta không nhắc tới. Câu chuyện trải nghiệm của một số người không có chứng cớ rõ ràng, và cũng đã có trường hợp là bịa đặt.

7

Được chính phủ (Bộ Y tế-Lao động-Phúc lợi hoặc Cục Bảo vệ Người tiêu dùng) chứng nhận Trừ những loại thực phẩm tốt cho sức khỏe được cấp phép, chính phủ không kiểm tra tính an toàn, hiệu lực của sản phẩm và KHÔNG chứng nhận bất cứ loại thực phẩm chức năng nào.

Bảng 2. Những cách nói hay được dùng để quảng cáo “thực phẩm chức năng”.

 Theo kết quả của một cuộc khảo sát, người sử dụng thực phẩm chức năng thường có xu hướng nghĩ rằng “Sản phẩm có đắt đi chăng nữa thì cũng nên ghi rõ tác dụng”. Tuy nhiên hiện nay, ngoài các loại vitamin và chất khoáng, chưa có hóa chất nào có chứng cớ đầy đủ về tác dụng trên cơ thể người để có thể ghi trên nhãn mác. Mặt khác, giả sử có tác dụng đi chăng nữa thì cũng có nghĩa rằng chúng có thể gây ra tác dụng không mong muốn. Những sản phẩm chỉ nhấn mạnh tới tác dụng mà không đề cập tới những tác hại tiềm ẩn thì không thể nói là những sản phẩm đáng tin. Ngay cả với những sản phẩm tốt thì cũng không phải là an toàn đối với tất cả mọi người. Tùy người, tùy cách sử dụng mà ảnh hưởng xấu vẫn có thể xảy ra.

Mua hàng qua mạng internet

 Mạng internet phổ biến đã khiến việc mua bán các loại thực phẩm chức năng cả trong và ngoài nước trở nên dễ dàng. Mua hàng qua mạng rất tiện lợi nhưng cũng có điểm bất lợi là “Không thể tự tay cầm hàng lên xem”, “Không xác nhận được tất cả mọi chi tiết ghi trên nhãn hàng”, “Không trực tiếp hỏi được về sản phẩm”… nên không thể xác nhận đầy đủ về sản phẩm trước khi mua. Hơn một nửa thực phẩm chức năng bị công bố là vi phạm pháp luật đã và đang được mua bán qua mạng.

 Do các cơ quan chức năng không đủ sức để điều tra toàn diện việc bán hàng qua mạng nên vẫn có những sản phẩm được bán ra với quảng cáo quá tay. Ví dụ, “Sản phẩm có thể tăng chiều cao thêm 10 cm dù đã qua độ tuổi trưởng thành!” là những chuyện hoàn toàn không thể có nhưng vẫn được quảng cáo. Đối với những sản phẩm có cơ sở sản xuất và chất lượng rõ ràng, đã được bản thân sử dụng nhiều lần thì việc tiếp tục mua trên mạng internet khá tiện lợi. Tuy nhiên, việc mua qua mạng những sản phẩm không biết rõ, không thể xác nhận chi tiết thì thật không phải là cách thông minh.

Cách sử dụng phù hợp

Điểm cơ bản của việc nâng cao sức khỏe là “Ăn uống cân bằng về dinh dưỡng, tập luyện phù hợp và nghỉ ngơi”. Người khỏe mạnh ai cũng có thể hiểu được rằng các thực phẩm chức năng sẽ không có tác dụng như thuốc y tế. Mặc dù thực phẩm chức năng không thể chữa được bệnh, nhưng cũng có người lo lắng cho sức khỏe của mình, hoặc bị ốm đau và muốn dùng thử những thực phẩm này. Hơn nữa, người thân, bạn bè, người quen biết lo lắng cho mình và cũng giới thiệu thì hẳn lại càng muốn sử dụng thử xem sao. Trước hết, điều quan trọng là phải bình tĩnh nghĩ xem liệu mình có “thực sự cần loại thực phẩm chức năng” đó hay không. Tuy nhiên nếu bạn vẫn muốn sử dụng thì cần lưu ý mấy điểm như sau:

  1. Trước khi sử dụng

 Trước hết, hãy lựa chọn sản phẩm có hình dạng, liều lượng, mùi, vị tương tự với thực phẩm tự nhiên chứ đừng lựa chọn những sản phẩm dễ sử dụng quá liều/nhiều như loại dạng viên hoặc viên nang. Đừng dựa vào những câu văn hấp dẫn trong quảng cáo hoặc dựa vào kinh nghiệm của những người đã từng sử dụng, mà cần phải TỰ MÌNH TÌM HIỂU về tính an toàn, công hiệu của những thành phần có trong sản phẩm đó. Chúng ta nên biết rằng những thông tin mà bạn bè, người quen cung cấp, phần lớn đều do người bán hàng cung cấp. Chúng ta hãy xác nhận xem, sản phẩm đó có nhãn GMP (hình 2) đảm bảo về chất lượng sản phẩm, lượng hóa chất có trong sản phẩm hoặc địa chỉ nhà sản xuất để liên lạc khi cần thiết… hay không.

  1. Khi sử dụng

 Luôn nhớ rằng đó là một loại thực phẩm và được sử dụng với vai trò hỗ trợ. Dùng thực phẩm chức năng cần kèm theo nỗ lực để làm sao cải thiện thói quen cuộc sống (ví dụ xem lại việc thay đổi chế độ ăn uống, tập thói quen vận động…). Không sử dụng nhiều loại thực phẩm chức năng dưới dạng viên hoặc viên nang cùng một lúc và không nên mong đợi các loại thực phẩm đó có tác dụng như thuốc y tế. Tránh dùng chung với thuốc y tế. Trường hợp muốn dùng chung, nên hỏi ý kiến của các nhà chuyên môn như bác sĩ, dược sĩ. Cần ghi lại quá trình sử dụng (tham khảo bảng 3) để biết rõ bản thân có cảm thấy tốt hơn trong quá trình sử dụng hay không. Khi cảm thấy tình trạng sức khỏe không tốt thì nên dừng ngay và xin tư vấn từ các nhân viên/ cơ quan y tế.

 Để biết thêm những kiến thức cơ bản, chi tiết về thực phẩm chức năng cũng như tính an toàn, hiệu lực của các thành phần hóa chất, hãy tham khảo “Thông tin về tính an toàn và hiệu lực của Thực phẩm chức năng” do Viện Nghiên cứu Sức khỏe và Dinh dưỡng Nhật Bản phát hành.

Tên thuốc 1

(Tên công ty sản xuất)

Tên thuốc 2

(Tên công ty sản xuất)

Ghi chú

(Tình trạng cơ thể/ thắc mắc)

Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần 2 viên x 1 lần Tình trạng không thay đổi gì
Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần Không uống Tình trạng tốt
Ngày/tháng/năm Không uống 2 viên x 1 lần Tình trạng xấu (đau dạ dày)
Ngày/tháng/năm 2 viên x 3 lần 2 viên x 1 lần Tình trạng xấu (bị mẩn ngứa)

Bảng 3. Bảng theo dõi quá trình sử dụng “thực phẩm chức năng”.

Ghi chú:

Những chất có chức năng dinh dưỡng được phép ghi trên nhãn là 12 loại vitamin, gồm có (Acid Niacin, Acid Pantothenic (Vitamin B5), Biotin (Vitamin H), Vitamin A, B1, B2, B6, B12, C, D, E, Acid folic) và 5 loại vi khoáng (sắt, canxi, ma-giê, đồng, kẽm). Các loại thực phẩm này phải được quy định rõ lượng dùng an toàn của thành phần tương ứng trong 1 ngày và lượng của thành phần đó phải nằm trong phạm vi tối thiểu được quy định. Và trên nhãn dán không những ghi rõ chức năng dinh dưỡng mà còn phải ghi cả những điểm cần phải chú ý nữa.

Tài liệu tham khảo

http://www.kokusen.go.jp/wko/pdf/wko-201306_01.pdf

Bài viết Hiểu đúng về thực phẩm liên quan tới sức khỏe được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Mẹo chăm sóc da trước, trong và sau xạ trị https://yhoccongdong.com/thongtin/meo-cham-soc-da-sau-xa-tri/ Sat, 20 Jan 2018 09:04:19 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14912 Chăm sóc da sau xạ trị

 Dưới đây là một vài điều bạn có thể làm để giúp da bớt mẫn cảm hơn trong quá trình xạ trị và giúp da trở lại bình thường sau khi kết thúc xạ trị. Ngăn ngừa kích ứng trước và sau khi điều trị hàng ngày Mặc áo sơ mi rộng, tốt nhất là …

Bài viết Mẹo chăm sóc da trước, trong và sau xạ trị được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Chăm sóc da sau xạ trị

 

Dưới đây là một vài điều bạn có thể làm để giúp da bớt mẫn cảm hơn trong quá trình xạ trị và giúp da trở lại bình thường sau khi kết thúc xạ trị.Chăm sóc da sau xạ trị

Ngăn ngừa kích ứng trước và sau khi điều trị hàng ngày

  • Mặc áo sơ mi rộng, tốt nhất là từ chất liệu cotton (bông vải).
  • Sử dụng nước ấm hơn là dùng nước nóng trong khi tắm.
  • Cố gắng không để nước xối trực tiếp lên ngực và vùng xạ trị.
  • Tránh xoa xà phòng có nhiều mùi thơm; thay vào đó sử dụng xà phòng không mùi với chất làm ẩm (như Dove).
  • Ngăn ngừa chứng đỏ và kích ứng da bằng cách tránh tiếp xúc da-với-da. Điều này thường xảy ra ở:

– Nơi cánh tay ép vào nách và phần bên ngoài ngực/vú.

– Dọc theo phần dưới vú, nơi mà một phần vú nằm đè lên thành bụng hay thành ngực.

– Dọc theo khe giữa hai vú.

Để tránh tiếp xúc da-với-da

  • Cố gắng để cánh tay xa cơ thể khi nào có thể.
  • Mang áo ngực cứng/mạnh không có gọng (underwire) để giữ cho ngực nâng lên tách khỏi da phía dưới.
  • Nếu bầu vú lớn, hãy chèn một khăn mềm hoặc mảnh vải bông mềm dưới và giữa hai vú khi không đeo áo ngực.
  • Thường xuyên lau sạch vùng da trên vùng xạ trị bằng bột bắp (cornstarch) để hút ẩm, giảm ma sát và giữ cho da khỏe khoắn. Bạn có thể sử dụng bột trẻ em làm từ bột bắp (không dùng talc vì có các chất có thể gây dị ứng) hoặc bột bắp đã rây lọc sạch. Quệt bột với chổi trang điểm sạch sẽ. Bạn cũng có thể gói một ít bột bắp vào tất nylon cao (single knee-high nylon) hoặc tất mỏng, cột lại ở phía trên rồi nhẹ nhàng sáp vào da để thấm bột lên bề mặt da. Nếu bác sĩ của bạn đã khuyên sử dụng kem, hãy dùng kem đó trước rồi rắc bột bắp lên bề mặt đó.
  • Nhiễm nấm thường hay xảy ra ở phần da ở dưới vú, ngay cả khi không xạ trị, đặc biệt là trong thời tiết ấm và ở phụ nữ có bầu ngực lớn. Các dấu hiệu nhiễm nấm là đỏ, ngứa, và đôi khi là một chất trắng mờ trên da. Nếu bị nhiễm nấm men, hãy chữa trị nó trước khi xạ trị để tình hình không tệ hơn. Kem chữa nấm thường có tác dụng tốt.

Xử trí các kích ứng trong và sau khi xạ trị

  • Khi bắt đầu điều trị, trước khi bạn có bất kỳ phản ứng phụ nào, hãy giữ ẩm da sau khi điều trị hàng ngày với thuốc mỡ như A&D, Eucerin, Aquaphor, Biafene, hoặc Radiacare. Bạn cũng có thể thoa kem vào ban đêm; mặc áo thun cũ để thuốc mỡ không dính lên quần áo ngủ.
  • Khi da bị hồng nhẹ, ngứa và rát, hãy dùng sản phẩm từ Lô hội (Aloe vera) hoặc thử 1% kem hydrocortisone (có thể mua không cần toa, tốt hơn là sau khi hỏi ý bác sĩ). Thoa một lớp kem mỏng lên vùng bị ảnh hưởng 3 lần một ngày.
  • Khi da trở nên đỏ, ngứa, đau, rát bỏng hơn, và kem có ít hiệu quả, hãy hỏi bác sĩ xem có có thể dùng kem steroid mạnh hơn theo đơn không. Ví dụ: kem có 2,5% hydrocortisone và bethamethasone.
  • Một số người cảm thấy dễ chịu hơn bằng cách thổi không khí lên vùng ảnh hưởng bằng máy sấy tóc đặt ở chế độ “gió mát” hoặc “không khí” (không nóng).
  • Đừng đeo áo ngực nếu có những vùng mất/rách da.
  • Nếu da trở nên khô ráp và trong quá trình điều trị, hãy giữ ẩm da và nhẹ nhàng làm sạch da.
  • Nếu da phồng rộp, hãy giữ nguyên hiện trạng vì lớp “bong bóng” da đó sẽ giúp giữ da sạch trong khi da mới phát triển lại bên dưới. Nếu chỗ phồng da bị vỡ, vùng da bộc lộ có thể gây đau và chảy nước. Giữ cho vùng đó tương đối khô và chỉ rửa bằng nước ấm. Sau khi lau khô, bạn nên dùng băng thay không dính, chẳng hạn như miếng lót Xeroform (có chứa petroleum jelly) hoặc các chất kích thích tạo da của một số công ty. Để giảm bớt sự khó chịu do phồng rộp hoặc tróc da, hãy dùng thuốc giảm đau thông thường hoặc yêu cầu bác sĩ kê toa.

Có nên tiếp xúc với ánh nắng trong khi xạ trị?

  • Trong quá trình xạ trị, nên giữ vùng xạ trị hoàn toàn khỏi ánh nắng mặt trời.
  • Khi đi bơi, hãy dùng đồ tắm với đường viền cổ cao.
  • Mặc áo choàng khi bạn không ở trong nước.
  • Dùng áo cotton quá cỡ để che khu vực được điều trị và để nó thông thoáng.
  • Tránh chlorine/clo vì nó gây khô và có thể làm cho da chuyển tệ hơn.
  • Nếu bơi trong một bể bơi, bạn có thể muốn thoa petroleum jelly (một sản phẩm như Vaseline) trên khu vực xạ trị để nước clo không dính vào đó.

Lưu ý khi tiếp xúc với ánh nắng sau xạ trị

Sau khi xạ trị, da vùng đó có thể nhạy cảm hơn với ánh nắng. Bạn có thể ra ngoài dưới ánh mặt trời và vui chơi, nhưng nên tiếp tục bảo vệ làn da của mình

  • Sử dụng kem chống nắng có chỉ số SPF 30 hoặc cao hơn trên khu vực đã xạ trị.
  • Thoa kem chống nắng 30 phút trước khi đi ra nơi có ánh mặt trời.
  • Thoa lại kem chống nắng sau vài giờ, cũng như khi ra khỏi mặt nước

Tài liệu tham khảo

http://www.breastcancer.org/treatment/radiation/skin/care

http://www.breastcancer.org/treatment/radiation/skin/reactions

https://www.mskcc.org/cancer-care/patient-education/skin-care-guidelines-patients-receiving-radiation-therapy

Bài viết Mẹo chăm sóc da trước, trong và sau xạ trị được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Một số kiến thức cơ bản liên quan tới điều trị các bệnh ung thư https://yhoccongdong.com/thongtin/mot-kien-thuc-co-ban-lien-quan-toi-dieu-tri-benh-ung-thu/ Wed, 17 Jan 2018 05:26:18 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14898 một số kiến thức cơ bản liên quan đến điều trị ung thư

Những điều cần lưu ý trong điều trị ung thư, các phương pháp điều trị ung thư và những hiểu biết chưa chính xác về điều trị ung thư

Bài viết Một số kiến thức cơ bản liên quan tới điều trị các bệnh ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
một số kiến thức cơ bản liên quan đến điều trị ung thư

 

1. Những điều cần lưu ý trong điều trị ung thư

Trước tiên, cần hiểu rằng Điều trị ung thư, Điều trị BỆNH ung thư, Phục hồi SỨC KHỎE cho người bệnh ung thư, và Kiểm soát bệnh ung thư cho cộng đồng là những khái niệm khác nhau.
Điều trị ung thư là chỉ nói đến điều trị tế bào, khối u (bướu ung thư) với các phương hướng và vũ khí điều trị chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn dưới đây.

Điều trị BỆNH ung thư là nói đến điều trị ung thư VÀ những hệ lụy của nó.

Điều trị bệnh ung thư còn có thể thêm những công việc:

  • Điều trị triệu chứng (chăm sóc giảm nhẹ)

Kết hợp nhiều phương pháp để giảm nhẹ sự thống khổ của bệnh nhân. Hiện nay trong các bệnh viện ung thư có khoa chuyên chăm sóc giảm nhẹ.

  • Điều trị cấp cứu

Xử lý ngay các vấn đề có thể gây tử vong như nhiễm trùng, tắc mạch máu, thủng ruột,…

  • Điều trị hỗ trợ, bao gồm cải thiện dinh dưỡng, điều trị tâm lý, tâm linh

Các chương trình tư vấn hỗ trợ dinh dưỡng, cải thiện trạng thái tâm lý và tâm linh là một trong những đề tài quan trọng mà y tế Việt Nam còn thiếu.

  • Điều trị phòng ngừa để bệnh ung thư không xảy ra hoặc tái phát.

Ví dụ: hóa trị hoặc xạ trị sau mổ để giảm thiểu khả năng khối u xuất hiện lại. Nói xa hơn nữa là công tác phòng ngừa bệnh ung thư ở những người đang khỏe mạnh nhưng có yếu tố nguy cơ (như di truyền), như diễn viên Angelina Jolie đoạn nhũ (cắt vú) phòng ngừa vì thấy có nguy cơ bị ung thư vú di truyền cao.

Có những kỹ thuật điều trị không diệt trực tiếp tế bào ung thư nhưng lại không thể thiếu để điều trị một số bệnh ung thư (như cấy ghép tủy xương, nẹp cột sống trước khi xạ trị)

Phục hồi SỨC KHỎE cho người bệnh ung thư bao gồm các phương pháp phục hồi chức năng, tập thể dục, điều trị tâm lý, cải thiện thẩm mỹ, hướng nghiệp, giáo dục sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ: tư vấn cách quan hệ tình dục cho người bị yếu sinh lý/bất lực để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Việc này cũng bao gồm cả phần giúp tái thiết cuộc sống cho bệnh nhân để giúp họ có cuộc sống thoải mái toàn diện.

Trước đây ngành Y chủ yếu tập trung vào việc điều trị BỆNH ung thư, nhưng xu hướng mới của thế giới là làm thế nào để tăng cường SỨC KHỎE, theo đúng định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh tật”.

Kiểm soát bệnh ung thư cho cộng đồng thì ngoài việc cố gắng điều trị bệnh cho tốt, người ta chú trọng công tác phòng ngừa bệnh ung thư cho người chưa mắc bệnh, thường bao gồm giáo dục sức khỏe, bảo vệ môi trường và tổ chức tầm soát thích hợp.

một số kiến thức cơ bản liên quan đến điều trị ung thư

2. Các phương pháp phổ biến trong điều trị ung thư

Trong điều trị ung thư, cần nắm 2 nội dung: phương hướng điều trị và vũ khí điều trị.
a. Phương hướng điều trị: cách thức tác động đến tế bào và khối u, thường chia ra 2 hướng
Tiêu diệt và loại bỏ tế bào ung thư/khối u ra khỏi cơ thể. Đây là cách được mong mỏi nhiều nhất và nhân loại đã đầu tư nghiên cứu nhiều nhất.
Hạn chế sự phát triển của ung thư: Được áp dụng khi tế bào ung thư hay khối u không thể bị tiêu diệt, phá hủy hoặc cắt bỏ hoàn toàn. Ví dụ như thắt mạch máu nuôi khối u, dùng thuốc cắt tín hiệu như nội tiết tố (hormone) cần cho sự tăng sinh tế bào ung thư, dùng thuốc chống tăng sinh mạch máu (vì ung thư lan đến đâu sẽ cần thêm dinh dưỡng và “ra lệnh” kích thích sinh mạch máu, tức các đường ống đến nuôi dưỡng đó).
b. Vũ khí điều trị:

Ba vũ khí hay cách thức điều trị ung thư chúng ta thường nghe là dùng thuốc (hóa trị), mổ cắt bỏ (phẫu thuật), và dùng tia phóng xạ (xạ trị). Kiến thức về mỗi loại vũ khí trên hiện nay được trình bày trong mỗi loại sách nặng vài ký, bởi vậy có bác sĩ chuyên sâu về mỗi loại vũ khí. Trong mỗi loại vũ khí lại có bác sĩ chuyên sâu hơn nữa vào những lãnh vực chuyên môn khác nhau, như hóa trị ung thư phổi, hóa trị ung thư đại tràng,…. Một bác sĩ ung thư chuyên khoa ung thư này chỉ biết một số kiến thức căn bản của chuyên khoa ung thư khác, bác sĩ không có chuyên khoa ung thư càng biết ít hơn và người dân ngoài ngành y lại càng biết ít hơn nữa.

Vì mỗi loại vũ khí còn nhiều hạn chế và nhiều trường hợp dùng riêng lẻ không đạt hiệu quả điều trị cao nên các bác sĩ phải phối hợp hài hòa ba vũ khí trên. Mỗi loại vũ khí đều đã và đang được đào sâu nghiên cứu, kết quả là đang có thêm nhiều thuốc mới đưa vào sử dụng, nhiều máy xạ trị và phương pháp xạ trị mới, các kỹ thuật mổ mới, cho ra những cách phối hợp hiệu quả hơn.

Riêng về hóa trị, đã có thêm những thuốc mới nảy sinh từ những ý tưởng điều trị mới. Những thuốc chống tăng sinh mạch, kháng hormone liên quan tới tăng trưởng khối u, liệu pháp nhắm đích đặc hiệu cho tế bào ung thư, hoặc liệu pháp miễn dịch giúp hệ miễn dịch nhận ra và tiêu diệt hiệu quả các tế bào ung thư đã ra đời, trong khi những liệu pháp gene đang được nghiên cứu để chuyển tế bào ác tính thành tế bào lành tính/bình thường. Dù vẫn chưa đạt được hiệu quả điều trị như mong mỏi, y học hiện đại đang tiến bộ như vũ bão và các hướng dẫn điều trị ung thư đang được cập nhật hàng năm sau khi có số liệu từ các thử nghiệm lâm sàng (trên người). Đối với một số bệnh ung thư và giai đoạn bệnh ung thư, hiệu quả điều trị hiện nay đã cải thiện hơn nhiều so với 10 năm trước. Cứ dần tiến bước, nhiều bác sĩ tin rằng hôm nay chữa giúp bệnh nhân sống thêm 5 năm, mai kia được 10 năm rồi 15 năm, và rồi sẽ đến ngày trị khỏi bệnh hoàn toàn.

3. Đẩy mạnh cá nhân hóa trong điều trị ung thư

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ung thư là một bệnh hỗn hợp gồm hơn 200 mặt bệnh khác nhau, như ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư vú…và từng khối u di căn trong cùng một bệnh nhân thật ra lại là một tập hợp cả triệu~tỉ tế bào với các đặc tính khác nhau. Mỗi bệnh nhân cũng có bệnh cảnh khác nhau, nên một phương pháp có thể có hiệu quả ở người này nhưng lại không hiệu quả lắm ở người kia. Đây cũng là lý do mà các thử nghiệm lâm sàng ít khi đạt được hiệu quả điều trị 100%.

Cũng vì tính hỗn tạp, không đồng nhất (heterogeneity) của ung thư mà người ta luôn thận trọng khi nhận định phương pháp này tốt hơn phương pháp kia. Các phương pháp mới khi làm thử nghiệm lâm sàng đều được yêu cầu chia bệnh nhân thành các nhóm (ví dụ, nhóm chữa bằng phương pháp mới và nhóm dùng phương pháp hiện hành) mà các yếu tố liên quan tới tiên lượng/kết quả điều trị được quân bằng để đảm bảo giảm thiểu sai sót do chọn bệnh. Có thể hình dung đơn giản, nếu không quân bằng nghiêm ngặt về Giai đoạn bệnh thì nhóm “tình cờ” có nhiều bệnh nhân giai đoạn III sẽ dễ có kết quả điều trị tốt hơn (ví dụ: sống lâu hơn) nhóm có nhiều bệnh nhân giai đoạn IV!

Ngoài giai đoạn bệnh, các yếu tố liên quan tới tiên lượng thường là tuổi tác, giới tính, đặc tính mô học (sinh thiết) khối u, vị trí và kích thước khối u/di căn, một số bệnh đi kèm,… Trong nghiên cứu khoa học, việc loại các yếu tố “làm nhiễu” (bias) đảm bảo tính khách quan khi đánh giá là rất quan trọng, chưa kể phải đạt đủ số lượng ca bệnh nghiên cứu thì kết luận mới có tính thuyết phục và có thể được ứng dụng rộng rãi.

Cần lưu ý thêm rằng các con số đưa ra từ nghiên cứu lâm sàng là chỉ số TRUNG BÌNH, tức có thể có người đạt kết quả cao hơn (hoặc thấp hơn) con số đó. Nó cũng giống như việc chọn thầy luyện thi đại học, thầy giỏi với khả năng giúp đậu đại học 90% không có nghĩa là con bạn sẽ đậu đại học. Tuy nhiên, ít ra con bạn sẽ có cơ may đậu hơn khi học ở đó, so với học ở một nơi không có số liệu hay bằng chứng gì.

Càng đi sâu vào nghiên cứu lâm sàng, người ta càng phải đối mặt với vấn đề cá nhân hóa điều trị. Cho dù thuốc mới nhìn chung có hiệu quả tốt hơn, vẫn có một nhóm bệnh nhân không đáp ứng, hoặc sau một thời gian bị lờn thuốc. Các bác sĩ và nhà nghiên cứu đang phối hợp để tìm ra nguyên nhân liên quan hoặc gây nên các kết quả đáng tiếc đó, và tiếp tục tìm tòi đưa ra vũ khí điều trị mới cho nhóm bệnh đó. Ngày càng có nhiều tiếp cận mới như giải trình tự gene (clinical sequencing) để xác định đặc điểm sinh học và di truyền của khối u liên quan tới khả năng dùng thuốc nhắm đích hay liệu pháp miễn dịch mới. Vì càng cá nhân hóa, số ca bệnh càng ít (càng khó có ai giống mình!), các quốc gia tiên tiến đang tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu cực lớn (database) chia sẻ thông tin bệnh nhân (nhưng vẫn giữ tính privacy) nhằm giúp những người bệnh mới cân nhắc tìm ra phương pháp tối ưu nhất dưới sự giúp đỡ của Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligent).

Y học phương Đông, với hệ thống triết lý riêng để luận chứng và trị bệnh cũng đã và đang tìm tòi các cách thức để cá nhân hóa và tối ưu hóa lợi ích của các vũ khí như thuốc nam, thuốc bắc, châm cứu, xoa bóp, day huyệt, khí công,… Tuy nhiên, cho tới thời điểm này Đông Y vẫn chưa thể hiện được vai trò gì trong chữa trị ung thư, chỉ đang được cân nhắc sử dụng để hỗ trợ giảm nhẹ triệu chứng ở một số bệnh nhân nhất định. Điều này có thể do thực tế rằng Đông Y đã không lý giải bệnh ung thư, ”cancer” theo cách của Tây Y. Y học phương Đông dựa trên triết lý phổ quát cảm tính, chứ không theo khoa học thường quy với đo đạc cụ thể và logic. Đây cũng là lý do mà cách chẩn đoán và trị bệnh vẫn chưa được “chuẩn hóa”, ngay cả giữa các bác sĩ Đông Y với nhau, và trải nghiệm của mỗi bệnh nhân không được áp dụng, chia sẻ và lan tỏa rộng rãi.

Mặc dù có một số ý kiến cho rằng “Cứ âm dương, ngũ hành thì chẳng bao giờ ra được thuốc mới và kỹ thuật điều trị mới”, nhiều nhóm nghiên cứu Đông Y đã và đang tiến hành các thử nghiệm lâm sàng để chứng minh tác dụng của một số thang thuốc bắc, châm cứu,…khi phối hợp cùng Tây Y. Dù những thử nghiệm lâm sàng này lại dễ rơi vào “vòng luẩn quẩn” của việc chọn bệnh không đồng nhất, chúng ta hãy cùng chờ xem việc “Đông-Tây hội ngộ” có mang lại hiệu quả gì không, và ai sẽ là người có khả năng đáp ứng tốt với các phương pháp phối hợp đó.

4. Những hiểu biết chưa chính xác về điều trị bệnh ung thư

Ung thư là một mặt bệnh mới và rất phức tạp, chỉ được chú trọng từ 30 năm gần đây. Vì vậy còn nhiều hiểu biết chưa chính xác về căn bệnh và công việc điều trị bệnh.
Lấy một ví dụ, ngoài xã hội đang lan truyền cái khái niệm và công việc gọi là “Giải độc cho cơ thể” sau hóa trị.
Hóa trị ung thư, theo nghĩa truyền thống là việc dùng các hóa chất (còn được gọi là “vô thuốc”) đã được chứng minh là có khả năng ngăn chặn, tiêu diệt các tế bào có tốc độ sinh sản nhanh như tế bào ung thư. Mặc dù cơ thể cũng có các tế bào BÌNH THƯỜNG/LÀNH sinh sản nhanh (như tế bào lót niêm mạc miệng, đường tiêu hóa,…) và chúng có thể bị ảnh hưởng bởi hóa chất, tạo nên một số tác dụng ngoại ý, việc chấp nhận dùng hóa chất là cần thiết để kiểm soát căn bệnh trong nhiều trường hợp.

Việc điều trị ung thư hiện nay đòi hỏi người bác sĩ cùng bệnh nhân cùng suy xét để quyết định hy sinh một số mặt (chịu một số triệu chứng do tác dụng ngoại ý của thuốc, ở một mức cho phép) để giành lại những lợi ích cơ bản khác cho người bệnh. Mục tiêu tối ưu là hết bệnh hoàn toàn và hồi phục sức khỏe, nhưng nhiều trường hợp thì mục tiêu là “cải thiện hiện trạng”, kéo dài thời gian sống có chất lượng tốt hoặc “sống chung với lũ” để hoàn thành một số tâm nguyện của cuộc đời trong thời gian đó.
Vì thế, ý tưởng dùng thuốc giải độc, tẩy độc đi kèm/sau hóa trị sẽ rất nguy hiểm vì chúng có thể làm mất tác dụng của thuốc hóa trị – phá hoại công việc điều trị! Có thể hỏi đơn giản là thuốc giải độc cơ thể có thể giúp tế bào ung thư sống khỏe hơn, hoặc kích thích chúng sinh sản nhanh hơn không?
Thật ra, các tế bào da, phổi của cơ thể vì tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài nên ông trời sinh cho chúng khả năng kháng chất độc và tia phóng xạ rất mạnh. Những tế bào gan, thận làm công việc lọc độc cho cơ thể cũng vậy. Những tế bào ung thư bắt nguồn từ Gan, Phổi, Thận, Da mà còn giữ lại được đặc tính kháng tia kháng độc trời cho, sẽ là những tế bào ung thư tạo thành bướu hay bệnh ung thư kháng thuốc và kháng xạ trị mạnh mẽ. Nếu cho thuốc giải độc vào nữa thì chẳng khác gì tiếp tay cho lũ ung thư sống tốt hơn. Người ta phải nghiên cứu những thuốc tăng độc cho hóa chất diệt tế bào ung thư, tăng nhạy xạ trị cho khối u đang xạ trị thì mình đang làm ngược lại?

Y học hiện đại đã và đang tìm ra nhiều cách để hạn chế tổn thương do hóa trị gây ra ở các tế bào lành trong cơ thể người bệnh, qua đó giảm nhẹ các tác dụng phụ do hóa trị. Một trong các tiếp cận mới đó là:

  • Chế ra thuốc mới tránh được hoặc ít có tác dụng ngoại ý hơn nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả. Thuốc nhắm đích, liệu pháp miễn dịch,… là những phương pháp triển vọng, với cơ chế hoàn toàn khác hóa trị truyền thống đã và đang được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều loại ung thư.
  • Theo dõi chức năng gan thận và các yếu tố cơ thể khác để giảm lượng thuốc khéo léo. Với thuốc dễ làm suy thận thì trước khi, trong khi và sau khi hóa trị người ta luôn truyền nhiều nước giúp tránh suy thận.
  • Phối hợp nhiều hóa chất/phương pháp. Tấn công nhiều mặt cùng lúc có thể kiểm soát khối u tốt hơn với liều lượng từng thuốc ít hơn. Phối hợp hóa-xạ cũng có thể là cách để tận dụng sự tương hỗ của hai phương pháp; ví dụ, hóa trị làm khối u nhạy với tia xạ hơn.
  • Điều trị những tác dụng ngoại ý bằng nhiều phương pháp hỗ trợ: dùng thuốc chống nôn, thuốc giảm đau, thuốc an thần, thuốc tăng sinh hồng cầu hoặc bạch cầu,…
  • Chọn lọc bệnh nhân kỹ. Dựa vào các thông tin về mô học, tuổi tác, bệnh đi kèm, biểu hiện gene/protein…để lường trước khả năng đáp ứng thuốc hoặc khả năng gặp tác dụng ngoại ý.

Dù vậy, câu chuyện “giải độc, tẩy độc” vẫn thường được các nhà buôn bán thực phẩm chức năng rao giảng lấy làm lý thuyết “khoa học” cho việc quảng bá sản phẩm. Cho nên khi nói đến “giải độc và tẩy độc” không thể không nói tiếp phần Thực Phẩm Chức Năng trong điều trị ung thư:
Ai đi bán hàng cũng phải chứng minh công dụng và hiệu quả của món hàng của mình. Các nhà sản xuất và buôn bán thực phẩm chức năng CHƯA chứng minh được công dụng chống ung thư và những chức năng khác của món hàng này.
Ai đi mua hàng cũng phải chọn hàng thực sự có công dụng đã được chứng minh. Tuy nhiên, nhiều người đi mua thực phẩm chức năng chỉ đi mua theo quảng cáo và tin đồn, không cần biết nó có công dụng hay không. Điều này chứng tỏ sự thiếu bình tĩnh, thiếu cân nhắc và thiếu khôn ngoan.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, những người bác sĩ trị ung thư đã chứng kiến hàng loạt bệnh nhân thì Thực phẩm chức năng không có công dụng chống ung thư.
– Nhiều sản phẩm chức năng khoe có công dụng tẩy độc cơ thể, nếu thực sự có công dụng này thì cũng KHÔNG NÊN dùng trong khi hóa trị vì những lý lẽ chúng tôi đã trình bày ở trên. Thực phẩm chức năng khoe có công dụng bảo vệ da, giảm biến chứng trên da do xạ trị thì không nên dùng trong lúc xạ trị vì theo nguyên lý nó có thể kích thích khối u kháng với xạ trị.
-Thực phẩm chức năng khoe có thành phần dinh dưỡng cân đối thì đây là quảng cáo không đúng trong thực tế. Bởi bệnh nhân dùng thực phẩm chức năng cân đối đó với thức ăn hằng ngày thì những thành phần thêm này có làm chế độ ăn mất cân đối không? Để bảo toàn tính cân đối thì chỉ dùng đơn độc thực phẩm chức năng, bỏ thức ăn đồ uống khác? Điều đó là hại chứ không lợi lộc gì.
Hơn nữa thực phẩm đi vào cơ thể sẽ qua nhào trộn ở dạ dày, hấp thu ở ruột, bào chế gan lọc ở gan thận,…nên thường đã biến đổi khi tới các tế bào trong cơ thể bệnh nhân do căn bệnh và do tương tác thuốc. Do đó, không có gì đảm bảo là thực phẩm chức năng phát huy tác dụng khi vào cơ thể.
– Thực phẩm chức năng khoe có tính bồi bổ cơ thể, thì như trên, chúng có thể giúp tế bào ung thư hay các khối u trong cơ thể phát triển tốt hơn. Vấn đề bồi bổ phải rất khoa học khéo léo, chúng tôi sẽ trình bày ở bài khác.
– Ai đi buôn bán cũng phải quảng cáo. Những nhà buôn bán thực phẩm chức năng sẽ quảng cáo rất khôn khéo, tinh vi nếu dùng một bài viết hầu hết có kiến thức phù hợp khoa học để che đậy một câu chữ không khoa học nhưng là then chốt cho quảng cáo. Bài sưu tầm kiến thức về điều trị của bạn Hoàng Vũ là một điển hình. Trong bài này, nội dung nhấn mạnh về nhiều điểm của y học hiện đại nhưng có nhẹ nhàng lồng ghép vào lý thuyết về “tẩy độc cơ thể”. Những người không có kiến thức sẽ vì đó lầm hiểu “tẩy độc cơ thể” đương nhiên là một kiến thức khoa học. Khi đó, họ dễ bị dẫn dắt vào bước kế tiếp với các thông tin/quảng cáo: ”Chúng tôi có sản phẩm tẩy độc cơ thể!”

Có bao nhiêu thành viên trong các nhóm “Hỗ trợ bệnh nhân ung thư” đã được chào mời các sản phẩm “tẩy độc cơ thể”, thực phẩm chức năng, nâng cao miễn dịch hay các phương pháp không chính thống qua liên lạc cá nhân PM hay inbox?

5. Ý nghĩa của việc tăng cường kiến thức về bệnh và điều trị bệnh cho mọi người

Nội dung được giới thiệu ở trên chỉ là những hiểu biết sơ khai. Nếu chỉ nắm được bằng ấy kiến thức, đối với nhà chuyên môn thì hoàn toàn không đủ, cũng gần như là chưa biết gì.
Nhưng đối với bệnh nhân và thân nhân, nếu biết được bằng đó thì cũng có thể mang lại nhiều lợi ích. Họ sẽ có thêm niềm tin vào khoa học và cẩn trọng với những thông tin và kiến thức y học không chính thống. Những kiến thức đó cũng giúp tăng cường sự phối hợp Bệnh nhân – Gia đình – Bác sĩ được tốt hơn, nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho người bệnh.
Qua nội dung này, mong rằng bệnh nhân và thân nhân cảm nhận được sự phức tạp của căn bệnh cùng với việc điều trị bệnh, và sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ để điều trị bệnh. Nên tránh việc chỉ mới hiểu biết một chút mà đã tự làm bác sĩ cho chính mình hoặc gia đình mình.

Nói tóm lại, điều trị bệnh ung thư là một công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có nhân viên y tế được đào tạo chuyên khoa bài bản, kỹ càng cùng tư vấn. Song song với đó là hoạt động nâng cao kiến thức cho người bệnh và thân nhân, giúp cho việc phối hợp Bệnh Nhân – Gia đình – Bác sĩ được nhịp nhàng mang lại kết quả điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

Hiệu đính : BS. Giang Phạm ( Hoa Kỳ)

Bài viết Một số kiến thức cơ bản liên quan tới điều trị các bệnh ung thư được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh bằng cách nào? https://yhoccongdong.com/thongtin/14892/ Tue, 16 Jan 2018 14:27:30 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14892 Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh

Tình trạng kháng kháng sinh đang là vấn đề hết sức lo ngại đối với ngành y và cộng đồng. Nhật Bản cũng đối mặt với vấn nạn kháng kháng sinh nhưng đến nay đã cải thiện hơn.

Bài viết Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh bằng cách nào? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh

 

Kháng sinh là những loại thuốc dùng để điều trị hoặc phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn. Vi khuẩn bị kháng sinh tiêu diệt hay kìm hãm được gọi là “nhạy với kháng sinh”, ngược lại thì được gọi là “kháng kháng sinh”.

Ngành y và cộng đồng đang hết sức lo ngại về tình hình kháng kháng sinh tại Việt Nam. Những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh lây lan trong cộng đồng sẽ làm tăng tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian điều trị, hoặc yêu cầu dùng kết hợp nhiều thuốc kháng sinh để điều trị làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ và gây thiệt hại tài chính ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người.

Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh

Cách đây độ 10 năm, Nhật Bản cũng đối mặt với vấn nạn kháng kháng sinh nhưng đến nay đã cải thiện hơn nhờ một số giải pháp ở mức cá nhân, mức cộng đồng lẫn thay đổi trong hệ thống quản lý.
Một số điểm dưới đây thường được cho là liên quan tới sự thay đổi này.

Ở mức độ hệ thống y tế

  1. Nhật Bản kiểm soát thuốc kháng sinh rất chặt: Người dân chỉ được mua kháng sinh khi có toa thuốc của bác sĩ, được cấp từ các cơ sở y tế chính thống.
  2. Bảo hiểm tham gia kiểm duyệt kỹ. Thuốc kháng sinh kê ra phải nêu rõ lý do sử dụng kèm theo chẩn đoán rõ ràng; một số thuốc đặc biệt phải gửi kèm kháng sinh đồ (kết quả nuôi cấy vi khuẩn để kiểm định xem chúng nhạy với kháng sinh nào) hoặc có lời giải trình của bác sĩ điều trị.
  3. Nêu rõ trách nhiệm báo cáo của bệnh viện khi có chủng kháng thuốc. Vì vấn đề kháng thuốc là vấn đề của toàn cộng đồng, Sở y tế phải báo cáo thống kê các ca bệnh, khoanh vùng, từ đó đề xuất cách cải thiện. Các bệnh viện và khoa phòng ở Nhật thường hợp tác rất tốt để theo dõi ngược/trace back nơi xuất phát của các bệnh, lùng tìm ra ổ dịch.
  4. Giải quyết giảm tải, nằm ghép chung giường.
  5. Hạn chế, tiến tới dẹp bỏ vấn nạn kê thuốc ăn tiền hoa hồng từ hãng dược bằng cách tăng lương cơ bản giúp nhân viên y tế đủ sống tốt.

Ở mức độ bệnh viện

  1. Một số bệnh viện có Ban kiểm soát nhiễm khuẩn sẽ phản ứng ngay sau khi nhận tin báo về việc kháng sinh phổ rộng hoặc đặc dụng được chỉ định tại bệnh phòng. Ban này sẽ kích hoạt quá trình tìm hiểu và theo dõi bệnh cảnh lâm sàng, lý do dùng thuốc, đáp ứng điều trị,…qua đó góp ý thêm về cách chọn thuốc, liều lượng và thời gian điều trị thích hợp cho các bác sĩ điều trị. Trong bệnh viện nơi tôi đang làm việc, lúc đầu nhiều bác sĩ điều trị phản ứng khá gắt và “chảnh” nhưng dần rồi cũng hiểu ra sự cần thiết của hoạt động này vì không phải bác sĩ nào cũng am hiểu đầy đủ về vi khuẩn và kháng sinh.
  2. Ban kiểm soát nhiễm khuẩn nắm rõ bệnh nhân nhiễm khuẩn kháng thuốc nằm ở đâu, đang được cách ly và phòng lây theo cách nào,…để ngăn chặn lây lan tiếp cho người khác. Trong hệ thống bệnh án điện tử khi mở hồ sơ ra sẽ có tag cảnh báo để nhân viên y tế cẩn trọng hơn.
  3. Hạn chế dùng chung đồ dùng y tế giữa các bệnh nhân. Ví dụ trong khoa Hồi sức tích cực (ICU), mỗi giường bệnh đều được trang bị một ống nghe, hộp găng tay… riêng.
  4. Thuê đơn vị vệ sinh chuyên nghiệp, thường xuyên xử lý nơi công cộng với các chất sát khuẩn thích hợp. Các vật dụng như gối, nệm, trên giường bệnh nhân cũng được chọn theo hướng dễ giặt rửa và thay thế định kỳ (ví dụ nệm bọc nilon hoặc da).
  5. Song song với việc khuyến khích nhân viên y tế rửa tay, mang các dụng cụ phòng tránh nhiễm khuẩn như găng tay, tạp dề, khẩu trang y tế,…khi cần thiết, bệnh viện còn tổ chức các giờ giảng và bố trị nhiều phương tiện để chăm sóc da tay tại chỗ cho nhân viên y tế vì rửa nhiều gây khô và đau rát tay. Cần nhấn mạnh rằng việc rửa tay giữ gìn vệ sinh không chỉ giúp bảo vệ bệnh nhân mà còn bảo vệ nhân viên y tế (và cả người thân của họ) khỏi các chủng vi khuẩn độc hại.
  6. Khuyến cáo, thậm chí cấm nhân viên y tế đeo “tòng teng” trên người các dụng cụ hay sử dụng “khắp nơi” như băng dán, kéo, dây garo…Một số nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng điện thoại di động và các thiết bị di động khác cũng có thể là nguồn lây rất “khủng”, trong khi chỉ có 8-20% nhân viên y tế thường xuyên lau chùi sát khuẩn dụng cụ của mình!
  7. Phát triển phòng lab để thực hiện kháng sinh đồ tốt hơn, qua đó cung cấp thông tin hữu ích giúp chọn thuốc đúng chứ không phải “đánh mù” với kháng sinh phổ rộng trong thời gian dài. Hầu hết bệnh viện có khoa Dược triển khai TDM, tức phương pháp đo đạc, theo dõi và dự đoán nồng độ trong máu của một số kháng sinh đặc dụng (như Vancomycin) nhằm góp ý cho bác sĩ về liều lượng thuốc thích hợp.

Về mặt truyền thông và giáo dục sức khỏe cộng đồng

  1. Các phương tiện truyền thông ở Nhật rất quan tâm đến nhiễm khuẩn trong bệnh viện và thường gây ra làn sóng dư luận mạnh mẽ. Vì thế, bệnh viện nào mà có nạn dịch/outbreak thì sẽ trở thành tâm điểm của dư luận và hình ảnh, uy tín bị ảnh hưởng lớn.
  2. Ngoài các lớp học hay tập huấn truyền thống, một số trường Đại học còn tổ chức giờ giảng online để các bác sĩ hiểu đúng chỉ định của thuốc kháng sinh. Việc này giúp tránh/giảm tình trạng dùng kháng sinh phổ rộng từ “tuyến dưới”, tới khi bệnh nặng chuyển viện thì “tuyến trên” bắt buộc phải dùng kháng sinh mạnh hơn hay phổ rộng hơn!
  3. Nhiều kênh truyền thông giúp giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và cộng đồng. Ví dụ: Mắc bệnh cảm (do virus, vốn không cần kháng sinh) thì từ từ sẽ tự khỏi, đừng quá nôn nóng yêu cầu kê thuốc kháng sinh vì lòng tin rằng kháng sinh sẽ giúp nhanh khỏi. Giáo dục nâng cao nhận thức về giữ gìn vệ sinh chung, bỏ những hành vi “kém văn minh” như khạc nhổ, hắt xì thoải mái hoặc xịt mũi rồi bôi quẹt lung tung…

Kháng kháng sinh là một vấn đề nghiêm trọng của TOÀN CỘNG ĐỒNG. Vì vi khuẩn độc hại sẽ có thể ảnh hưởng đến bản thân mình hoặc người thân của mình, rất cần nhiều ngành nghề và cá nhân cùng chung tay cải thiện hiện trạng.

Bài viết Nhật Bản giải quyết tình trạng kháng kháng sinh bằng cách nào? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Sự lo âu https://yhoccongdong.com/thongtin/su-lo-au/ Sun, 07 Jan 2018 14:08:24 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14869 sự lo âu

Sự lo âu là cảm giác căng thẳng, bồn chồn hoặc lo sợ. Đó là một cảm xúc bình thường cảnh báo cho cơ thể để phản ứng lại với các mối đe doạ.

Bài viết Sự lo âu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
sự lo âu

 

Lo âu có thể được mô tả như cảm giác căng thẳng, bồn chồn hoặc lo sợ. Đó là một cảm xúc bình thường cảnh báo cho cơ thể để phản ứng lại với các mối đe doạ. Tuy nhiên lo âu với cường độ mạnh và kéo dài là một rối loạn có thể gây trở ngại cho các mối quan hệ và hoạt động hằng ngày của bạn.

Lo âu cấp tính xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn và kết thúc nhanh chóng. Lo âu mạn tính thì tiếp diễn trong thời gian kéo dài.

Các triệu chứng của lo âu có thể ở mức độ nhẹ hoặc nặng. Một vài triệu chứng có thể tương tự như trầm cảm. Thông thường, điều này là do trầm cảm xảy ra song hành với lo âu.

sự lo âu

 

Lo âu và ung thư

Nhiều bệnh nhân ung thư trải qua các triệu chứng của lo âu. Một chẩn đoán ung thư có thể gây ra những cảm xúc như:

  • Sợ hãi về điều trị hoặc tác dụng phụ của điều trị
  • Sợ hãi ung thư tái phát hoặc di căn sau khi điều trị
  • Lo lắng về sự bất định
  • Lo lắng về việc mất khả năng tự chủ
  • Lo lắng về sự thay đổi các mối quan hệ
  • Sợ hãi về cái chết

Sự lo âu có thể làm cho việc đối mặt với điều trị ung thư trở nên khó khăn hơn. Nó cũng có thể gây trở ngại cho việc ra quyết định liên quan tới chăm sóc và điều trị của bạn. Vì vậy, nhận biết và điều trị lo âu là một phần quan trọng trong điều trị ung thư.

Những triệu chứng của lo âu cấp tính

Bạn có thể thường xuyên gặp những triệu chứng dưới đây trong thời gian ngắn. Một cơn hoảng loạn (panic attack) xảy ra khi một người bị tất cả các triệu chứng sau đây cùng một lúc:

  • Cảm giác sợ hãi với cường độ mạnh hoặc khiếp sợ
  • Cảm giác thờ ơ với bản thân hoặc môi trường xung quanh
  • Hồi hộp hoặc nhịp tim nhanh
  • Tăng huyết áp
  • Đau ngực
  • Khó thở
  • Cảm giác ngạt thở
  • Vã mồ hôi
  • Ớn lạnh
  • Chóng mặt hoặc cảm giác lâng lâng
  • Run sợ
  • Buồn nôn, tiêu chảy, ợ nóng, hoặc chán ăn
  • Đau bụng

Những triệu chứng của lo âu mạn tính

Lo âu mạn tính có thể bao gồm các đợt lo âu cấp tính song hành cùng với một hoặc nhiều triệu chứng sau đây. Nó thường tồn tại trong thời gian dài:

  • Lo nghĩ quá mức
  • Cảm giác bồn chồn
  • Căng cơ
  • Mất ngủ, khó đi vào giấc ngủ hoặc tỉnh dậy giữa chừng
  • Dễ cáu gắt
  • Mệt mỏi
  • Khó tập trung
  • Do dự, gặp khó khăn khi đưa ra những quyết định

Hãy báo với bác sĩ hoặc nhân viên y tế khác nếu bạn có một trong những triệu chứng này. Tuy nhiên, chúng không nhất thiết là liên quan đến lo âu. Một vài triệu chứng có thể là do tác dụng phụ của ung thư hoặc điều trị ung thư. Ví dụ, mệt mỏi, mất ngủ, và khó tập trung là những tác dụng phụ phổ biến của ung thư và điều trị ung thư. Các bác sĩ sẽ cố gắng phân biệt và điều trị phù hợp.

Yếu tố nguy cơ của lo âu ở bệnh nhân ung thư

Bệnh nhân ung thư có nhiều khả năng bị lo âu nếu có những yếu tố nguy cơ sau đây:

  • Đã được chẩn đoán lo âu hoặc trầm cảm trước đây
  • Tiền sử gia đình có người bị trầm cảm hay mắc bệnh lo âu
  • Thiếu sự hỗ trợ, quan tâm của bạn bè hoặc gia đình
  • Gánh nặng về tài chính

Tầm soát lo âu ở bệnh nhân ung thư

Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO) khuyến cáo nên tầm soát lo âu. Việc tầm soát nên được thực hiện khi mới chẩn đoán ung thư và lặp lại định kỳ trong suốt quá trình điều trị cũng như phục hồi.

Các lời khuyên về điều trị sẽ tùy thuộc vào việc bạn có bao nhiêu triệu chứng lo âu, số lần xuất hiện và ảnh hưởng của chúng lên cuộc sống của bạn.

Mặc dù có thể là khó khăn để giải thích, hãy cố gắng truyền đạt những gì bạn đang cảm nhận cho nhân viên y tế. Điều này sẽ giúp họ chú ý đến sự lo lắng của bạn và lập ra kế hoạch điều trị. Hãy bảo đảm việc truyền đạt những việc sau đây:

  • Cảm xúc của bạn
  • Nguyên nhân đặc biệt khiến bạn sợ hãi
  • Triệu chứng cơ thể (thực thể)
  • Sự tác động của triệu chứng lên đời sống hằng ngày của bạn

Những cách điều trị lo âu ở bệnh nhân ung thư

Có nhiều cách khác nhau để đối phó với lo âu. Nhiều phương pháp có thể được sử dụng cùng nhau. Trò chuyện với bác sĩ hoặc người tư vấn chuyên nghiệp để tìm ra lựa chọn tốt nhất.

  • Kỹ thuật thư giãn. Kỹ thuật thư giãn có thể được sử dụng đơn độc hoặc bổ sung vào các phương pháp điều trị khác. Một vài phương pháp sau đây có thể được thực hiện với hướng dẫn ngắn gọn. Những phương pháp khác có thể cần phải có sự giúp đỡ của người hướng dẫn.
    • Hít thở sâu
    • Giãn cơ. Đây là kỹ thuật bao gồm việc kéo căng và làm giãn cơ bắp. Bạn thường bắt đầu từ ngón chân hoặc đầu và tiếp đến là làm giãn cơ trên khắp cơ thể.
    • Tưởng tượng theo hướng dẫn. Cách làm này sử dụng từ ngữ và âm thanh để giúp bạn hình dung ra những khung cảnh, những trải nghiệm và cảm xúc tích cực.
    • Thiền định. Đây là cách luyện tập để tập trung sự chú ý vào một hướng nhằm đạt đến trạng thái tĩnh tại và giảm căng thẳng.
    • Thôi miên
    • Phản hồi sinh học (Biofeedback). Cách này bao gồm chú ý và kiểm soát những tín hiệu từ cơ thể, chẳng hạn nhịp tim. Những tín hiệu từ cơ thể được đo đạc qua các cảm biến điện không đau gọi là những điện cực.
    • Yoga. Cách làm này phối hợp hơi thở và những bài tập tư thế để thúc đẩy sự thư giãn.
  • Điều trị tâm lý. Những chuyên gia sức khỏe tâm thần bao gồm nhà tư vấn, nhà tâm lý học, nhà tâm thần học. Họ cung cấp những công cụ để cải thiện kỹ năng, phát triển hệ thống hỗ trợ và uốn nắn những suy nghĩ tiêu cực. Những lựa chọn bao gồm điều trị cá thể, điều trị theo cặp hoặc theo gia đình, và điều trị theo nhóm. Ngoài ra, những nhà tâm thần học là những chuyên gia sức khỏe về tâm lý con người có thể kê đơn thuốc (xem bên dưới).
  • Thuốc. Nếu bạn bị lo âu mức trung bình đến nặng, bác sĩ có thể dùng thuốc để điều trị. Nhiều loại thuốc khác nhau đang có bán trên thị trường. Bác sĩ sẽ chọn ra loại thuốc phù hợp nhất dựa trên những yếu tố sau:
  • Nhu cầu của bạn
  • Những tác dụng phụ tiềm ẩn
  • Những thuốc khác đang dùng
  • Bệnh sử

Hãy nói cho bác sĩ về tất cả những thuốc liên quan đến ung thư và cả những thuốc bổ, thực phẩm chức năng mà bạn đang dùng. Một vài thuốc có thể tương tác với những loại thuốc chống lo âu.

Một số người cải thiện sau 2 tuần dùng thuốc. Tuy nhiên, thuốc thường cần từ 6-8 tuần mới có hiệu quả đầy đủ. Sử dụng thuốc có thể không đủ hiệu quả để trị lo âu, trừ khi phối hợp với điều trị tâm lý.

Theo dõi

Sau khi giới thiệu bạn với chuyên gia về tâm lý, bác sĩ ung thư sẽ có thể trao đổi với bạn về hiệu quả và tác dụng phụ của điều trị.

Nếu những triệu chứng của lo âu không thuyên giảm sau 8 tuần điều trị:

  • Xem xét lưa chọn cách điều trị khác, chẳng hạn như thử dùng thuốc hoặc đổi thuốc khác
  • Xem xét đưa thêm giờ tư vấn vào kế hoạch điều trị, nếu chưa làm

Bạn và bác sĩ có thể thảo luận về những phương án này sớm hơn nếu cần thiết.

Tài liệu tham khảo

http://www.cancer.net/coping-with-cancer/managing-emotions/anxiety

Bài viết Sự lo âu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Chẩn đoán và xử trí thai lưu https://yhoccongdong.com/thongtin/cach-chan-doan-thai-luu/ Fri, 29 Dec 2017 23:39:07 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14843 Chan-doan-thai-luu

Chẩn đoán thai lưu chậm trễ có thể để lại những di chứng nặng nề trên cơ thể mẹ cũng như những tổn thương tâm lý nhiều hơn so với được chẩn đoán sớm.

Bài viết Chẩn đoán và xử trí thai lưu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Chan-doan-thai-luu

 

Làm sao để chẩn đoán thai lưu?

Chan-doan-thai-luu
Chan-doan-thai-luu

Khám thai định kì sẽ giúp bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe của thai nhi, nếu như có bất thường thai phụ sẽ được kiểm tra trước khi thai phụ có dấu hiệu chuyển dạ.

Nếu nghi ngờ thai nhi tử vong, bác sĩ sẽ nghe nhịp tim thai bằng ống nghe Doppler cầm tay. Sau đó có thể chỉ định siêu âm để kiểm tra tim thai một cách chắc chắn hơn.

Kết quả siêu âm sẽ là xét nghiệm để chẩn đoán xác định thai nhi đã tử vong. Sau khi thai lưu được chẩn đoán, thai phụ có thể vẫn cảm thấy thai nhi còn vận động. Điều đó có thể xảy ra do thai phụ thay đổi tư thế, khi đó bác sĩ chỉ định siêu âm để kiểm tra lại một lần nữa.

Chẩn đoán thai lưu là một cú sốc đối với thai phụ và gia đình. Khi đó thai phụ cần được hỗ trợ và  bác sĩ tư vấn các giải pháp sau này.

Các phương pháp giải quyết sau khi chẩn đoán thai lưu

Tống thai lưu

Khi được chẩn đoán thai lưu, thai phụ thường sẽ được sử dụng thuốc để khởi phát chuyển dạ nhằm tống thai lưu ra ngoài. Phương pháp này an toàn hơn phương pháp phẫu thuật.

Nếu không có nguyên nhân bắt buộc phải tống thai ngay thì có thể cho thai phụ chuyển dạ tự nhiên. Việc tống thai sẽ do thai phụ và gia đình quyết định, thường sẽ không cần phải thực hiện ngay lập tức, thai phụ có thể trở về nhà một hoặc hai ngày để chuẩn bị và quay lại bệnh viện điều trị sau. Trong một vài trường hợp, thai phụ có thể được sử dụng thuốc nhằm chuẩn bị cho quá trình tống thai lưu, các thuốc này được khuyến cáo sử dụng trước 48 giờ trước khi khởi phát chuyển dạ.

Chuyển dạ tự nhiên

Nếu như thai phụ quyết định chờ đợi chuyển dạ tự nhiên. Thai phụ sẽ được làm xét nghiệm máu thường quy sau mỗi 48 giờ.

Chờ đợi chuyển dạ tự nhiên cũng làm gia tăng nguy cơ thai nhi bị thoái hóa trong tử cung gây ảnh hưởng đến hình dạng của thai nhi khi sinh ra và khi đó việc tìm nguyên nhân tử vong sẽ khó khăn hơn. Ngoài ra, thai phụ còn gia tăng nguy cơ về rối loạn đông máu và các nguy về nhiễm trùng.

Khởi phát chuyển dạ

Khởi phát chuyển dạ bằng thuốc chắc chắn sẽ được chỉ định nếu thai phụ có yếu tố nguy như:

  • Tiền sản giật nặng
  • Nhiễm trùng nặng
  • Vỡ ối

Chuyển dạ có thể khởi phát bằng cách đặt thuốc hoặc gel vào âm đạo hoặc uống. Đôi khi thuốc được truyền tĩnh mạch.

Tài liệu tham khảo

https://www.nhs.uk/Conditions/Stillbirth/Pages/Diagnosis.aspx

Bài viết Chẩn đoán và xử trí thai lưu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Thai lưu – Giới thiệu https://yhoccongdong.com/thongtin/thai-luu-gioi-thieu/ Fri, 29 Dec 2017 23:14:58 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14812

Thai lưu là thai tử vong sau 24 tuần của thai kỳ . Không phải tất cả các trường hợp nhưng có thể giảm thiểu nguy cơ bằng một số biện pháp.

Bài viết Thai lưu – Giới thiệu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Thai lưu là gì?

Thai lưu là thai tử vong sau 24 tuần của thai kỳ.

Nếu thai tử vong trước 24 tuần thì được xem như là sẩy thai.

Thai lưu khá phổ biến. Có hơn 3,600 ca thai lưu mỗi năm ở Anh và cứ mỗi 200 trẻ được sinh ra thì có 1 ca thai lưu. Ở Anh, Mỗi ngày có 11 trẻ  tử vong trước khi sinh, cao gấp 15 lần hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS).

Nguyên nhân thai lưu

Khoảng một nửa số thai lưu có liên quan đến các biến chứng của nhau thai. Vì một số lý do nào đó mà nhau thai không hoạt động bình thường (nhau thai là cơ quan cung cấp máu và nuôi dưỡng thai nhi).

Khoảng 10% thai lưu tử vong có những dị tật bẩm sinh. Một tỷ lệ rất nhỏ thai chết lưu liên quan đến sức khỏe của mẹ, ví dụ như tiền sản giật, hay những vấn đề khác bao gồm chấn thương dây rốn hay nhiễm trùng.

Điều gì xảy ra khi thai nhi chết trong tử cung?

Nếu nghi ngờ thai lưu, có thể sử dụng Doppler cầm tay hoặc máy siêu âm để kiểm tra nhịp tim thai.

Nếu như thai đã chết thì sẽ không có biến chứng nguy hiểm tức thời, sản phụ thường sẽ có thời gian cân nhắc lựa chọn phương pháp xử trí sau đó. Thai phụ có thể lựa chọn chờ chuyển dạ tự nhiên hoặc là dùng thuốc.

Nếu tình trạng của sản phụ không tốt thì thai nhi cần được đưa ra sớm nhất có thể. Hiếm khi thai lưu được đưa ra ngoài bằng phương pháp mổ lấy thai.

Ở giai đoạn này, đa số phụ huynh sẽ hỏi tại sao con họ lại chết. Bác sĩ có thể cung cấp cho sản phụ vài thông tin cơ bản về các xét nghiệm để tìm nguyên nhân.

Sau sinh thai lưu

Gioi-thieu-thai-luu

Tìm nguyên nhân thai lưu có thể giúp xoa dịu nỗi đau và cung cấp thêm thông tin nếu sản phụ muốn tiếp tục mang thai, vì vậy sản phụ sẽ được chỉ định các xét nghiệm để tìm nguyên nhân.

Bác sĩ sẽ trao đổi về kết quả xét nghiệm và khám nghiệm tử thi (nếu sản phụ đồng ý) trong lần tái khám tiếp theo cách vài tuần sau sinh. Sản phụ có thể được tư vấn về những  nguy cơ trong lần mang thai tiếp theo.

Giúp đỡ và hỗ trợ

Thai lưu và sẩy thai muộn có thể để lại một cú sốc cho các cặp vợ chồng và có thể ảnh hưởng xấu đến các thành viên trong gia đình, bao gồm cả trẻ em và bạn bè.

Sản phụ có thể sẽ thấy khá hơn khi chia sẻ cảm xúc với bác sĩ, nữ hộ sinh, người chăm sóc sức khỏe cộng đồng hoặc với những bố mẹ khác đã mất con.

Có thể dự phòng thai lưu không?

Không phải tất cả các trường hợp thai lưu đều có thể dự phòng. Tuy nhiên, có thể thực hiện một số biện pháp để giảm thiểu nguy cơ thai lưu, ví dụ như:

  • Ngưng hút thuốc lá.
  • Tránh sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện trong quá trình mang thai – điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển thai nhi và làm tăng nguy cơ sẩy thai và thai lưu.
  • Khám thai đầy đủ để có thể theo dõi sự tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của thai nhi.

Tài liệu tham khảo

https://www.nhs.uk/Conditions/Stillbirth/Pages/Definition.aspx

Bài viết Thai lưu – Giới thiệu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Nguyên nhân thai lưu https://yhoccongdong.com/thongtin/nguyen-nhan-thai-luu/ Fri, 29 Dec 2017 23:08:10 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14820

Theo dõi và hiểu được các nguyên nhân giúp mẹ dự phòng và nhận biết sớm các trường hợp thai lưu.

Bài viết Nguyên nhân thai lưu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>

 

Một tỷ lệ lớn thai lưu xảy ra ở những thai nhi khỏe mạnh và nguyên nhân thường không giải thích được.

Các nguyên nhân thai lưu

Chức năng nhau thai kém

Một số trường hợp thai lưu có liên quan đến biến chứng của nhau thai, vì một số lý do mà nhau thai (cơ quan cung cấp máu và nuôi dưỡng thai nhi) không thực hiện đúng chức năng.

Chức năng nhau thai kém có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây thai lưu, làm thai ngừng phát triển; và thai chết lưu thường có với hình thái đầy đủ nhưng khá nhỏ..

Nguyên nhân khác

Nguyên nhân khác gây thai lưu hoặc có liên quan đến thai lưu bao gồm:

  • Chảy máu (xuất huyết) trước hoặc khi chuyển dạ.
  • Rau bong non – bánh nhau bong ra khỏi tử cung trước khi trẻ sinh ra (với triệu chứng chảy máu và đau bụng).
  • Tiền sản giật – nguyên nhân tăng huyết áp ở sản phụ.
  • Vấn đề về dây rốn – có thể bị sa vào âm đạo trước khi trẻ sinh ra (sa dây rốn), hoặc có thể quấn lại quanh thai nhi và gây thắt nút.
  • Bệnh ứ mật trong gan khi mang thai (ICP) hay chứng Cholestasis gây ngứa nhiều – đặc trưng của rối loạn chức năng gan trong thai kì.
  • Khiếm khuyết vật chất di truyền ở trẻ.
  • Đái tháo đường có sẵn từ trước.
  • Nhiễm trùng ở sản phụ có thể ảnh hưởng lên thai nhi.

Nhiễm trùng

Khoảng 1/10 trường hợp nhiễm trùng gây thai lưu. Thể nhiễm trùng phổ biến nhất là nhiễm khuẩn đường âm đạo. Những loại vi khuẩn như streptococcus nhóm B, escherichia coli (E.coli), klebsiella, enterococcus, haemophilus influenza, chlamydia và mycoplasma hay ureaplasma.

Một số nhiễm khuẩn như chlamydia và mycoplasma hay ureaplasma, lây qua đường tình dục, có thể dự phòng bằng cách sử dụng phương pháp bảo vệ, như bao cao su.

Nhiễm trùng khác gây thai lưu bao gồm:

  • Rubella – thường được biết đến như sởi Đức.
  • Cúm – khuyến cáo nên chủng ngừa cúm theo mùa cho tất cả sản phụ trong bất kì giai đoạn nào của thai kì.
  • Parvovirus B19 – nguyên nhân gậy hội chứng “má đỏ” (slapped cheek), nhiễm trùng phổ biến ở trẻ nhỏ, gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai.
  • Coxsackie virus – nguyên nhân gây bệnh tay – chân – miệng ở người.
  • Cytomegalovirus– loại vi rút thường gây lây lan qua dịch cơ thể, như nước bọt hay nước tiểu, thường gây ra một vài triệu chứng ở sản phụ.
  • Herpes simplex– vi rút gây bệnh lở miệng.
  • Listeriosis – nhiễm trùng thường phát triển sau khi ăn thức ăn bị nhiễm Listeria monocytogenes (Listeria).
  • Leptospirosis – nhiễm khuẩn lây qua động vật như loài chuột.
  • Lyme disease – nhiễm trùng do vết cắn của ve.
  • Sốt Q – nhiễm trùng do vi khuẩn từ động vật như cừu, dê, bò cái.
  • Toxoplasmosis – nhiễm trùng do kí sinh trùng tìm thấy ở trong đất hay phân mèo.
  • Bệnh sốt rét – bệnh nhiệt đới nguy hiểm do muỗi đốt.

Các yếu tố nguy cơ

Có một số yếu tố làm tăng nguy cơ thai lưu, bao gồm:

  • Song thai hay đa thai.
  • Thai nhi không không đạt được sự tăng trưởng cần thiết trong tử cung.
  • Lớn hơn 35 tuổi.
  • Hút thuốc, uống rượu bia hay ma túy khi mang thai.
  • Béo phì (có BMI trên 30).
  • Có bệnh lý nền trước đó, như động kinh.

Theo dõi sự phát triển của thai nhi

Nữ hộ sinh sẽ kiểm tra sự phát triển và sức khỏe của thai nhi mỗi lần khám tiền sản và vẽ biểu đồ cho sự phát triển của thai nhi để chắc chắn rằng đứa trẻ đang phát triển.

Mỗi thai nhi đều khác nhau và phát triển theo kích thước bình thường của chúng (một số thai nhi nhỏ tự nhiên). Tuy nhiên, tất cả thai nhi vẫn tiếp tục phát triển đều đặn trong suốt thai kì.

Nếu thai nhỏ hơn dự kiến, hoặc biểu đồ phát triển giảm dần theo tuổi thai, có thể do bánh nhau không thực hiện đúng chức năng, làm tăng nguy cơ thai lưu.

Nên theo dõi sự phát triển của thai nhi suốt quá trình khám thai trước sinh. Tuy nhiên, việc sản phụ để ý đến thai máy là rất quan trọng để phát hiện sớm những bất thường.

Tài liệu tham khảo

https://www.nhs.uk/conditions/stillbirth/causes/

Bài viết Nguyên nhân thai lưu được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Tại sao nên dùng Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)? https://yhoccongdong.com/thongtin/tai-sao-nen-dung-bang-danh-gia-dinh-duong-mna/ Wed, 20 Dec 2017 13:24:31 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14805 tại sao nên dùng bảng đánh giá dinh dưỡng MNA

Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) là một công cụ được thiết kế đặc biệt để xác định tình trạng dinh dưỡng ở người già bị suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ cao, khi đó sẽ có nhiều cơ hội để can thiệp và chữa trị sớm.

Bài viết Tại sao nên dùng Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
tại sao nên dùng bảng đánh giá dinh dưỡng MNA

 

Sụt cân ở người cao tuổi thực ra không phải là không tránh được. Trên thực tế, chúng ta vẫn có thể dự phòng hiệu quả thông qua các chương trình hỗ trợ dinh dưỡng hiệu quả. Chẩn đoán sớm và điều trị tích cực hoàn toàn có thể ngăn ngừa suy dinh dưỡng ở người cao tuổi. Có một tin vui cho những bệnh nhân đã bị suy dinh dưỡng, đó là họ vẫn có thể được điều trị, cải thiện đáng kể tỉ lệ sống còn và giảm tỷ lệ biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. Vì vậy, chẩn đoán sớm suy dinh dưỡng ở người cao tuổi là rất quan trọng. Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) là một công cụ được thiết kế đặc biệt để xác định tình trạng dinh dưỡng ở người già bị suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ cao, khi đó sẽ có nhiều cơ hội để can thiệp và chữa trị sớm. Người già từ 65 tuổi trở lên nên sàng lọc hằng năm vì suy dinh dưỡng xảy ra phổ biến ở nhóm tuổi này.

tại sao nên dùng bảng đánh giá dinh dưỡng MNA

Những lý do nên ưu tiên dùng Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) như một công cụ sàng lọc và đánh giá dinh dưỡng

         MNA là công cụ mà độ tin cậy đã được kiểm định

  • Công cụ sàng lọc đặc hiệu cho người cao tuổi
  • Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ tin cậy cao
  • Là phương pháp sàng lọc được sử dụng rộng rãi nhất
  • Được khuyến nghị bởi các tổ chức khoa học, phòng khám trong nước và quốc tế

        Sử dụng MNA rất nhanh và dễ dàng

  • Nhanh chóng và dễ dàng trả lời 6 câu hỏi ngắn
  • Chỉ mất chưa tới 5 phút để hoàn thành
  • Dễ dàng quản lý trên diện rộng
  • Không cần tập huấn đặc biệt
  • Không cần lấy mẫu máu hay xét nghiệm
  • Hiện tại MNA đang hỗ trợ tới 24 ngôn ngữ

        MNA hiệu quả vì

  • Hướng đến những người cao tuổi già yếu và nhóm có nguy cơ trong cộng đồng
  • Xác định nhanh suy dinh dưỡng để có thể can thiệp sớm
  • Xác định nhóm người có nguy cơ trước khi họ bị sút cân hay giảm protein huyết thanh, giúp can thiệp sớm hơn để đạt kết quả cao nhất
  • Đã bao gồm những hiện tượng phổ biến của lão hóa như: suy giảm chức năng, trầm cảm, giảm trí nhớ
  • Xác định được nhóm người có nguy cơ sớm hơn các công cụ sàng lọc dinh dưỡng khác
  • Xác định được nhóm đối tượng có khả năng đáp ứng điều trị
  • Ngoài khả năng xác định những đối tượng có nguy cơ suy dinh dưỡng, MNA còn giúp nhân viên y tế can thiệp chính xác vào nguyên nhân gây suy dinh dưỡng đặc thù của nhóm đối tượng.
  • Có khả năng dự đoán kết quả tiêu cực trong điều trị.
*Các tổ chức khuyến nghị sử dụng MNA

American Dietetic Association (ADA) Evidence Analysis Library
American Society for Parenteral and Enteral Nutrition (A.S.P.E.N.)
European Society for Parenteral and Enteral Nutrition (ESPEN)
American Medical Directors Association
The International Academy of Nutrition and Aging (IANA)
The Hartford Institute for Geriatric Nursing
The Nurse Practitioner’s Guidelines for Long Term Care
The National Pressure Ulcer Advisory Panel (NPUAP)

Tài liệu tham khảo

http://www.mna-elderly.com/identifying_malnutrition.html

 

Bài viết Tại sao nên dùng Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)? được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
Độ tin cậy của Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) https://yhoccongdong.com/thongtin/14799/ Wed, 20 Dec 2017 12:48:35 +0000 https://yhoccongdong.com/?p=14799 độ tin cậy của bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)

Một công cụ sàng lọc có độ tin cậy cao sẽ xác định chính xác đối tượng có tình trạng đó. Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) được xem là công cụ sàng lọc đã được công nhận tốt nhất cho cộng đồng những người cao tuổi

Bài viết Độ tin cậy của Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>
độ tin cậy của bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)

 

 

Độ tin cậy (tính thích hợp hay tính hữu dụng) của một công cụ là khái niệm thể hiện khả năng đo lường một đặc điểm cụ thể của công cụ đó. Công cụ này có thật sự đánh giá được thứ mà nó được tạo ra để đánh giá?

Công cụ sàng lọc cần được kiểm định là phù hợp với quần thể (cộng đồng) mục tiêu, cơ sở vật chất hiện có, phù hợp với các rối loạn và chẩn đoán cần thiết cho quần thể mục tiêu.

độ tin cậy của bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)

Tầm quan trọng của độ tin cậy khi lựa chọn một công cụ sàng lọc

Độ tin cậy trở nên quan trọng bởi vì một công cụ sàng lọc phải được xác định có khả năng đo lường yếu tố cần đo trong một quần thể chuyên biệt. Một công cụ có độ tin cậy cao sẽ xác định chính xác đối tượng  có tình trạng đó.

Ưu điểm của công cụ hợp lí

  • Xác định chính xác đối tượng thực sự cần giúp đỡ
  • Giảm thiểu khả năng bỏ lỡ các đối tượng cần can thiệp
  • Giảm lãng phí nguồn lực lên những đối tượng không cần can thiệp
  • Có khả năng chứng minh sự hiệu quả trong việc cải thiện sức

Những can thiệp sẽ dễ cho ra kết quả mong muốn khi dùng công cụ hợp lý, vì các đối tượng thích hợp được nhắm tới.

Những thành phần của độ tin cậy

Độ tin cậy được đánh giá bằng độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị dự đoán, độ tin cậy có giá trị từ 0 – 100%.

Giá trị dự đoán dương tính và âm tính kết hợp với độ nhạy và độ đặc hiệu sẽ hỗ trợ tốt cho các bác sĩ trong quá trình xem xét quần thể đang được khảo sát. Một cách lý tưởng, một xét nghiệm sàng lọc nên có độ nhạy và đặc hiệu cao,và có khả năng dự báo cả những kết quả tích cực và tiêu cực.

Công cụ sử dụng cần phải có độ tin cậy cao hoặc có khả năng cho cùng một kết quả cho mỗi lần áp dụng giống nhau và công cụ phải có độ chính xác cao khi ứng dụng trên nhiều cá thể.

Độ nhạy
  • Hiệu quả của công cụ khi xác định một bệnh hay tình trạng bệnh của một bệnh nhân
  • Độ nhạy của công cụ tầm soát dinh dưỡng càng cao, càng ít bỏ sót những ca mắc bệnh.
Độ đặc hiệu
  • Mức độ mà một bài test đưa ra kết quả âm tính đối với những người không mắc bệnh
  • Độ đặc hiệu của công cụ tầm soát dinh dưỡng càng cao, càng ít người dinh dưỡng bình thường bị tầm soát NHẦM thành có nguy cơ suy dinh dưỡng và càng ít tốn kém nguồn lực cho những người không cần can thiệp
Giá trị dự đoán dương tính Bao nhiêu đối tượng thực sự mắc bệnh (dương tính với bệnh)
Giá trị dự đoán âm tính Bao nhiêu đối tượng thực sự không mắc bệnh (âm tính với bệnh)
Độ tin cậy Bảo đảm kết quả nhận được sẽ tương tự khi lặp lại xét nghiệm trên cùng một nhóm đối tượng

Độ tin cậy của Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA)

Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) được xem là công cụ sàng lọc đã được công nhận tốt nhất cho cộng đồng những người cao tuổi. Nghiên cứu đầu tiên trên MNA-phiên bản đầy đủ cho độ nhạy 96%, độ đặc hiệu 98%, giá trị dự đoán dương tính 97% khi so sánh với tình trạng lâm sàng. Còn nghiên cứu trên MNA-phiên bản giản lược có độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác của chẩn đoán là 99% khi chẩn đoán suy dinh dưỡng. Độ nhạy và độ đặc hiệu của phiên bản MNA-phiên bản giản lược có chỉnh sửa gần đầy hầu như tương tự phiên bản MNA gốc, xác định phiên bản MNA-phiên bản giản lược gốc có độ tin cậy cao và so sánh tương đương với MNA phiên bản đầy đủ.

Tài liệu tham khảo

http://www.mna-elderly.com/validity_in_screening_tools.html

Bài viết Độ tin cậy của Bảng đánh giá dinh dưỡng (MNA) được xuất bản tại Y Học Cộng đồng.

]]>