Thứ Năm , 25 Tháng Hai 2021
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Các phương pháp điều trị đa u tủy xương

Các phương pháp điều trị đa u tủy xương

Bài viết thứ 5 trong 8 bài thuộc chủ đề Điều trị tổng hợp
 

Tổng quan chung

Trong bài viết này: Bạn sẽ tìm hiểu về các phương pháp điều trị khác nhau mà bác sĩ sử dụng để điều trị cho những người bệnh mắc bệnh đa u tủy xương.

Bài viết này giải thích về các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh đa u tủy. “Phương pháp điều trị tiêu chuẩn” là các phương pháp điều trị tốt nhất được biết đến. Khi đưa ra quyết định về kế hoạch điều trị, người bệnh cũng được khuyến khích xem xét các thử nghiệm lâm sàng như một lựa chọn. Thử nghiệm lâm sàng là một nghiên cứu thử nghiệm một phương pháp điều trị mới. Các bác sĩ muốn tìm hiểu xem phương pháp này có an toàn, hiệu quả và có thể tốt hơn phương pháp điều trị tiêu chuẩn hay không. Thử nghiệm lâm sàng có thể kiểm tra một loại thuốc mới, một sự kết hợp mới của các phương pháp điều trị tiêu chuẩn, hoặc liều lượng mới của thuốc tiêu chuẩn hoặc các phương pháp điều trị khác. Thử nghiệm lâm sàng là một lựa chọn để cân nhắc điều trị và chăm sóc cho tất cả các giai đoạn của bệnh ung thư. Bác sĩ có thể giúp người bệnh cân nhắc tất cả các lựa chọn điều trị. Nghiên cứu về các phương pháp điều trị đa u tủy xương mới đang được thực hiện rất tích cực và nhiều thử nghiệm lâm sàng đang đề nghị bệnh nhân tham gia.

Các phương pháp điều trị đa u tủy xương

Tổng quan điều trị

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, các bác sĩ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau thường làm việc cùng nhau để đưa ra kế hoạch điều trị tổng thể, kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau cho người bệnh. Đây được gọi là nhóm đa chuyên khoa. Nhóm chăm sóc ung thư gồm nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác như: trợ lý bác sĩ, điều dưỡng đa khoa, điều dưỡng ung thư, nhân viên công tác xã hội, dược sĩ, chuyên gia tư vấn, chuyên gia dinh dưỡng và những người khác.

Điều trị đa u tủy xương phụ thuộc vào việc bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hay không (xem phần phân loại giai đoạn) và toàn trạng sức khỏe của người bệnh. Trong nhiều trường hợp, một nhóm các bác sĩ sẽ làm việc cùng với bệnh nhân để đưa ra một kế hoạch điều trị tốt nhất. Mục tiêu của điều trị là loại bỏ tế bào u, kiểm soát sự phát triển của khối u, kiểm soát đau và giúp cho bệnh nhân có một cuộc sống tích cực.

Mặc dù chưa có phương pháp hữu hiệu có thể chữa khỏi đa u tủy xương, nhưng bệnh vẫn có thể được kiểm soát thành công ở nhiều bệnh nhân trong nhiều năm.

Các phương pháp điều trị thường được sử dụng cho bệnh đa u tủy xương sẽ được mô tả chi tiết dưới đây. Kế hoạch chăm sóc của người bệnh cũng có thể bao gồm điều trị triệu chứng và các tác dụng phụ, một phần quan trọng của việc điều trị ung thư.

Thông tin dưới đây được chia thành các phương pháp điều trị cho những bệnh nhân không có triệu chứng và những bệnh nhân có triệu chứng. Ngoài ra, các lựa chọn điều trị còn có thể phụ thuộc vào việc bệnh nhân mới được chẩn đoán đa u tủy xương hay là bệnh tái phát.

Hãy dành thời gian để tìm hiểu về tất cả các lựa chọn điều trị của bạn, bao gồm các thử nghiệm lâm sàng, và đưa ra những câu hỏi về những điều chưa bạn chưa rõ. Ngoài ra, hãy trao đổi với bác sỹ về các mục tiêu của mỗi lần điều trị và những điều mà bạn mong muốn trong khi điều trị.

Tìm hiểu rõ hơn về các quyết định điều trị tại Ra quyết định về điều trị ung thư.

Giám sát chủ động ở những bệnh nhân không có triệu chứng

Bệnh nhân đa u tủy xương giai đoạn sớm và không có triệu chứng, được gọi là đa u tủy xương tiềm tàng (Smoldering multiple myeloma-SMM) (xem phần phân loại giai đoạn), có thể chỉ cần đơn giản là theo dõi sát bởi bác sĩ thông qua kiểm tra sức khỏe toàn bộ. Cách tiếp cận này được gọi là giám sát chủ động hoặc thận trọng chờ đợi. Như đã nói ở trên, nếu có bằng chứng về loãng xương, việc truyền định kỳ bisphosphonates để đảo ngược quá trình này có thể được khuyến cáo. Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn lâm sàng, hoặc các phương pháp, được sử dụng để đánh giá việc sử dụng các thuốc điều trị nhắm trúng đích (xem dưới đây) hoặc liệu pháp miễn dịch (xem phần Nghiên cứu hiện tại) có thể ngăn ngừa hoặc trì hoãn đa u tủy xương phát triển thành bệnh cần điều trị. Nếu các triệu chứng xuất hiện, việc điều trị tích cực sẽ được bắt đầu.

Hiện nay, có hai thử nghiệm lâm sàng trên những bệnh nhân SMM “có nguy cơ cao” đã cho thấy việc điều trị sớm có thể làm chậm sự phát triển thành đa u tủy xương có triệu chứng cho một số bệnh nhân nhưng không kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh.

Tổng quan về các phương pháp điều trị cho bệnh nhân có triệu chứng

Điều trị cho những bệnh nhân đa u tủy xương có triệu chứng bao gồm cả điều trị để kiểm soát bệnh cũng như điều trị hỗ trợ để cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm các triệu chứng và duy trì chế độ dinh dưỡng tốt.

Điều trị bệnh trực tiếp bao gồm điều trị bằng thuốc, như điều trị nhắm trúng đích và/hoặc hóa trị, có hoặc không có steroid. Ghép tủy/ ghép tế bào gốc có thể là một lựa chọn.

Các phương pháp điều trị khác như xạ trị và phẫu thuật, được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể. Mỗi phương pháp điều trị được mô tả chi tiết dưới đây.

Kế hoạch điều trị gồm các giai đoạn (phases) khác nhau:

  • Điều trị khởi đầu để kiểm soát nhanh ung thư và giảm triệu chứng
  • Điều trị tăng cường với hóa trị hoặc ghép tủy/ tế bào gốc
  • Điều trị duy trì trong thời gian dài để dự phòng ung thư tái phát 

Điều trị toàn thân

Điều trị toàn thân là sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Bằng phương pháp này, thuốc sẽ được đưa vào máu, từ đó thuốc có thể tiếp cận tất cả các tế bào ung thư trong cơ thể. Điều trị toàn thân thường được chỉ định bởi một bác sĩ nội khoa ung thư.

Trong điều trị toàn thân, cách dùng thuốc phổ biến là đường tiêm truyền tĩnh mạch hoặc đường uống.

Các phương pháp điều trị toàn thân cho đa u tủy xương bao gồm:

Mỗi phương pháp điều trị được thảo luận chi tiết hơn dưới đây. Một bệnh nhân thường nhận được sự kết hợp của các phương pháp điều trị toàn thân trong cùng một thời điểm. Chúng cũng có thể được đưa ra như là một phần của kế hoạch điều trị gồm phẫu thuật và/hoặc xạ trị.

Các phác đồ phối hợp là một phần quan trọng trong điều trị bệnh đa u tủy xương. Kết hợp các hiệu quả điều trị khác nhau từ các loại thuốc khác nhau – chẳng hạn như kết hợp thuốc điều hòa miễn dịch, thuốc ức chế proteasome và steroid – có thể là một cách hiệu quả để kiểm soát bệnh.

Ngoài ra, các thuốc điều trị nhắm trúng đích khác có thể được bổ sung, tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của mỗi người bệnh.

Các loại thuốc được sử dụng để điều trị ung thư liên tục được đánh giá. Trao đổi với bác sĩ của bạn thường là cách tốt nhất để tìm hiểu về các loại thuốc mà bạn được sử dụng, tác dụng của chúng và các tác dụng phụ tiềm ẩn hoặc tương tác của thuốc với các thuốc khác. Điều quan trọng, là phải thông báo cho bác sĩ biết tất cả các thuốc hoặc thực phẩm chức năng mà bạn đang sử dụng, dù chúng được kê đơn hay không kê đơn. Các loại thảo mộc, thực phẩm chức năng hoặc các thuốc khác có thể tương tác với thuốc điều trị ung thư

Hóa trị

Hóa trị là sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư, thường bằng cách ngăn chặn không cho tế bào ung thư phát triển, phân chia và tạo ra nhiều tế bào hơn.

Một phác đồ hóa trị (liệu trình) thường bao gồm một số chu kì cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Một bệnh nhân có thể nhận được sự kết hợp các loại thuốc khác nhau trong cùng một thời điểm.

Sự kết hợp thuốc hóa trị đã được sử dụng thành công trong điều trị đa u tủy xương. Những thuốc này bao gồm cyclophosphamide (Cytoxan, Neosar), doxorubicin (Adriamycin, Doxil), melphalan (Alkeran), etoposide (Toposar, VePesid), cisplatin (Platinol), carmustine (BiCNU) và bendamustin (Bendeka).

Các loại thuốc hóa trị này có thể được sử dụng trong một số tình huống nhất định. Ví dụ như Melphalan thường được sử dụng nếu ghép tủy có trong kế hoạch điều trị. Liều cao Melphanlan được dùng để diệt tủy trong thời gian dài và chính các tế bào tủy xương của người bệnh sẽ được sử dụng để hồi phục sau phương pháp điều trị này.

Cũng có những khuyến nghị kết hợp các thuốc hóa trị với các loại điều trị khác, bao gồm điều trị nhắm trúng đích (xem ở trên) hoặc steroid (xem ở dưới). Ví dụ, sự kết hợp melphalan, prednisone steroid, và một thuốc điều trị nhắm trúng đích mới là bortezomib (Velcade; xem bên dưới) đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận để điều trị ban đầu cho bệnh nhân đa u tủy xương vì sự kết hợp thuốc này làm tăng tỉ lệ sống thêm cho người bệnh so với chỉ điều điều trị bằng melphalan và prednisone. Một bệnh nhân cũng có thể dùng kết hợp melphalan, prednisone và thalidomide.

Các tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào từng cá nhân và liều dùng, hóa trị có thể gây ra mệt mỏi, nguy cơ nhiễm trùng, buồn nôn và nôn, rụng tóc, chán ăn, tiêu chảy hoặc táo bón. Các tác dụng phụ khác bao gồm bệnh lý thần kinh ngoại biên (cảm giác như kim châm hoặc tê bì ở bàn chân hoặc bàn tay), các vấn đề về đông máu và giảm số lượng tế bào máu. Những tác dụng phụ này thường hết sau khi kết thúc điều trị. Đôi khi phản ứng dị ứng như phát ban ở da hoặc mề đay có thể xảy ra và có thể phải ngừng thuốc.

Thời gian điều trị hóa trị tùy thuộc vào từng bệnh nhân và thường được dùng đến khi bệnh được kiểm soát tốt.

Tìm hiểu thêm về những vấn đề cơ bản của hóa trị 

Điều trị nhắm trúng đích

Điều trị nhắm trúng đích là phương pháp điều trị nhắm vào các gen, protein hoặc môi trường mô cụ thể góp phần vào sự phát triển và tồn tại của ung thư. Đây là phương pháp điều trị nhằm ngăn chặn sự phát triển và lan tràn của các tế bào ung thư và hạn chế tổn thương cho các tế bào lành. Trong những năm gần đây, điều trị nhắm trúng đích, đôi khi được gọi là liệu pháp mới, đã chứng minh ngày càng thành công trong việc kiểm soát đa u tủy xương và cải thiện tiên lượng. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tiến hành nghiên cứu và phát triển các loại thuốc mới để điều trị bệnh trong các thử nghiệm lâm sàng.

Không phải tất cả các khối u đều có các đích giống nhau. Để tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất, bác sĩ có thể phải thực hiện các xét nghiệm trên tế bào ung thư để xác định gen, protein và các yếu tố khác. Điều này giúp các bác sĩ tìm ra phương pháp trị hiệu quả hơn cho từng bệnh nhân. Ngoài ra, các nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm nhiều các phân tử đích cụ thể và các phương pháp điều trị mới nhắm vào chúng.

Điều trị nhắm trúng đích cho đa u tủy xương gồm:

  • Thuốc ức chế Proteasome

Bortezomib (Velcade), carfilzomib (Kyprolis), và ixazomib (Ninlaro) được phân vào nhóm ức chế proteasomes. Chúng nhắm vào các enzyme cụ thể gọi là proteasomes-enzymes tiêu hủy protein trong tế bào. Vì các tế bào u tủy xương sản xuất ra rất nhiều các protein (xem phần giới thiệu), chúng rất nhạy cảm với loại thuốc này. Bortezomib được chấp thuận để điều trị cho những bệnh nhân được chẩn đoán mới. Thuốc đồng thời cũng được sử dụng cho điều trị đa u tủy xương tái phát, cũng như carfilzomib và ixazomib.

  • Thuốc ức chế Histone deacetylase

Panobinostat (Farydak) là một thuốc ức chế enzyme histone deacetylase (HDAC), được dùng để điều trị đa u tủy xương tái phát. HDACs giữ cho DNA xoắn chặt, trong khi panobinostat giúp tháo xoắn DNA và hoạt hóa gene, giúp ngăn chặn hoặc làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư.

  • Kháng thể đơn dòng

Elotuzumab (Empliciti) và daratumumab (Darzalex) là các kháng thể đơn dòng, chúng gắn với tế bào u và đánh dấu các tế bào này nhằm giúp hệ miễn dịch của chính người bệnh nhận ra tiêu diệt chúng. Những thuốc này cũng hoạt động bằng cách nhắm trực tiếp vào tế bào u. Thuốc kết hợp daratumumab và hyaluronidase-fihj (Darzalex Faspro) cũng có thể được sử dụng để điều trị đa u tủy xương. Sự kết hợp này được tiêm dưới da bụng và nhanh hơn khi tiêm qua đường tĩnh mạch. Daratumumab cũng có thể được phối hợp với carfilzomib và dexamethasone để điều trị bệnh đa u tủy đã thất bại với từ 1 đến 3 lần điều trị trước đó. Isatuximab-irfc (Sarclisa) là một kháng thể đơn dòng được FDA chấp thuận để điều trị cho người lớn bị đa u tủy xương đã thất bại với hai lần điều trị trước đó. Isatuximab-irfc được dùng kết hợp với pomalidomide và dexamethasone.

  • Thuốc ức chế Nuclear export

Selinexor (Xpovio) là một thuốc nhắm trúng đích được dùng kết hợp với dexamethasone, để điều trị cho người lớn bị đau tủy xương tái phát sau 4 lần điều trị trước.

  • Kháng nguyên trưởng thành tế bào B (BCMA). Belantamab mafodotin-blmf (Blenrep) là thuốc kết hợp kháng thể được FDA chấp thuận để điều trị cho người lớn mắc bệnh đa u tủy xương tái phát hoặc dai dẳng đã nhận được ít nhất 4 lần điều trị trước đó. Belantomab mafodotin-blmf sử dụng một kháng thể để liên kết với BCMA và vận chuyển thuốc đến tế bào ung thư.
  • Điều trị nhắm trúng đích cũng được sử dụng kết hợp với hóa trị (xem ở trên), các thuốc điều hòa miễn dịch hoặc với các thuốc steroid (xem ở trên), vì sự kết hợp một số thuốc nhất định đôi khi mang lại hiệu quả tốt hơn một loại thuốc đơn độc. Chẳng hạn, kết hợp thuốc lenalidomide, bortezomib và dexamethasone, hay kết hợp bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone trong điều trị ban đầu. Các thử nghiệm lâm sàng đang tìm hiểu xem liệu sự kết hợp lenalidomide, bortezomib và dexamethasone có thể có hiệu quả như kết hợp lenalidomide, bortezomib và dexamethasone hay không, sau khi ghép tế bào gốc (xem ở dưới).
  • Thalidomide, lenalidomide và bortezomib cũng được sử dụng có hiệu quả khi điều trị duy trì để kéo dài đáp ứng của bệnh với điều trị ban đầu hoặc sau khi ghép tế bào gốc. Tuy nhiên, quyết định cấy tế bào gốc/ghép tủy xương khá phức tạp và nên được thảo luận kĩ với bác sĩ của bạn.

Nghiên cứu cho thấy rằng điều trị duy trì (tiếp tục dùng thuốc) với lenalidomide và/hoặc bortezomib tăng thời gian sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ cho người bệnh. Điều trị duy trì phải được sử dụng thận trọng, mặc dù các nghiên cứu gần đây cho thấy có sự cải thiện đáng kể thời gian sống thêm ở những người bệnh có sử dụng phương pháp này.

Thuốc điều hòa miễn dịch

Thalidomide, lenalidomide (Revlimid) và pomalidomide (Pomalyst) được phân loại là thuốc điều hòa miễn dịch, giúp kích thích hệ thống miễn dịch. Những loại thuốc này cũng ngăn không cho các mạch máu mới hình thành và nuôi các tế bào u. Thalidomide và lenalidomide được chấp thuận để điều trị cho những bệnh nhân mới được chẩn đoán. Lenalidomide và pomalidomide cũng có hiệu quả trong điều trị đa u tủy xương tái phát.

Thuốc chống viêm steoid

Các steroid, như prednisone và dexamethasone, có thể được dùng đơn độc hoặc đồng thời với các thuốc khác, như với thuốc điều trị nhắm trúng đích hoặc hóa trị (xem ở trên). Steroid rất có hiệu quả trong việc làm giảm triệu chứng do các tế bào u gây ra, nhưng tác dụng này chỉ là tạm thời.

Ví dụ, lenalidomide (Revlimid) và dexamethasone là điều trị khởi đầu và điều trị duy trì được khuyến cáo cho những bệnh nhân không thể cấy ghép tế bào gốc. Kết hợp thêm bortezomib (Velcade) gần đây cho thấy là có hiệu quả trong một thử nghiệm lâm sàng. Bệnh nhân đa u tủy xương cũng được truyền bisphosphonate hàng tháng, đó là loại thuốc giúp ngăn ngừa hủy xương do đa u tủy xương ngày càng tiến triển xấu hơn.

Các thuốc chống hủy xương

Hầu hết bệnh nhân đa u tủy xương đều được điều trị với các thuốc chống hủy xương. Những thuốc này giúp tăng cường sức mạnh của xương, giảm đau xương và giảm nguy cơ gãy xương.

Có 2 loại thuốc chống hủy xương để điều trị mất xương do đa u tủy xương. Sự lựa chọn của thuốc phụ thuộc vào toàn trạng của bệnh nhân và nguy cơ tác dụng phụ của từng cá nhân.

  • Bisphosphonates, như acid zoledronic (Zometa) và pamidronate (Aredia), ngăn chặn các tế bào làm hủy xương, gọi là hủy cốt bào. Đối với đa u tủy xương, pamidronate hoặc acid zoledronic truyền tĩnh mạch mỗi 3 đến 4 tuần một lần. Thời gian mỗi lần truyền pamidronate phải kéo dài ít nhất 2 giờ, và mỗi lần truyền acid zoledronic kéo dài ít nhất 15 phút. Bệnh nhân có vấn đề nghiêm trọng ở thận thường được điều trị với liều pamidronate thấp hơn và thời gian truyền kéo dài hơn (chẳng hạn như từ 4 đến 6 giờ thay vì 2 giờ theo khuyến cáo). Acid zoledronic không được khuyến cáo cho những trường hợp bệnh nhân này.
  • Denosumab (Xgeva) là thuốc điều trị nhắm vào hủy cốt bào được gọi là chất ức chế phối tử RANK (một loại protein đóng vai trò là tín hiệu chính để thúc đẩy quá trình loại bỏ/tái hấp thu xương). Thuốc này được chấp thuận để điều trị đa u tủy xương và có thể là một lựa chọn tốt hơn cho những bệnh nhân có vấn đề về thận nghiêm trọng. Denosumab đắt hơn nhiều so với bisphosphonates và đã được chứng minh là có hiệu quả tương đương với bisphosphonates.

Điều trị bằng thuốc chống hủy xương được khuyến cáo lên đến 2 năm. Sau 2 năm, có thể ngừng điều trị nếu thuốc có hiệu quả. Nếu u tủy xương tái phát và xuất hiện các vấn đề mới ở xương, điều trị bằng thuốc chống hủy xương thường được bắt đầu lại. Hãy trao đổi với nhân viên y tế để biết thêm thông tin về việc ngừng và tái sử dụng những thuốc này.

Tác dụng phụ của bisphosphonates có thể bao gồm các triệu chứng giống cúm, thiếu máu, đau khớp và đau cơ, và các vấn đề ở thận. Bệnh nhân nên được xét nghiệm máu để kiểm tra chức năng thận trước mỗi lần dùng pamidronate hoặc acid zoledronic. Tác dụng phụ của denosumab có thể gồm tiêu chảy, buồn nôn, thiếu máu và đau lưng.

Hoại tử xương hàm là một tác dụng phụ không thường gặp nhưng khá nghiêm trọng của cả hai loại thuốc chống hủy xương. Các triệu chứng có thể là đau, sưng nề và nhiễm trùng ở xương hàm, rụng răng và lộ xương. Trước khi điều trị, bệnh nhân nên được khám răng toàn diện, và bất kỳ nhiễm trùng nào ở răng hoặc miệng cũng cần phải điều trị. Trong khi điều trị bằng thuốc chống hủy xương, bệnh nhân nên tránh thực hiện bất kỳ thủ thuật nha khoa xâm lấn nào, chẳng hạn như nhổ răng. Nên chăm sóc răng, nướu và lưỡi bằng cách đánh răng và dùng chỉ nha khoa thường xuyên.

Thuốc chống hủy xương không được khuyến cáo cho những bệnh lý sau:

  • U tương bào đơn độc (một u xương)
  • Đa u tủy xương tiềm tàng
  • Các bệnh lý bất thường tương bào không phải đa u tủy xương nhưng cũng trở thành đa u tủy xương, như bệnh lý gamma đơn dòng có ý nghĩa không xác định (MGUS)

Ghép tủy/ghép tế bào gốc

Ghép tủy là thủ thuật y khoa trong đó tủy xương có chứa tế bào ung thư được thay thế bằng các tế bào chuyên biệt cao, gọi là các tế bào gốc tạo máu, các tế bào này sẽ phát triển thành tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu khỏe mạnh trong tủy xương. Tế bào gốc tạo máu là các tế bào tạo máu được tìm thấy cả trong máu và trong tủy xương. Phương pháp này còn được gọi là ghép tế bào gốc vì thường dùng tế bào gốc trong máu để ghép, chứ không phải là mô tủy xương thực sự.

Trước khi đề xuất ghép tủy, bác sĩ sẽ trao đổi với người bệnh về những rủi ro của phương pháp điều trị này. Đồng thời, họ cũng sẽ xem xét một số yếu tố khác như loại ung thư, kết quả điều trị của các phương pháp đã dùng trước đó, tuổi và tổng trạng chung của người bệnh.

Có 2 loại ghép tế bào gốc tùy thuộc vào nguồn gốc của tế bào gốc tạo máu thay thế, đó là: ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại (ALLO) và tự thân (AUTO).

ALLO sử dụng các tế bào gốc được hiến tặng, trong khi AUTO sử dụng các tế bào gốc của chính người bệnh. Đối với đa u tủy xương, AUTO thường được sử dụng hơn. ALLO đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong cả hai loại, mục tiêu là tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư trong tủy xương, trong máu và các bộ phận khác của cơ thể bằng cách sử dụng hóa trị liều cao (thường là melphalan) và sau đó cho phép tế bào gốc tạo máu thay thế để tạo tủy xương khỏe mạnh và miễn dịch tốt hơn.

Xạ trị

Xạ trị là liệu pháp sử dụng các hạt hoặc sóng năng lượng cao như tia X, tia Gamma… để phá hủy các tế bào ung thư. Nó được thực hiện bởi các chuyên gia xạ trị. Loại xạ trị phổ biến nhất là xạ trị ngoài, tia xạ được đưa vào khối u từ một máy phát đặt bên ngoài cơ thể. Phác đồ xạ trị (liệu trình xạ trị) thường bao gồm một số liều xạ cụ thể được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.

Bác sĩ có thể đề nghị xạ trị cho những bệnh nhân bị đau xương khi hóa trị không hiệu quả hoặc để kiểm soát cơn đau. Tuy nhiên, việc sử dụng xạ trị không phải là một quyết định dễ dàng. Trong một số trường hợp, đau (nhất là đau lưng) là do cấu trúc xương bị tổn thương. Xạ trị sẽ không có hiệu quả với loại đau này và có thể ảnh hưởng đến đáp ứng của tủy xương đối với các điều trị tiếp theo trong tương lai.

Tác dụng phụ của xạ trị có thể là mệt mỏi, phản ứng da nhẹ, đau bụng, và tiêu chảy. Hầu hết các tác dụng phụ này sẽ biến mất ngay khi kết thúc điều trị.

Phẫu thuật

Phẫu thuật thường không phải là một phương pháp điều trị trực tiếp cho đa u tủy xương, nhưng có thể được sử dụng để làm giảm triệu chứng (xem bên dưới). Phẫu thuật được sử dụng để điều trị bệnh lý ở xương, đặc biệt là nếu có gãy xương, và u tương bào sớm, đặc biệt là nếu chúng xuất hiện ở ngoài xương.

Ảnh hưởng về thể chất, tinh thần và xã hội của bệnh ung thư.

Ung thư và và các phương pháp điều trị ung thư thường gây ra các ảnh hưởng cho người bệnh cả về thể chất, tinh thần, xã hội và tài chính. Quản lý tất cả các ảnh hưởng này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ. Đó là một phần quan trọng trong việc chăm sóc người bệnh, bao gồm cả các phương pháp điều trị nhằm làm chậm, ngăn chặn hoặc loại bỏ ung thư.

Chăm sóc giảm nhẹ là bất kỳ biện pháp điều trị nào tập trung vào việc giảm các triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ. Bất kỳ người nào, bất kể tuổi tác nào, loại và giai đoạn ung thư nào, đều có thể được chăm sóc giảm nhẹ.

Chăm sóc giảm nhẹ thường phát huy tốt nhất khi nó được bắt đầu càng sớm càng tốt trong quá trình điều trị ung thư. Những bệnh nhân nhận được điều trị chăm sóc giảm nhẹ song song với quá trình điều trị ung thư thường có ít triệu chứng nghiêm trọng hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn, và hài lòng hơn với liệu trình điều trị.

Phục hồi chức năng bệnh ung thư là gì?

Các phương pháp điều trị chăm sóc giảm nhẹ rất đa dạng và thường bao gồm thuốc, thay đổi chế độ dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi thư giãn, hỗ trợ về mặt tinh thần, cảm xúc và các liệu pháp khác. Người bệnh có thể nhận được phương pháp điều trị giảm nhẹ tương tự như các phương pháp điều trị đặc hiệu khác như phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị. Trước khi bắt đầu kế hoạch điều trị, hãy thảo luận với bác sỹ điều trị về mục tiêu của từng phương pháp điều trị. Bạn cũng nên trao đổi về các tác dụng phụ có thể gặp khi tiến hành một phương pháp điều trị cụ thể và các lựa chọn về điều trị chăm sóc giảm nhẹ.

Trong quá trình điều trị, các bác sỹ có thể đề nghị bạn trả lời các câu hỏi và mô tả chi tiết các vấn đề liên quan đến các triệu chứng và tác dụng phụ mà bạn gặp. Hãy thông báo cho nhân viên y tế biết về những vấn đề mà bạn gặp phải trong quá trình điều trị. Điều này giúp họ có thể điều trị các triệu chứng và tác dụng phụ của bạn một cách nhanh nhất. Điều này còn giúp ngăn ngừa các vấn đề nghiêm trọng hơn có thể  xảy ra trong tương lai.

Tìm hiểu thêm về chăm sóc giảm nhẹ tai đây

Đa u tủy xương kháng trị

Bệnh đa u tủy xương được gọi là kháng trị nếu không còn đáp ứng với phương pháp điều trị mới nhất. Khi đó, hãy trao đổi với với các bác sĩ có kinh nghiệm điều trị đa u tủy xương kháng trị. Các bác sĩ có thể lựa chọn các phương pháp điều trị khác cho phù hợp. Ngoài ra các thử nghiệm lâm sàng có thể là một lựa chọn quan trọng.

Đôi khi, một số thuốc đã vượt qua các giai đoạn của thử nghiệm lâm sàng và đang chờ sự phê duyệt của FDA cũng được sẵn sàng cung cấp cho bệnh nhân đa u tủy xương kháng trị qua chương trình thử nghiệm lâm sàng mở rộng của FDA. Ví dụ như daratumumab (Darzalex) được phê duyệt lần đầu tiên vào năm 2015 để sử dụng đơn trị trong điều trị đa u tủy xương kháng trị sau khi thất bại với các phương pháp điều trị khác. Gần đây nhất, vào tháng 11/2016 FDA đã chấp thuận sử dụng kết hợp daratumumab với lenalidomide và dexamethasone hoặc với bortezomib và dexamethasone ở bệnh nhân đã điều trị ít nhất một lần trước đó. Kể từ đó, daratumumab đã nhận được thêm 5 phê duyệt từ FDA và hiện đã được phê duyệt kết hợp với bortezomib, thalidomide và dexamethasone để điều trị cho những bệnh nhân mới được chẩn đoán mắc bệnh đa u tủy xương mà có thể được cấy ghép tế bào gốc tự thân. Bạn có thể trao đổi với bác sĩ về tính khả dụng của các phương pháp điều trị đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.

Tìm hiểu thêm về một phương án điều trị ​​thứ hai trước khi bắt đầu điều trị, để bạn cảm thấy thoải mái với kế hoạch điều trị đã chọn.

Đối với những người bệnh bị đa u tủy xương kháng trị, điều trị chăm sóc giảm nhẹ cũng là một lựa chọn cần thiết để làm giảm các triệu chứng cũng như những tác dụng phụ không mong muốn.

Phần lớn người bệnh đều cảm thấy rất căng thẳng và rất khó chấp nhận khi được chẩn đoán là bệnh tái phát hoặc kháng trị. Người bệnh và gia đình người bệnh được khuyến khích nên chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ của họ với bác sĩ, nhân viên y tế và nhân viên chăm sóc xã hội. Nói chuyện với những người bệnh khác, chẳng hạn như thông qua một nhóm hỗ trợ hoặc một chương trình hỗ trợ cộng đồng cũng có thể hữu ích cho người bệnh và gia đình họ.

Lui bệnh và khả năng tái phát

Lui bệnh là khi ung thư không còn được phát hiện trong cơ thể và không có triệu chứng. Lui bệnh có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Điều này làm cho nhiều người lo lắng rằng ung thư sẽ quay trở lại. Điều quan trọng là cần trao đổi với nhân viên y tế về khả năng ung thư quay trở lại , vì đây là khả năng gần như chắc chắn sẽ xảy ra với đa u tủy xương mặc dù gần đây đã có rất nhiều những tiến bộ trong điều trị bệnh này. Hiểu được nguy cơ tái phát và các phương pháp điều trị có thể giúp bạn chuẩn bị tâm lý tốt hơn nếu ung thư quay trở lại.

Tìm hiểu thêm về cách đối phó với nỗi sợ bệnh tái phát

Nếu đa u tủy xương quay trở lại sau điều trị lần đầu, nó được gọi là bệnh tái phát. Khi điều này xảy ra, người bệnh sẽ được làm lại các xét nghiệm để phát hiện tối đa các tổn thương u. Sau khi hoàn thành các xét nghiệm, người bệnh và bác sỹ sẽ cùng thảo luận về các phương pháp điều trị. Thường thì kế hoạch điều trị sẽ bao gồm các phương pháp đã được mô tả ở trên như điều trị nhắm trúng đích và hóa trị, nhưng chúng có thể được sử dụng với một sự phối hợp khác hoặc dùng bằng cách khác. Những tiến bộ gần đây trong điều trị nhắm trúng đích đã mở ra nhiều cơ hội điều trị hiệu quả cho bệnh đa u tủy xương tái phát.

Bác sĩ cũng có thể đề xuất các phương pháp điều trị mới đang được tiến hành trong các thử nghiệm lâm sàng để điều trị đa u tủy xương tái phát. Hiện nay, nhiều loại thuốc đang được nghiên cứu trong các giai đoạn cuối của các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong điều trị cho đa u tủy xương tái phát. Xem phần “Nghiên cứu mới nhất” để biết thêm thông tin. Cho dù người bệnh lựa chọn kế hoạch điều trị nào thì chăm sóc giảm nhẹ cũng sẽ rất quan trọng để làm giảm triệu chứng và các tác dụng phụ.

Những bệnh nhân bị đa u tủy xương tái phát thường có tâm trạng hoài nghi hoặc sợ hãi. Người bệnh được khuyến khích trao đổi với nhân viên y tế về những cảm xúc này và về các dịch vụ hỗ trợ để giúp họ đối phó với chúng.

Tìm hiểu thêm về cách Đối phó với ung thư tái phát 

Thông tin cho phụ huynh: Cảm xúc

Nếu điều trị thất bại

Điều trị khỏi đa u tủy xương là không thể. Căn bệnh này vẫn được coi là không thể chữa khỏi mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị gần đây. Nếu ung thư không thể được kiểm soát ngay cả với các phương pháp điều trị mới nhất, bệnh được gọi là tiến triển hay giai đoạn cuối.

Chẩn đoán ung thư là một cú sốc tâm lý với người bệnh, và với nhiều người bệnh, nói chuyện về ung thư giai đoạn muộn là việc rất khó khăn. Nhưng điều quan trọng là người bệnh phải có các cuộc trò chuyện cởi mở và chân thành với nhân viên y tế để bày tỏ những cảm xúc, mong muốn và sự lo lắng của mình.

Nhân viên y tế là những người có những kỹ năng đặc biệt, kinh nghiệm và kiến thức để hỗ trợ người bệnh và gia đình người bệnh và họ luôn sẵn sàng để giúp đỡ người bệnh. Đảm bảo cho bệnh nhân thoải mái về thể chất không bị đau đớn và được hỗ trợ về mặt tinh thần là vô cùng quan trọng.

Những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối và tiên lượng ​​sống dưới 6 tháng có thể cân nhắc dịch vụ chăm sóc cuối đời tại khu chăm sóc đặc biệt. Đây là nơi được thiết kế để cung cấp chất lượng cuộc sống tốt nhất cho những người bệnh gần cuối đời. Người bệnh và gia đình người bệnh được khuyến khích để suy nghĩ về nơi mà người bệnh sẽ được cảm thấy thoải mái nhất: ở nhà, trong bệnh viện, hoặc trong một môi trường chăm sóc đặc biệt. Chăm sóc điều dưỡng và trang thiết bị đặc biệt có thể làm cho việc ở nhà là một giải pháp thay thế khả thi cho nhiều gia đình.

Sau khi người bệnh qua đời, nhiều người thân của họ cần sự hỗ trợ để đối phó với sự mất mát và đau buồn.

Tìm hiểu thêm về đau buồn và mất mát.

Phần tiếp theo là những hướng dẫn về các thử nghiệm lâm sàng, cung cấp thêm những thông tin về các nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra những phương pháp tốt hơn để chăm sóc những người bị ung thư.

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.