Chủ Nhật , 25 Tháng Mười 2020
Trang chủ 2019-nCoV Cập nhật khoa học về COVID-19: Ngày 15 tháng 9 năm 2020

Cập nhật khoa học về COVID-19: Ngày 15 tháng 9 năm 2020

Bài viết thứ 53 trong 53 bài thuộc chủ đề 2019-nCoV
 

Chuyên mục cập nhật thông tin khoa học về đại dịch COVID-19 ngày 15 tháng 9 năm 2020 do Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC) tổng hợp.

Phát triển vaccine

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Độ an toàn và tính sinh miễn dịch của vaccine COVID-19 có tăng cường nguyên tố dị loại dựa trên vectơ rAd26 và rAd5 ở hai dạng: hai thử nghiệm vaccine không ngẫu nhiên, mở, pha 1/2. Logunov và cộng sự. Lancet (ngày 4 tháng 9 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Sau khi tiêm vaccine, không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào xảy ra, chỉ có một số triệu chứng nhẹ thường gặp bao gồm: đau tại chỗ tiêm (58%), tăng thân nhiệt (50%), nhức đầu (42%), suy nhược (28%), đau cơ và đau khớp (24%).
  • Tất cả những người tham gia đều tạo ra các kháng thể trung hòa với SARS-CoV-2 (Hình).
  • Hiệu giá kháng thể trung hòa ở những người được tiêm vaccine không khác biệt đáng kể so với những người hiến huyết tương đã khỏi bệnh sau khi mắc COVID-19 nhẹ và trung bình.
  • Các dạng vaccine đông lạnh và khô cũng có hiệu lực tương tự.
  • Phản ứng qua trung gian tế bào đều được phát hiện ở tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu.

Phương pháp: Các nghiên cứu thử nghiệm vaccine không ngẫu nhiên, mở, pha 1 (n = 36) và 2 (n = 40) ở người trường thành từ ngày 18 tháng 6 đến ngày 3 tháng 8 năm 2020 tại Nga. Các dạng vaccine đông lạnh hoặc đông khô sử dụng hai vectơ adenovirus tái tổ hợp là rAd26 và rAd5. Cả hai vectơ đều chứa protein gai (S) của SARS-CoV-2 và đều được tiêm bắp. Giai đoạn 1 đánh giá một liều rAd26-S hoặc rAd5-S vào các ngày 0, 2, 14, 21 và 28. Giai đoạn 2 đánh giá một liều rAd26-S ban đầu, và sau đó 21 ngày tiêm thêm một liều rAd5-S, đánh giá vào các ngày 0, 14, 21, 28 và 42. Độ an toàn, các kháng thể kháng virus và các phản ứng của tế bào T được đo lường. Khả năng miễn dịch sau tiêm được so sánh với nồng độ kháng thể trong huyết tương trước khi nhiễm SARS-CoV-2 của 4.817 người mắc bệnh nhẹ (sốt ≤39 ° C, không bị viêm phổi) và vừa (sốt> 39 ° C kèm viêm phổi) đã hồi phục. Hạn chế: Cỡ mẫu nhỏ; thời gian theo dõi ngắn; không có giả dược hoặc vaccine đối chứng; không có người tham gia> 60 tuổi; thông tin hạn chế về cách chọn liều; pha 2 bắt đầu 5 ngày sau khi pha 1 bắt đầu; phân tích chi tiết về các phản ứng qua trung gian tế bào không được báo cáo.

Hàm ý: Một thử nghiệm vaccine pha 1/2 ở Nga đã chứng minh tính sinh miễn dịch của vaccinie này và chưa thấy tác dụng phụ nghiêm trọng. Mặc dù đã có kế hoạch thử nghiệm pha 3, nhưng Nga đang dự định phê duyệt loại vaccine này. Trong một bài xã luận kèm theo, Burki chỉ ra rằng phản ứng miễn dịch có thể không tương quan với mức độ bảo vệ. Cần thêm các nghiên cứu sâu hơn bao gồm các thử nghiệm quy mô lớn để xác định khả năng miễn dịch lâu dài, độ an toàn và hiệu quả của vaccine, và các mối tương quan về mức độ bảo vệ.

Hình:

Ghi chú: Theo Logunov và cộng sự. Nồng độ kháng thể trung hòa vào các ngày 0, 14, 21, 28, và 42 sau khi tiêm liều rAd26 đầu tiên với sự tăng cường dị loại của rAd5-S vào ngày 21 và trong huyết tương của những người đã khỏi bệnh sau khi mắc COVID-19 từ nhẹ đến trung bình. Các dạng vaccine đông lạnh (trái) và khô (phải) theo như hình.

Giám sát nước thải SARS-CoV-2

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Phát hiện về thời gian và đánh giá phả hệ của SARS-CoV-2 trong nước thải đô thị. Nemudryi và cộng sự. Cell Reports Medicine. (Ngày 31 tháng 8 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Trong hai đợt bùng phát SARS-CoV-2 ở Bozeman, MT, việc phát hiện RNA của SARS-CoV-2 trong nước thải kèm theo sau đó là sự xuất hiện triệu chứng của những người sống ở lưu vực chứa nước thải từ 5–8 ngày và trước khi chẩn đoán PCR lâm sàng của bệnh nhân từ 2-4 ngày (Hình).
  • Định lượng RNA SARS-CoV-2 được phát hiện trong lưu vực chứa nước thải có xu hướng phản ánh gánh nặng lây nhiễm trong cộng đồng.

Phương pháp: Nghiên cứu giám sát môi trường sử dụng RT-PCR để theo dõi nước thải ở Montana nhằm phát hiện RNA của SARS-CoV-2. Giải trình tự gen và phân tích phả hệ được sử dụng để xác định các chủng loại và đột biến đang lưu hành. Tiến hành khảo sát các bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiễm SARS-CoV-2 sống ở lưu vực chứa nước thải để xác định thời điểm phát hiện virus trong nước thải so với thời điểm khởi phát triệu chứng và chẩn đoán lâm sàng bằng xét nghiệm PCR. Hạn chế: Nghiên cứu cục bộ và các kết quả không mang tính đại diện.

Hàm ý: Nồng độ RNA SARS-CoV-2 trong nước thải tương quan với dịch tễ học về COVID-19. Việc xét nghiệm nước thải chưa qua xử lý có thể giúp các cơ quan y tế công cộng xác định các nhóm đối tượng ưu tiên cần được xét nghiệm COVID-19 và thực hiện các chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt hơn, cũng như giám sát gánh nặng bệnh tật của cộng đồng.

Hình:

Ghi chú: Theo Nemudryi và cộng sự. A: Động lực học theo thời gian của RNA SARS-CoV-2 trong nước thải đô thị được đặt chồng lên dữ liệu dịch tễ học với các ngày có dữ liệu khởi phát triệu chứng (thu thập bằng cách phỏng vấn hồi cứu bệnh nhân có xét nghiệm dương tính với COVID-19) và các xét nghiệm RT-PCR SARS-CoV-2 dương tính. Các hình tròn màu đỏ và hình tam giác màu xanh là nồng độ RNA SARS-CoV-2 trong nước thải đô thị được đo bằng RT-PCR sử dụng đoạn mồi N1 và N2 (biểu thị trên trục y). Các đường thẳng cho thấy các đường cong phù hợp với dữ liệu RT-PCR và dữ liệu dịch tễ học sử dụng hồi quy đa thức cục bộ. B: Thời gian biểu hiện triệu chứng, sự phát hiện SARS-CoV-2 trong nước thải và kết quả xét nghiệm PCR lâm sàng. Được cấp phép bởi CC-BY-NC-ND 4.0.

Dịch tễ học

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Giãn cách xã hội đối với COVID-19 và chẩn đoán các bệnh truyền nhiễm khác ở trẻ em. Hatoun và cộng sự. Pediatrics (ngày 1 tháng 9 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Tỷ lệ hiện mắc của 12 hội chứng truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em trong giai đoạn sau giãn cách xã hội (SD) năm 2020 thấp hơn đáng kể so với giai đoạn cùng kỳ năm 2019 (p <0,001), (Hình).

Phương pháp: Phân tích hồi cứu từ mạng lưới chăm sóc nhi khoa ban đầu ở Massachusetts bao gồm khoảng 375.000 trẻ em. Tỷ lệ mới mắc hàng tuần của 12 bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em (ví dụ: viêm tai giữa cấp tính [AOM], nhiễm trùng đường hô hấp trên, viêm dạ dày ruột, nhiễm trùng da và mô mềm [SSTI], nhiễm trùng đường tiết niệu [UTI]) đã được phân tích trong 18 tuần đầu tiên của năm 2019 và 2020. Trong năm 2020, giai đoạn trước SD là 9 tuần đầu tiên của năm, thời gian thực hiện SD là tuần 10-12 và giai đoạn sau SD là tuần 13-18. Hạn chế: Không có thông tin về nhân chủng học hoặc các biến số khác; các kết quả có thể không được khái quát cho những địa phương khác.

Hàm ý: Các chính sách SD được áp dụng nhằm kìm hãm sự lây truyền của SARS-CoV-2 dường như cũng làm giảm sự lây lan của các bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em. UTI là bệnh không lây nhiễm và đáng lẽ không bị ảnh hưởng bởi SD; tỉ lệ UTI giảm có thể phản ánh sự miễn cưỡng của cha mẹ trong việc tìm kiếm sự chăm sóc y tế. Kimberlin và cộng sự khuyến cáo việc bỏ lỡ các mũi tiêm vaccine trong đại dịch có thể gây ra sự bùng phát của bệnh sởi và các tác nhân lây nhiễm khác mà trước đó đã được kiểm soát thông qua các chương trình tiêm chủng.

Hình:

Cập nhật khoa học về COVID-19

Ghi chú: Chỉnh sửa từ Hatoun và cộng sự. Tỷ lệ chẩn đoán hàng tuần trên 100.000 bệnh nhân mỗi ngày với 95% CI của các bệnh truyền nhiễm trẻ em thông thường, từ tuần 1 đến tuần 18 trong năm 2019 và 2020. Khu vực tô màu xám cho thấy thời gian thực hiện SD vào năm 2020.

Nhận thức của nhân viên y tế về sự bùng phát toàn cầu của virus corona mới (COVID-19) và thiết bị bảo hộ cá nhân: Khảo sát của một bệnh viện nhi khoa tuyến cuối. Piche-Renaud và cộng sự. Infection Control & Hospital Epidemiology (ngày 12 tháng 8 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Trong một khảo sát về nhân viên y tế (NVYT) tại bệnh viện cho thấy:
  • Chỉ 50% NVYT xác định đúng quy trình mặc và 35% xác định đúng quy trình tháo thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE).
  • Những người được hỏi lo ngại về việc phơi nhiễm COVID-19 tại nơi làm việc hơn là bên ngoài.
  • Nhân viên y tế tại khoa cấp cứu có số điểm cao nhất vì lo ngại về phơi nhiễm tại nơi làm việc.
  • Nhân viên hành chính đạt điểm cao nhất vì lo ngại về việc tiếp xúc bên ngoài công việc.

Phương pháp: Bảng câu hỏi tự điền được hoàn thành bởi 175 NVYT tại một bệnh viện nhi khoa lớn ở Canada trong thời gian từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 3 năm 2020. Kiến thức và mối quan tâm của NVYT liên quan đến phơi nhiễm và lây nhiễm bên trong và bên ngoài nơi làm việc đã được đánh giá và cho điểm. Hạn chế: lấy mẫu thuận tiện; các kết quả không khái quát hóa được; tỷ lệ trả lời chỉ là 18,4%; kiến thức và nhận thức của NVYT được đánh giá trong một khoảng thời gian bị giới hạn.

Hàm ý: Tập huấn định kỳ cho tất cả NVYT về các quy trình PPE kết hợp với việc cập nhật kiến ​​thức về COVID-19 có thể giúp tang cường sự tuân thủ theo các khuyến cáo về PPE.

Quản lý và điều trị lâm sàng

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Một chiến lược quốc gia để chẩn đoán COVID-19 liên quan đến bệnh nấm xâm lấn tại ICU. White và cộng sự. Clinical Infectious Diseases (29 tháng 8 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Năm mươi mốt trong số 135 bệnh nhân COVID-19 tại ICU (37,8%; CI 95% 30,0-46,2) có ≥1 xét nghiệm dương tính với bệnh nấm xâm lấn (IFD).
  • 17 trường hợp dương tính với nấm men (chủ yếu là Candida), 30 trường hợp dương tính với Aspergillus, 4 trường hợp nhiễm nấm không xác định.
  • Tiên lượng của bệnh nhân mắc IFD nói chung kém hơn so với những bệnh nhân không mắc bệnh; tuy nhiên, sau khi được điều trị bằng liệu pháp chống nấm (AFT), tỷ lệ tử vong của nhóm này giống với bệnh nhân COVID-19 không có IFD.

Phương pháp: Đánh giá đa trung tâm, đoàn hệ tiến cứu IFD trong số 135 bệnh nhân COVID-19 tại ICU. Xét nghiệm chẩn đoán bao gồm nuôi cấy, xét nghiệm kháng nguyên β-D-Glucan, Aspergillus hoặc PCR Aspergillus và chẩn đoán hình ảnh lồng ngực. Một số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng nấm. Hạn chế: chỉ một số bệnh nhân ICU được sàng lọc IFD; AFT được dùng theo chỉ định của bác sĩ, có thể có sai số.

Hàm ý: Trong bối cảnh chăm sóc bệnh nhân COVID-19 tại ICU, IFD có thể xảy ra. Việc chẩn đoán và điều trị có thể giúp cải thiện kết quả. Theo một bài xã luận của Hoenigl, những kết quả này cho thấy cần phải có các thử nghiệm đánh giá điều trị dự phòng kháng nấm ở bệnh nhân COVID-19.

Bệnh tim mạch ở các vận động viên đã khỏi bệnh COVID-19

Khi các môn thể thao mang tính cạnh tranh ở Mỹ bắt đầu hoạt động trở lại, các nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng viêm cơ tim sau khi nhiễm SARS-CoV-2 ở một số vận động viên đã dấy lên lo ngại vì tình trạng này có thể dẫn đến chứng loạn nhịp tim (nhịp tim bất thường) có thể đe dọa đến tính mạng. Chụp cộng hưởng từ tim (CMR) là một biện pháp quan trọng được sử dụng để phát hiện tình trạng viêm cơ tim. Các nghiên cứu sau đây đã sử dụng CMR để xác định viêm cơ tim ở những vận động viên mới hồi phục sau khi mắc COVID-19.

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Các kết quả cộng hưởng từ tim mạch ở các vận động viên đã hồi phục sau khi mắc COVID-19. Rajpal và cộng sự. JAMA Cardiology (ngày 13 tháng 9 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Bốn vận động viên (15%) có kết quả CMR tăng cản quang (với chất gadolinium) phù hợp với viêm cơ tim.
  • Trong số này, hai người có triệu chứng nhẹ (khó thở) và 2 người không có triệu chứng.
  • Tám vận động viên khác (30,8%) có dấu hiệu tổn thương cơ tim trước đó.

Phương pháp: CMR được thực hiện trên 26 vận động viên đại học có PCR dương tính với SARS-CoV-2 trước đó từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2020. Điện tâm đồ, troponin I huyết thanh và siêu âm tim lồng ngực được thực hiện vào ngày chụp CMR. Hạn chế: Thiếu hình ảnh CMR bình thường và hình ảnh CMR thay đổi theo thời gian từ khi dương tính với COVID-19.

PREPRINTS (CHƯA ĐƯỢC BÌNH DUYỆT)

Bệnh lý cơ tim COVID-19 được đánh giá thông qua sàng lọc cộng hưởng từ tim (COMPETE CMR). Clark và cộng sự. medRxiv (ngày 2 tháng 9 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • 2 trong số 22 vận động viên đại học đã hồi phục sau khi mắc COVID-19 nhẹ hoặc không triệu chứng có biểu hiện bất thường trên hình ảnh cộng hưởng từ tim có cản quang (CMR).
  • Một người bị viêm màng ngoài tim kèm tràn dịch (viêm túi xung quanh tim) và người còn lại bị viêm cơ tim cấp tính (viêm cơ tim) (Hình).
  • Tất cả các xét nghiệm tim khác đều bình thường.

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu các vận động viên bị nhiễm SARS-CoV-2 trước đó tại khu 1 của một trường đại học vào tháng 8 năm 2020. Điện tâm đồ, troponin I, siêu âm tim với hình ảnh biến dạng và CMR cản quang được tiến hành. Hạn chế: cỡ mẫu nhỏ; chỉ tiến hành tại 1 trường đại học duy nhất.

Hình:

Cập nhật khoa học về COVID-19

Ghi chú: Theo Clark và cộng sự. Hình bên trái: Các mũi tên màu trắng cho thấy tràn dịch màng ngoài tim ở vận động viên bị viêm và tràn dịch màng ngoài tim. Hình bên phải: Viêm (mũi tên màu trắng) của đáy vách (vách ngăn) phân chia tâm thất phải (RV) và trái (LV) ở vận động viên bị viêm cơ tim. Được cấp phép bởi CC-BY-NC-ND 4.0.

Hàm ý cho 2 nghiên cứu (Rajpal cùng cộng sự Clark cùng cộng sự.): Cả viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim đều có thể làm tăng nguy cơ nhịp tim bất thường đe dọa đến tính mạng, đặc biệt là khi gắng sức. Những dữ liệu ban đầu này cho thấy CMR có thể hữu ích trong việc sàng lọc những bất thường về tim sau khi mắc COVID-19 và đưa ra các hướng dẫn để vận động viên có thể trở lại thi đấu. Đánh giá thêm về tác dụng tim mạch của COVID-19 được trình bày chi tiết bởi Capotosto và cộng sự.

Các kháng thể trung hòa

ĐÃ ĐƯỢC BÌNH DUYỆT

Mức độ nghiêm trọng của bệnh quy định các phản ứng kháng thể trung hòa đặc hiệu với SARS-CoV-2 trong bệnh COVID-19. Chen và cộng sự. Transduction and Targeted Therapy (2 tháng 9 năm 2020).

Những phát hiện chính:

  • Mức độ kháng thể trung hòa (NAb) cao hơn ở những người đã mắc bệnh COVID-19 nặng hoặc trung bình so với những người bị bệnh nhẹ hoặc không có triệu chứng (Hình).

Phương pháp: Phân tích cắt ngang 59 người trưởng thành đã khỏi bệnh COVID-19 từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2020. Các bệnh nhân không triệu chứng (n = 11) được xác định thông qua việc tầm soát người tiếp xúc gần với bệnh nhân COVID-19. Dữ liệu từ những người này được so sánh với những người đã mắc COVID-19 ở mức độ nhẹ (n = 4), vừa (n = 34) và nặng (n = 10). NAbs được kiểm tra về sự bám dính và ngăn chặn thụ thể của protein gai SARS-CoV-2 (S) và được đánh giá về mặt chức năng bằng cách sử dụng các xét nghiệm trung hòa chống lại cả pseudovirus và SARS-CoV-2. Hạn chế: bệnh nhân không triệu chứng, nhẹ và nặng chỉ với cỡ mẫu nhỏ.

Hàm ý: Nghiên cứu nhỏ này gợi ý rằng, mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng của COVID-19 tương quan thuận với sự gia tăng nồng độ Nabs sau đó.

Hình:

Cập nhật khoa học về COVID-19

Ghi chú: Theo Chen và cộng sự. Mức độ giảm RNA của virus do kháng thể trung hòa theo mức độ bệnh. ** p <0,01 và **** p <0,0001. ns-không đáng kể.

Tóm tắt các nghiên cứu khác

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm

Mục đích của các bản Cập nhật Khoa học CDC COVID-19 là chia sẻ các bài báo về sức khoẻ cộng đồng với các cơ quan và bộ phận y tế công cộng nhằm mục đích truyền thông và giáo dục. Các tài liệu được liệt kê trong Cập nhật Khoa học này được tuyển chọn để cung cấp nhận thức về các tài liệu liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Việc đưa vào tài liệu và bản thân tài liệu được cung cấp toàn bộ hoặc một phần ở đây, không nhất thiết thể hiện quan điểm của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ hoặc CDC, cũng không nhất thiết ngụ ý xác nhận các phương pháp hoặc kết quả. Mặc dù phần lớn các tài liệu COVID-19 là truy cập mở hoặc có sẵn miễn phí, nhưng người dùng bên thứ ba có trách nhiệm xác định xem bất kỳ quyền sở hữu trí tuệ nào chi phối việc sử dụng các tài liệu trong Bản cập nhật Khoa học này trước khi sử dụng hoặc phân phối chúng. Các kết quả được dựa trên nghiên cứu sẵn có tại thời điểm xuất bản và có thể được thay đổi.

Tài liệu tham khảo

https://www.cdc.gov/library/covid19/091520_covidupdate.html

Tải phiên bản PDF tại đây (Tiếng Anh).

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.