Thứ Ba , 23 Tháng Mười 2018

Nuôi con bằng sữa mẹ và ăn dặm

Bài viết thứ 15 trong 18 bài thuộc chủ đề Hướng dẫn dinh dưỡng
 

Khuyến cáo về dinh dưỡng trẻ em

Tóm tắt

Tổng quan

Chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển và làm giảm thiểu các nguy cơ bệnh tật về sau.

Dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ trong những năm đầu đời: Một nhiệm vụ quan trọng của bác sĩ là phải tư vấn dinh dưỡng dựa trên bằng chứng khoa học vững chắc. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy dinh dưỡng cho trẻ trong những năm đầu đời có ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và hành vi khi trưởng thành.

Kết quả

Nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn ít nhất trong 4 tháng đầu đời. Những trẻ không còn được nuôi bằng sữa mẹ, hoặc không còn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ. Nên được sử dụng sữa công thức hàm lượng đạm thấp chứa axit béo chuỗi dài không no. Nếu trong gia đình có tiền sử bị dị ứng (bố, mẹ hoặc anh/chị bị dị ứng). Thì trẻ nên được cho bú bằng sữa công thức thủy phân hoàn toàn cho đến khi bắt đầu ăn dặm.

Không nên cho trẻ ăn dặm quá sớm (trước 5 tháng tuổi) hoặc quá muộn (sau 7 tháng tuổi). Nên cho trẻ ăn thịt, cá 1 đến 2 lần/một tuần để trẻ được bổ sung thêm chất sắt. Ăn dặm muộn có liên quan đến việc tăng nguy cơ dị ứng ở trẻ và do vậy không được khuyến cáo. Không nên cho trẻ dưới 12 tháng tuổi bú sữa bò hoàn toàn. Tất cả các bé nên được bổ sung 2mg vitamin K lúc mới sinh, 7-10 ngày tuổi và 4-6 tuần tuổi, bổ sung vitamin D (400-500 IU) cho trẻ hàng ngày và bổ sung Fluoride (0.25mg) theo hướng dẫn của bác sĩ.

Kết luận

Các bác sĩ nên tư vấn dinh dưỡng cho cha mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý là nền tảng cho sự khỏe mạnh của trẻ về sau.

Trẻ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng trong những năm đầu đời. Một chế độ dinh dưỡng không hợp lý (thấp hơn so với nhu cầu mà trẻ cần) sẽ làm trẻ chậm phát triển về mặt thể chất và tinh thần.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy dinh dưỡng cho trẻ trong những năm đầu đời sẽ có tác động tới nền tảng sức khỏe của trẻ ở tuổi trưởng thành (“Chương trình dinh dưỡng sớm nhằm phục vụ cho  sức khỏe lâu dài”). Tư vấn dinh dưỡng dựa trên các chứng cứ khoa học là một nhiệm vụ quan trọng của bác sĩ. Tại Đức, các khuyến cáo về dinh dưỡng cho trẻ nhũ nhi đã được ban hành bởi Hội Nhi khoa và Thiếu niên Đức (Deutsche Gesellschaft für Kinder- und Jugendmedizin) và mạng lưới “Một khởi đầu khỏe mạnh trong cuộc sống”. Hội Tiêu hoá Nhi, gan mật và Dinh dưỡng nhi khoa Châu Âu (ESPGHAN) cũng đã đưa ra những quan điểm về các vấn đề này.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài báo này nhằm mục đích cho người đọc tiếp cận với

  • Khuyến cáo hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ.
  • Lựa chọn sữa thay thế.
  • Cách cho con ăn dặm.

Phương pháp

Chúng tôi tìm kiếm có chọn lọc các dữ liệu trên Pubmed các ấn phẩm dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ được công bố từ năm 2009 đến 2015. Dựa trên các tài liệu của châu Âu về nuôi con bằng sữa mẹ và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Những tài liệu này cũng như các khuyến cáo tại Đức và nước ngoài đã được các tác giả đánh giá và tóm tắt lại, các tài liệu được trích dẫn trong những ấn phẩm này cũng được tham khảo.

Nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Thành phần sữa mẹ rất phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ.

Những lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Một chế độ dinh dưỡng cân bằng và hợp lý cho mẹ sẽ giúp cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Sữa mẹ là nguồn thức ăn đảm bảo vệ sinh và sẵn có ở nhiệt độ thích hợp. Sữa mẹ không chỉ chứa các chất dinh dưỡng mà còn có nhiều thành phần miễn dịch hoạt động với khả năng chống nhiễm trùng và kháng viêm.

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm. Những nghiên cứu phân tích ở các nước phát triển cho thấy: Trẻ được nuôi bằng sữa công thức có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm cao gấp 2 lần so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 3 đến 6 tháng đầu đời. Cứ với khoảng 100 trẻ được bú mẹ thay vì bú bình trong 6 tháng đầu đời sẽ đưa đến việc phòng ngừa cho khoảng 13 trường hợp viêm tai giữa cấp, nguy cơ viêm dạ dày ruột cấp cũng giảm một nửa đến một phần ba. Theo đó, 100 trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng có thể ngăn ngừa được 15 đến 63 đợt bệnh tiêu chảy và 2-6 trường hợp nhập viện.

Tỷ lệ đột tử ở trẻ bú mẹ thấp hơn 15% đến 36% so với trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Điều đó có nghĩa là nuôi con bằng sữa mẹ có thể ngăn ngừa được 1 đột tử trong số 10.000 trẻ bú mẹ. Phân tích tổng hợp các nghiên cứu đoàn hệ cho thấy trẻ được bú mẹ giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh sau này, bao gồm:

  • Hen phế quản, khoảng 2 trường hợp được ngăn ngừa trên 100 trẻ bú mẹ.
  • Viêm da dị ứng, khoảng 3 trường hợp viêm da được ngăn ngừa trên 100 trẻ bú mẹ.
  • Béo phì, khoảng 3 trường hợp béo phì được ngăn ngừa trên 100 trẻ bú mẹ.

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp gắn kết tình cảm mẹ con cũng như phát triển nhận thức cho trẻ. Những người lúc nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ, khi ở tuổi trưởng thành có chỉ số IQ cao hơn 2 đến 3 điểm so với những người không được bú sữa mẹ, sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác. Sự khác biệt này do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có ảnh hưởng của các axit béo Omega 3 và Omega 6 axit docosahexaenoic (DHA) và axit arachidonic (ARA), vốn hiện diện trong các bộ não đang phát triển với số lượng lớn.

Một nghiên cứu tiến cứu đã chứng tỏ những người 30 tuổi từng được nuôi bằng sữa mẹ lúc nhỏ sẽ có chỉ số IQ cao hơn 3,8 điểm cũng như có nhiều hơn trung bình 0,9 năm được giáo dục và đào tạo nghề, và thu nhập cũng cao hơn 23% so với những người không được nuôi bằng sữa mẹ (sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác).

Nuôi con bằng sữa mẹ cũng mang lại nhiều lợi ích cho người mẹ như: tử cung co hồi nhanh hơn, giúp giảm cân sau sinh do cơ thể phải đốt cháy  năng lượng để sản xuất sữa mẹ và giảm nguy cơ ung thư vú khoảng 4%. Cho con bú trong 12 tháng đầu đời có thể ngăn ngừa 1 ca ung thư vú trên 200 phụ nữ.

Trước khi chuyển dạ, nên trang bị kiến thức đầy đủ về nuôi con bằng sữa mẹ cho cả vợ và chồng. Bởi lẽ sự hỗ trợ của người chồng sẽ giúp quá trình nuôi con bằng sữa mẹ dễ dàng và kéo dài được lâu hơn.

Bé sơ sinh nên được bú mẹ trong vòng 2 giờ đầu sau sinh hoặc trong vòng 30 phút nếu trẻ có nguy cơ hạ đường huyết. Người mẹ lần đầu cho con bú thường sẽ gặp khó khăn nên dễ dẫn đến việc cho bé ngừng bú sớm. Nhân viên y tế (ví dụ như y tá, chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ) sẽ đưa ra những tư vấn thích hợp để ngăn ngừa điều đó. Nếu không thể cho con bú sữa mẹ hoàn toàn, cũng nên khuyến khích mẹ cho con bú một phần, vì điều này cũng tốt cho sức khoẻ của trẻ.

Hãy cho trẻ bú khi trẻ muốn. Hầu hết trẻ bú 10 đến 12 lần trong vài tuần đầu tiên và sau đó cứ mỗi 3 đến 4 giờ trẻ sẽ bú một lần. Trong một số trường hợp đặc biệt (trẻ tăng cân không đủ..) cần đánh thức trẻ dậy để cho bú. Nếu cân nặng của trẻ sau khi sinh giảm quá 7 đến 10% trọng lượng khi sinh, hoặc nếu trẻ không tăng gram nào trong bảy ngày đầu, cần cho trẻ đi khám để tìm hiểu nguyên nhân. Trẻ nên được bú mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu và bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu. Thời gian bú mẹ phụ thuộc cả mẹ và bé.

Sau năm đầu tiên, cân nặng của những trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn sẽ tăng ít hơn 500 – 700 gram so với trẻ bú sữa công thức. Điều này cho thấy bú sữa mẹ giúp giảm nguy cơ béo phì cho trẻ sau này.

Thức ăn thay thế sữa mẹ

Trẻ không được bú sữa mẹ (hoặc bú mẹ không hoàn toàn) nên được bổ sung sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi. Các loại sữa khác chỉ nên được sử dụng khi trẻ ăn dặm. Sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi có thành phần chính là sữa bò.

Các loại sữa công thức cho trẻ :

  • Sữa dành cho trẻ nhũ nhi: là nguồn chất dinh dưỡng dành riêng trong 6 tháng đầu và có thể được sử dụng tới 12 tháng nếu trẻ không được bú mẹ:
    • Thành phần cacbohydrate chỉ có lactose.
    • Chứa các carbohydrate khác (tinh bột không chứa gluten, maltodextrin).
  • Sữa dành cho trẻ lớn hơn: thích hợp để sử dụng khi trẻ bắt đầu ăn dặm
    • Sữa cho trẻ bắt đầu ăn dặm.
    • Không thích hợp để sử dụng sau 10 đến 12 tháng tuổi vì chưa có lợi điểm nào được chứng minh.

Chỉ nên cho trẻ dùng sữa có protein từ đậu nành khi có chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là trong 6 tháng đầu của trẻ. Chất lượng protein trong sữa có nguồn gốc thực vật không bằng protein trong sữa bò. Có những quan ngại rằng Phytoestrogens, Phytates, và hàm lượng nhôm cao trong sữa công thức từ đậu nành có thể ảnh hưởng không tốt đến trẻ.

Khoảng 10% trẻ nhũ nhi dị ứng với sữa bò cũng bị dị ứng với protein của đậu nành. Vì vậy, với những trẻ khỏe mạnh hoặc trẻ bị dị ứng thức ăn thì không nên cho bú sữa công thức từ đậu nành trong 6 tháng đầu đời. Các chỉ định sử dụng sữa có protein từ đậu nành cho trẻ bao gồm: Bệnh Galactosemia (một bệnh hiếm gặp tỉ lệ 1/40000), trẻ dị ứng với sữa bò, phong tục tôn giáo không cho phép sử dụng sữa bò, trẻ không chịu bú sữa công thức thủy phân.

Bổ sung DHA được khuyến cáo nên đi kèm với một lượng ARA bằng hoặc hơn, sự kết hợp này đã được báo cáo có hiệu quả tích cực trên sự trưởng thành của thị lực và phát triển của trẻ. Không khuyến cáo bổ sung DHA mà không có ARA (ví dụ, dầu cá). Hiện nay, sữa công thức có hàm lượng protein tương đối thấp (<2 g / 100 kcal hoặc khoảng <1,3 g / 100 mL; so với hàm lượng protein trong sữa mẹ, 1,2g / 100ml) được ưa dùng hơn, do có thể làm giảm nguy cơ béo phì sau này.

Trong vài năm gần đây, sữa công thức đã được bổ sung prebiotic hoặc probiotic. Các loại sữa trên thị trường có bổ sung các chất này được chấp nhận là an toàn cho trẻ. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa thấy bất kỳ lợi ích lâm sàng nào được chứng minh từ các nghiên cứu tổng quan hệ thống. Việc pha chế sữa bò, hay sữa động vật khác tại nhà, hoặc các thức ăn khác được khuyến cáo rõ ràng: nguy cơ mất vệ sinh cao, cũng như không đảm bảo dinh dưỡng. Do có các phản ứng chéo, không nên sử dụng sữa từ động vật khác để dự phòng hoặc điều trị dị ứng với sữa bò.

Sữa công thức cho trẻ có tiền sử gia đình bị dị ứng

Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc bú mẹ không hoàn toàn mà có anh chị em ruột hoặc cha mẹ bị dị ứng nên được sử dụng sữa công thức thủy phân (gọi là công thức HA). Thử nghiệm can thiệp dinh dưỡng cho trẻ em Đức (GINI) cho thấy trẻ có tiền sử gia đình bị dị ứng nếu được áp dụng công thức HA phù hợp trong vài tháng đầu đời sẽ giảm khoảng 18% nguy cơ mắc bệnh viêm da tính đến 10 tuổi (sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác). Trong nhóm trẻ có nguy cơ này, việc sử dụng sữa công thức HA thay vì chế phẩm sữa bò đã ngăn ngừa được 6,4 trường hợp viêm da dị ứng trên 100 trẻ em. Khi trẻ đã ăn dặm, có thể sử dụng lại chế phẩm sữa bò thông thường.

Cách pha sữa công thức cho trẻ

Sữa công thức cho trẻ và các sản phẩm được chế biến ở nhiệt độ cực cao có ít vi khuẩn, nhưng không phải là vô trùng. Pha sữa ở nhiệt độ 25-45 độ C là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Có nguy cơ nhiễm Cronobacter spp., một vi khuẩn đặc biệt nguy hiểm cho trẻ sơ sinh (dù là sinh non hay đủ tháng), trẻ trong hai tháng đầu đời, và trẻ em có khiếm khuyết miễn dịch. Cronobacter có thể gây viêm màng não và viêm ruột hoại tử; những bệnh này dù hiếm (khoảng 1: 100.000) nhưng tỷ lệ tử vong cao và mắc di chứng lâu dài. Bảng sau cung cấp cách bảo quản sữa công thức và sữa mẹ sau khi đã vắt ra ngoài:

Nhiệt độ bảo quản Sữa mẹ Sữa công thức
Nhiệt độ phòng 6 giờ

(sữa rã đông,2 giờ)

2 giờ

(bỏ phần sữa còn dư)

4oC 72 giờ 24 giờ
-20- -40oC 6 tháng Không đông lạnh sữa công thức

Có thể sử dụng nước máy để pha sữa cho trẻ. Không nên dùng nước đọng, nghĩa là nước đã có trong hệ thống ống nước hộ gia đình trong vài giờ. Bởi nó có thể chứa hàm lượng kim loại nặng cao hơn và vì có thể hình thành các màng sinh học trên các vòi nước. Không nên sử dụng nước máy nếu các ống nước trong nhà có chứa chì (như ở một số nhà cũ), và nước giếng cũng không nên dùng trừ khi đã được kiểm tra. Trong những trường hợp như vậy, phải pha sữa với nước đóng chai thích hợp.

Không khuyến khích sử dụng các bộ lọc nước gia dụng, vì chúng có thể chứa các vi khuẩn hoặc các chất bẩn khác. Nước dùng để pha sữa bột nên giữ ấm (tối đa, 40°C) để tránh bị bỏng và tiêu hủy chất dinh dưỡng. Bình sữa và núm vú phải được làm sạch sau mỗi bữa bú. Nhưng không cần đun sôi hoặc khử trùng chai hoặc núm vú silicone để sử dụng tại nhà. Thỉnh thoảng nên luộc hoặc thay đổi núm vú cao su.

Ăn dặm

Thời gian bắt đầu cho ăn dặm không sớm hơn tháng thứ 5 và không trễ hơn tháng thứ 7. Từ tháng thứ 4, thứ 5 trở đi, hầu hết trẻ có thể ăn thêm những thức ăn mềm bằng lưỡi. Từ tháng thứ 5, thứ 6 trẻ bắt đầu biết thể hiện sự thích thú hoặc từ chối các loại thức ăn, điều này khác nhau tùy từng trẻ. Phụ huynh nên bắt đầu chế độ ăn dặm dựa trên những thức ăn trẻ thích và thêm vào các loại khác.

Ở Đức, biểu đồ nuôi ăn ở hình 3 đã được chứng minh là có hiệu quả. Hỗn hợp rau quả, khoai tây và thịt là những thức ăn mềm đầu tiên của trẻ (dầu cá thay cho thịt 1 hoặc 2 lần/tuần ) cung cấp nhiều kẽm và sắt. Dự trữ sắt của trẻ gần như cạn kiệt sau 4-6 tháng bú sữa mẹ hoàn toàn, và nhu cầu sắt/kg cân nặng đạt đỉnh trong nửa sau của năm đầu tiên. Cho ăn thịt, gan và cá sớm có liên quan đến việc tăng trưởng nhanh chóng và phát triển trí tuệ toàn diện sau này.

Hình 3: tỷ lệ phần trăm các thành phần thuộc chế độ ăn dặm trong năm đầu và chuyển sang ăn cùng gia đình vào cuối năm tuổi đầu tiên.
Hình 3
: tỷ lệ phần trăm các thành phần thuộc chế độ ăn dặm trong năm đầu và chuyển sang ăn cùng gia đình vào cuối năm tuổi đầu tiên.

Cần kiên nhẫn khi bắt đầu cho trẻ ăn dặm: bất cứ một loại thức ăn mới nào cần được cho trung bình 8 lần trước khi trẻ hoàn toàn chấp nhận. Mỗi tháng, một bữa sữa phụ được thay thế bằng hỗn hợp sữa – ngũ cốc hoặc trái cây – ngũ cốc. Nguyên liệu đa dạng có thể giúp thúc đẩy sự phát triển vị giác. Trong một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn tại Anh, trẻ 6 tháng được ăn nhiều loại rau quả khác nhau sẽ tiếp tục ăn nhiều rau quả khi bước vào tuổi đi học.

Phương pháp ăn dặm “cho trẻ tự quyết” được đề xuất gần đây: thức ăn được chế biến có kích thước phù hợp để trẻ có thể tự mình dùng tay lấy thức ăn và cho vào miệng. Phương pháp này được hy vọng có thể phát triển tính chủ động cho trẻ.

Tuy nhiên nghiên cứu tổng quan hệ thống cho thấy phương pháp này làm chậm quá trình bắt đầu cho ăn dặm. Và có thể gây ra ảnh hưởng không tốt đến dinh dưỡng cho trẻ cũng như giảm khả năng ngừa dị ứng. Ngoài ra, trẻ có thể bị sặc do một số loại thức ăn rắn ( các loại củ, vỏ bánh mì cứng, hạt).

Vì thế bắt đầu ăn dặm với thức ăn mềm vẫn được khuyến cáo. Nhưng đương nhiên vẫn có thể ăn cho các thức ăn cứng một chút nhưng không được quá cứng (như chuối…) để trẻ có thể dùng tay đưa thức ăn vào miệng. Khi trẻ khoảng 1 tuổi nên chuyển dần sang chế độ ăn cùng với gia đình. Với mục đích là cân bằng dinh dưỡng trong gia đình gồm 3 bữa chính một ngày và 2 bữa ăn phụ ở giữa.

Thức ăn tự nấu và chế biến sẵn

Thức ăn tự nấu và chế biến sẵn mỗi loại có những ưu điểm riêng. Dù là loại nào cũng nên tránh quá mặn, quá cay và quá ngọt.

Ưu điểm của thức ăn tự nấu và chế biến sẵn

Thức ăn tự nấu Thức ăn chế biến sẵn
Mùi vị đa dạng Phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định chính phủ về hạn chế hàm lượng chất gây hại
Chi phí thấp Tiện lợi, tiết kiệm thời gian
Có nhiều chất dinh dưỡng quan trọng (sắt, iốt, kẽm, vitamin D), đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng

Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng cao hơn ở trẻ sử dụng thức ăn tự nấu. Chỉ có một lượng nhỏ iốt trong loại thức ăn này. Vì thế nên bổ sung thêm các thức ăn chế biến sẵn, thức ăn giàu iốt hoặc là cung cấp iốt (50mcg/ngày). Không khuyến cáo sử dụng túi đồ ăn (thức ăn chế biến sẵn đóng gói dạng túi, có thể uống). Nên dùng thìa cho trẻ ăn dặm.

Thức ăn dặm tự làm nên được nấu ngay trước khi ăn hoặc bảo quản trong tủ lạnh không quá 24 giờ. Nó cũng có thể được bảo quản đông đến một vài tháng. Không nên cho trẻ ăn mật ong, dù có thể đã tiệt trùng vì có thể gây ngộ độc.

Thức ăn dặm tự làm

Công thức mẫu cho thức ăn dặm tự nấu. Ngoài ra, thức ăn chế biến sẵn có thể được sử dụng

  • Rau-khoai tây-thịt nghiền: 90-100g rau, 40-60g khoai tây, 15-20g nước trái cây, 20-30g thịt, 8-10g dầu cải.
  •  Sữa-ngũ cốc nghiền: 200g sữa hoặc sữa công thức, 20g ngũ cốc, 20g nước trái cây.
  • Ngũ cốc-trái cây : 20g ngũ cốc, 90g nước, 100g trái cây.

Ăn dặm và bất dung nạp thức ăn

Một vài hiệp hội y khoa đã từng khuyến cáo rằng một số thức ăn có thể gây ra phản ứng dị ứng như: trứng, đậu phộng. Do đó nên trì hoãn cho ăn các loại thức ăn này càng lâu càng tốt. Đến khi được ít nhất một tuổi thậm chí đến 3 tuổi. Tuy nhiên không có đủ chứng cứ để chứng tỏ rằng cách làm này có thể phòng ngừa dị ứng. Thậm chí với cả trẻ có tiền sử gia đình bị dị ứng. Ngược lại, việc chậm cho ăn các loại thức ăn này có liên quan đến tăng nhạy cảm dị ứng. Nếu thường xuyên có cá trong thức ăn dặm của trẻ thì nguy cơ mắc dị ứng sau này thấp hơn.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên được thực hiện ở những trẻ có nguy cơ dị ứng cao cho kết quả ở những trẻ 5 tuổi. Đậu phộng rất hiếm khi gây dị ứng nếu như trẻ được tiếp xúc sớm từ lúc 4 đến 11 tháng tuổi khi so với những trẻ ăn đậu phộng muộn hơn (1,9% so với 13,7%). Tuy nhiên phải nhớ rằng chỉ nên cho trẻ ăn đậu phộng dưới dạng nghiền vì có thể gây sặc.

Trong hai thử nghiệm ngẫu nhiên gần đây, nguy cơ bị bệnh Celiac không giảm dù cho ăn gluten muộn (sau 6 tháng) hay cho ăn sớm (trước 4 tháng).

Tuy nhiên, có mối liên quan giữa việc ăn một lượng lớn gluten khi ăn dặm với tăng tỉ lệ bị bệnh Celiac. Do đó, nên cho một lượng nhỏ gluten (một muỗng thức ăn từ ngũ cốc, một ít mì sợi) khi mới bắt đầu ăn rồi sau đó tăng dần.

Cho thể chọn tất cả các nhóm thức ăn ngay từ khi bắt đầu cho trẻ ăn dặm, gồm cả các loại gây dị ứng. Những trẻ có tiền sử gia đình dị ứng hay bị bệnh Celiac cũng tương tự.

Cung cấp dinh dưỡng trong năm đầu

Ở Đức, trong những tuần đầu đời, các trẻ khoẻ mạnh được bổ sung 2 mg vitamin K qua đường uống 3 lần. Thường là ngay sau khi sinh, 7 đến 10 ngày tuổi và 4 đến 6 tuần tuổi. Cách làm này có hiệu quả trong việc ngăn ngừa xuất huyết do thiếu vitamin K.

Trẻ cũng cần được uống bổ sung vitamin D (400-500 IU/ngày) và flo (thường 0.25 mg/ngày) bắt đầu từ 5 đến 10 ngày tuổi. Tiếp tục cho uống Vitamin D đến lúc trẻ bắt đầu bước vào mùa hè năm thứ 2. Khi mà có nguồn Vitamin nội sinh từ việc phơi nắng. Tiếp tục sử dụng Flo cho đến khi trẻ có thể sử dụng hằng ngày kem đánh răng có chứa Flo và có thể nhổ ra (thường giữa 3 đến 4 tuổi). Nếu nước uống ở địa phương có chứa hơn 0,7ppm Flo thì không cần thiết bổ sung Flo, nếu nồng độ giữa 0,3 và 0,7ppm thì nên giảm liều.

Đồ uống

Trẻ khoẻ mạnh và được bú mẹ hoàn toàn thì không cần thêm một loại thức uống nào khác ngoài sữa mẹ. Chỉ khi trẻ bắt đầu có 3 bữa ăn thức ăn mềm/ngày mới nên cho thêm nước uống hoặc một loại nước không ngọt thích hợp, nên sử dụng ly để cho trẻ uống.

Tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ hoặc sữa công thức. Nên tuyệt đối tránh các loại nước ngọt hoặc nước trái cây. Vì có nguy cơ cao gây sâu ở các răng cửa và không nên cho trẻ ngậm bình lúc đi ngủ.

Trong năm đầu, không nên cho bú sữa bò chưa qua chế biến và chỉ nên bắt đầu với một lượng nhỏ (200ml/ngày). Bú sữa bò chưa qua chế biến có thể dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt. Hơn nữa hàm lượng đạm trong sữa bò cao, việc uống quá nhiều sữa bò có thể gây béo phì sau này.

Dinh dưỡng thay thế ở trẻ

Nói chung, ăn chế độ ăn chỉ có Sữa – Trứng – Rau không có ảnh hưởng xấu tới trẻ. Tuy nhiên, do nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng, cần lựa chọn thức ăn cho trẻ cẩn thận. Sự tăng trưởng và tình trạng thiếu sắt của trẻ nên được theo dõi bởi bác sĩ.

Nếu trẻ được cho ăn với rau – khoai tây – ngũ cốc thay vì hỗn hợp rau – khoai tây – thịt. Thì cũng cung cấp được hầu hết các chất dinh dưỡng và protein. Nhưng có nguy cơ cao thiếu hụt các vi chất như sắt, kẽm, DHA.

Các loại thức ăn không có thịt được đóng gói sẵn có hàm lượng vitamin C không đủ. Vậy nên bổ sung thêm 2 đến 3 muỗng nước trái cây giàu vitamin C cho trẻ. Để giúp cơ thể hấp thu sắt từ các thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác.

Chế độ ăn chay nếu không được bổ sung thêm chất dinh dưỡng khác có thể dẫn tới nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng cho trẻ. Đặc biệt, thiếu Vitamin B12 có thể gây tổn thương thần kinh không hồi phục. Nguy cơ này cũng xuất hiện ở trẻ bú mẹ nếu người mẹ ăn chay. Hàm lượng DHA, vitamin D, sắt và kẽm trong chế độ ăn chay thấp, gây bất lợi cho sự phát triển và sức khoẻ của trẻ.

Tài liệu tham khảo

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4941615/

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.