Chủ Nhật , 24 Tháng Năm 2020
Trang chủ 2019-nCoV Phương thức lây truyền của 2019-nCoV và kiểm soát trong nha khoa lâm sàng

Phương thức lây truyền của 2019-nCoV và kiểm soát trong nha khoa lâm sàng

Bài viết thứ 13 trong 45 bài thuộc chủ đề 2019-nCoV
 

Bài viết từ Cổng thông tin nha khoa DEPA (MTC Pharma)

Phòng thí nghiệm trọng điểm về bệnh răng miệng & Trung tâm nghiên cứu lâm sàng quốc gia về bệnh răng miệng & Khoa Nội soi và Nội nha, Trung tâm Răng hàm mặt Bệnh viện Hoa Tây, Đại học Tứ Xuyên, Thành Đô, Trung Quốc Xian Peng, Xin Xu, Yuqing Li, Lei Cheng, Xuedong Zhou & Biao Ren

Tổng quan

Một chủng Novel β-coronavirus (2019-nCoV) gây viêm phổi nặng vừa được phát hiện tại chợ hải sản của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, sau đó nhanh chóng lan sang các tỉnh khác của Trung Quốc và cả các nước khác. 2019-nCoV khác với SARS-CoV, nhưng sử dụng cùng một thụ thể vật chủ là enzyme chuyển đổi angiotensin 2 của con người (ACE2). Nguồn dẫ truyền ngoài tự nhiên của 2019-nCoV có thể là dơi Rhinolophus afnis khi 2019-nCoV khi tìm thấy sự tương đồng đến 96,2% về gen so với bộ gen của BatCoV RaTG13. Các đường lây truyền từ người sang người của 2019-nCoV bao gồm truyền trực tiếp, chẳng hạn như ho, hắt hơi, truyền qua đường hô hấp và truyền tiếp xúc, chẳng hạn như tiếp xúc với màng nhầy miệng, mũi và mắt. Những người tham gia quy trình điều trị nha khoa có nguy cơ bị nhiễm 2019-nCoV rất lớn do tính chất công việc giao tiếp mặt đối mặt, tiếp xúc với nước bọt, máu và các chất dịch cơ thể khác, kèm việc sử dụng các dụng cụ sắc nhọn. Các chuyên gia nha khoa đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn việc truyền 2019-nCoV.

Giới thiệu

Một ổ dịch viêm phối mới xuất hiện có nguồn gốc từ thành phố Vũ Hán vào cuối tháng 12 năm 2019. Nhiễm trùng viêm phổi đã nhanh chóng lan rộng từ Vũ Hán đến hầu hết các tỉnh khác và 24 quốc gia. Tổ chức Y tế Thế giới đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng vì lo ngại về đợt bùng phát viêm phổi toàn cầu này vào ngày 30 tháng 1 năm 2020. Các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh nhân bị viêm phổi do virus mới là sốt, ho và đau cơ hoặc mệt mỏi, CT ngực bất thường. Các triệu chứng ít gặp hơn là có đờm, đau đầu, ho ra máu và tiêu chảy. Tác nhân truyền nhiễm mới này ảnh hưởng nặng đến người lớn tuổi, gây ra các bệnh hô hấp nghiêm trọng. Một số triệu chứng lâm sàng khác với hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) do SARS coronavirus (SARS-CoV) xảy ra vào năm 2002. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã nhanh chóng phân lập một loại virus mới từ bệnh nhân và giải mã trình tự bộ gen của nó (29,903 nucleotide). Bệnh viêm phổi do virus xảy ra ở Vũ Hán cuối cùng đã được xác định là một loại coronavirus mới (2019-nCOV), thành viên thứ bảy trong gia đình của coronavirus lây nhiễm cho người. Vào ngày 11 tháng 2 năm 2020, WHO đã đặt tên cho bệnh viêm phổi do virus mới là Corona Virus Disease (COVID19), trong khi Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) đã đề xuất tên coronavirus mới này là virut SARS-CoV-2 dựa trên phân tích phân loại của Novel Coronavirus

Đặc điểm của 2019 Novel Coronavirus

Các coronavirus thuộc họ coronaviridae, thuộc bộ Nidovirales, bao gồm RNA lớn, đơn, dạng chuỗi, như bộ gen chung. Hiện tại, có bốn chi Coronavirus: α-CoV, β -CoV, γ -CoV và δ -CoV. Hầu hết các Coronavirus có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm ở người và động vật có xương sống. α-CoV và β -CoV chủ yếu lây nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa và hệ thần kinh trung ương của người và động vật có vú, trong khi γ -CoV và δ -CoV chủ yếu lây nhiễm cho chim.

Thông thường, một số thành viên của Coronavirus gây ra bệnh hô hấp nhẹ ở người; tuy nhiên, SARS-CoV và hội chứng hô hấp Trung Đông Coronavirus (MERS-CoV) đã phát hiện lần lượt vào năm 2002-2003 và năm 2012, gây ra các bệnh hô hấp nghiêm trọng, SARS-CoV và MERS-CoV thuộc về β-CoV. 2019-nCoV được phát hiện ở Vũ Hán cũng thuộc về β-CoV theo phân tích phát sinh gen dựa trên bộ gen virus. Mặc dù về sự tương đồng về trình tự nucleotide ít hơn 80% giữa 2019-nCoV và SARS-CoV ( ở khoảng 79%) hoặc MERS-CoV (khoảng 50%), 2019-nCoV cũng có thể gây nhiễm trùng thai nhi và lây lan nhanh hơn hai loại virus coronavirus kia. Chuỗi sắc gen nucleotide giữa một coronavirus (BatCoV RaTG13) phát hiện trong dơi Rhinolophus afnis từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, và 2019-nCoV, là 96,2%, chỉ ra rằng vật chủ tự nhiên của 2019-nCoV cũng có thể là dơi Rhinolophus afnis. Tuy nhiên, sự khác biệt cũng gợi ý rằng có một hoặc nhiều vật chủ trung gian giữa dơi và người. Một nhóm nghiên cứu từ Đại học Nông nghiệp Nam Trung Quốc đã đầu tư hơn 1.000 mẫu metagenomic từ tê tê và phát hiện ra rằng 70% tê tê có chứa βCoV. Một trong những coronavirus mà họ phân lập được từ tê tê bao gồm một bộ gen rất giống với 2019-nCoV, và độ tương đồng trình tự bộ gen là 99%, cho thấy tê tê có thể là vật chủ trung gian của 2019-nCoV.

2019-nCoV sở hữu cấu trúc coronavirus “gai vương miện protein” điển hình, trong màng bọc cũng xuất hiện các polyprotein khác, nucleoprotein và protein màng như RNA polymerase protease 3 chymotrypsin like protease glycoprotein và protein 2/7 nucleoprotein và protein màng, như RNA polymerase, protease 3-chymotrypsin – like, protease, glycoprotein và protein phụ. Protein S từ coronavirus có thể liên kết với các thụ thể của vật chủ để tạo điều kiện cho virus xâm nhập vào các tế bào đích. Mặc dù có bốn biến thể axit amin của protein S giữa 2019-nCoV và SARS-CoV, 2019-nCoV vẫn có thể liên kết với enzyme chuyển đổi angiotensin 2 của con người (ACE2), cùng một thụ thể của SARS-CoV, như 2019-nCoV có thể liên kết với thụ thể ACE2 từ các tế bào từ người, dơi, mèo cầy và lợn, nhưng nó không thể liên kết với các tế bào mà không có ACE2. Một tái tổ hợp ACE2-Ig kháng thể, kháng thể đơn dòng nhân SARS-CoV cụ thể, và huyết thanh từ một bệnh nhân nhiễm SARS-CoV đã chữa khỏi, có thể vô hiệu hóa 2019-nCoV, khẳng định ACE2 như các thụ thể chủ cho 2019-nCoV. Mối quan hệ mật thiết giữa protein ACE2 và 2019- nCoV S cũng cho thấy rằng người có sự hiện diện ACE2 cao có thể dễ bị ảnh hưởng bởi 2019-nCoV. Protease serine tế bào TMPRSS2 cũng góp phần vào quá trình mồi S-protein 2019-nCoV, chỉ ra rằng chất ức chế TMPRSS2 có thể là một lựa chọn điều trị.

Các đường truyền của 2019-nCoV

Các đường lây truyền phổ biến của coronavirus mới bao gồm lây truyền trực tiếp (ho, hắt hơi và truyền qua đường hô hấp) và truyền tiếp xúc (tiếp xúc với màng nhầy miệng, mũi và mắt). Mặc dù các biểu hiện lâm sàng phổ biến của nhiễm coronavirus mới không bao gồm các triệu chứng về mắt, nhưng việc phân tích các mẫu kết mạc từ những trường hợp nghi ngờ và đã được xác nhận của 2019-nCoV cho thấy rằng việc truyền 2019-nCoV không bị giới hạn ở đường hô hấp, và việc tiếp xúc với mắt có thể cung cấp một cách hiệu quả để virus xâm nhập vào cơ thể.

Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng virus đường hô hấp có thể truyền từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp. Đáng chú ý, một báo cáo về một trường hợp nhiễm 2019-nCoV ở Đức chỉ ra rằng việc truyền virus cũng có thể xảy ra thông qua tiếp xúc với bệnh nhân không có triệu chứng.

Đường truyền của 2019-nCoV tại các phòng khám nha khoa

2019-nCoV có thể được truyền trực tiếp từ người này sang người khác bằng các giọt hô hấp, qua tiếp xúc các bề mặt truyền bệnh. Ngoài ra, thời gian ủ bệnh không triệu chứng cho những người bị nhiễm 2019-nCov đã được báo cáo là khoảng 14 ngày. Người ta đã xác nhận rằng 2019-nCov xâm nhập vào tế bào theo cùng một đường với SARS coronavirus, nghĩa là thông qua thụ thể tế bào ACE2. 2019-nCoV có thể sử dụng hiệu quả ACE2 như một thụ thể để xâm chiếm các tế bào, điều này có thể thúc đẩy sự lây truyền từ người sang người. Các tế bàoACE2 đã được thấy có mặt nhiều trong đường hô hấp, cũng như các tế bào tương thích về mặt hình thái với biểu mô tuyến nước bọt trong miệng của con người. Các tế bào biểu mô ACE2 của ống tuyến nước bọt đã được chứng minh là mục tiêu ban đầu của nhiễm SARS-CoV, và 2019-nCoV có thể là tình trạng tương tự, mặc dù cho đến nay chưa có nghiên cứu nào được báo cáo.

Bệnh nhân nha khoa và bác sĩ, nhân viên có thể tiếp xúc với các vi sinh vật gây bệnh, bao gồm virus và vi khuẩn lây nhiễm vào khoang miệng và đường hô hấp. Các cơ sở chăm sóc nha khoa luôn có nguy cơ bị nhiễm 2019-nCoV do tính đặc thù của quy trình, bao gồm giao tiếp mặt đối mặt với bệnh nhân và thường xuyên tiếp xúc với nước bọt, máu và các chất dịch cơ thể khác kèm theo dụng cụ sắc nhọn. Mầm bệnh từ các giọt và khí dung có chứa vi sinh vật của một người bị nhiễm bệnh, phát tán bằng ho, nói chuyện không đeo khẩu trang, có thể đến trực tiếp với kết mạc, mũi hoặc niêm mạc miệng của người bình thường, hoặc tiếp xúc gián tiếp với các dụng cụ bị ô nhiễm và/hoặc bề mặt môi trường.

Phương thức lây truyền của 2019-nCoV và kiểm soát trong nha khoa lâm sàng

Minh họa về đường truyền 2019-nCoV tại các phòng khám và bệnh viện nha khoa

Lây lan

Sự lây lan của SARS-Cov trong không khí (hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus) được báo cáo đầy đủ trong nhiều tài liệu. Các tài liệu nha khoa cho thấy nhiều quy trình nha khoa tạo ra các khí dung và và giọt dung dịch chứa virus. Do đó, việc ngăn ngừa tiếp xúc khí dung hay giọt dung dịch cùng với nước bọt, thậm chí máu chứa 2019-nCoV là mối quan tâm lớn nhất tại các phòng khám và bệnh viện nha khoa, ngoài đường ho và thở của bệnh nhân bị nhiễm bệnh, các thiết bị nha khoa như tay khoan nha khoa tốc độ cao sử dụng khí để lái tuabin quay và dùng nước làm mát cũng là một đường lây nhiễm. Khi các thiết bị nha khoa hoạt động trong khoang miệng của bệnh nhân, một lượng lớn khí dung và các giọt nhỏ trộn với nước bọt của bệnh nhân hoặc thậm chí là máu sẽ được tạo ra. Các hạt dung dịch đủ nhỏ để giữ trong không khí trong một thời gian dài trước khi chúng lắng xuống bề mặt môi trường hoặc đi vào đường hô hấp. Do đó, 2019-nCoV có khả năng lây lan cao từ các cá nhân bị nhiễm bệnh đến nhân viên và bệnh nhân khác tại phòng khám và bệnh viện nha khoa.

Bề mặt ô nhiễm lan rộng

Các coronavirus ở người như SARS-CoV, Trung Đông coronavirus (MERS-CoV) hoặc coronavirus ở người (HCoV) đặc hữu có thể tồn tại trên các bề mặt như kim loại, thủy tinh hoặc nhựa trong vài ngày. Do đó, các bề mặt bị ô nhiễm thường xuyên tiếp xúc trong môi trường chăm sóc sức khỏe là nguồn lây truyền coronavirus tiềm năng, các hạt mang virus, có khả năng làm lưu bám trên toàn bộ bề mặt phòng khám nha khoa. Ngoài ra, ở nhiệt độ phòng cho thấy HCoV vẫn sống sót từ 2 giờ đến 9 ngày và tốt hơn 50% so với độ ẩm tương đối 30%. Do đó, giữ một môi trường sạch sẽ và khô ráo trong phòng khám nha khoa sẽ giúp làm giảm sự tồn tại của 2019-nCoV.

Kiểm soát nhiễm khuẩn cho nha khoa

Các bác sĩ nha khoa nên nắm rõ cách lây lan 2019-nCoV, cách xác định bệnh nhân bị nhiễm 2019-nCoV và những biện pháp bảo vệ bổ sung nào nên được áp dụng trong quá trình thực hành, để ngăn chặn việc truyền 2019-nCoV. Ở đây, chúng tôi đề xuất các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng nên được các chuyên gia nha khoa tuân theo, đặc biệt là xem xét thực tế rằng giọt mang virus được coi là con đường lây lan chính của năm 2019-nCoV. Khuyến nghị của chúng tôi được dựa trên các Hướng dẫn cho chẩn đoán và điều trị của Novel Coronavirus Viêm phổi (phiên bản 5)(http://www.nhc.gov.cn/yzygj/s7653p/202002/3b09b894ac9b4204a79db5b8912d4440.shtml), các Hướng dẫn về Ngăn ngừa và Kiểm soát bệnh viêm phổi Novel coronavirus tại các viện y tế (phiên bản (http://www.nhc.gov.cn/yzygj/s7659/202001/b91fdab7c304431eb082d67847d27e14.shtml), và các Hướng dẫn cho việc sử dụng các thiết bị bảo vệ y tế trong phòng chống và kiểm soát của Novel Coronavirus Viêm phổi (http://www.nhc.gov.cn/yzygj/s7659/202001/e71c5de925a64eafbe1ce790debab5c6.shtml) được phát hành bởi Ủy ban Y tế Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và kinh nghiệm thực hành về sự bùng phát 2019-nCoV Trung tâm Răng Hàm Mặt Bệnh viện Hoa Tây – Đại học Tứ Xuyên.

Đánh giá bệnh nhân

Trước hết, các chuyên gia nha khoa sẽ có thể xác định một trường hợp nghi ngờ COVID-19 bằng cách đánh giá sơ bộ. Cho đến ngày bài viết này đã được soạn thảo, Ủy ban Y tế Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã phát hành phiên bản thứ 5 của Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh viêm phổi Novel coronavirus. Một bệnh nhân mắc COVID-19 đang trong giai đoạn sốt cao của bệnh khuyến cáo không được đến thăm phòng khám nha khoa. Chuyên gia nha khoa sau khi nghi ngờ bệnh nhân nhiễm khuẩn 2019-nCoV, thì không nên điều trị cho bệnh nhân tại phòng khám nha khoa, ngay lập tức cách ly bệnh nhân và báo cáo cho bộ phận kiểm soát nhiễm trùng càng sớm càng tốt, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh 2019-nCoV.

Nhiệt độ cơ thể của bệnh nhân nên được đo ngay từ đầu. Nhiệt kế đo trán – không tiếp xúc phải được chuẩn bị để sàng lọc bệnh nhân. Một bảng câu hỏi soạn sẵn để đánh giá bệnh nhân có nguy cơ nhiễm 2019-nCoV trong thời gian chờ đợi trước khi họ được đưa đến phòng điều trị. Những câu hỏi này nên bao gồm những điều sau đây:

  • Bạn có bị sốt hoặc bị sốt trong vòng 14 ngày qua không?
  • Gần đây bạn có gặp các vấn đề hô hấp, chẳng hạn như ho hoặc khó thở trong vòng 14 ngày qua?
  • Trong vòng 14 ngày qua, bạn có đi đến các điểm nóng về số lượng người nhiễm 2019-nCoV?
  • Bạn có tiếp xúc với một bệnh nhân bị nhiễm 2019-nCoV đã được xác nhận trong vòng 14 ngày qua không?
  • Bạn có tiếp xúc với những người đến từ các khu vực có người bị nhiễm, hoặc những người bị sốt hoặc các vấn đề về hô hấp được ghi nhận gần đây trong vòng 14 ngày qua?
  • Gần đây bạn có tham gia vào bất kỳ cuộc tụ họp, hội họp hoặc tiếp xúc gần gũi với nhiều người không quen biết không?

Nếu một bệnh nhân trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi sàng lọc nào dù nhiệt độ cơ thể của họ dưới 37,3 ° C, bác sĩ vẫn nên hoãn điều trị sau 14 ngày. Bệnh nhân cần được hướng dẫn tự cách ly tại nhà và báo cáo mọi dấu hiệu sốt hoặc hội chứng giống cúm cho sở y tế địa phương.
Nếu bệnh nhân trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi sàng lọc nào và nhiệt độ cơ thể của họ trên 37,3 ° C, bệnh nhân cần được cách ly ngay lập tức và các chuyên gia nha khoa nên báo cáo cho bộ phận kiểm soát dịch bệnh của bệnh viện hoặc sở y tế địa phương.
Nếu một bệnh nhân trả lời “không” cho tất cả các câu hỏi sàng lọc, và nhiệt độ cơ thể của họ dưới 37,3 ° C, nha sĩ có thể điều trị cho bệnh nhân bằng các biện pháp bảo vệ thêm, và hạn chế thấp nhât các quy trình tạo bọt khí hoặc khí dung.

Vệ sinh tay

Mặc dù vệ sinh tay đầy đủ là điều kiện tiên quyết thường xuyên đối với nha khoa lâm sàng, nhưng việc tuân thủ rửa tay trong thực tế tương đối thấp, điều này cần phải được chú ý đặc biệt trong tình dình dịch 2019-nCoV. Hướng dẫn vệ sinh tay hai trước và ba sau được đề xuất bởi bộ phận kiểm soát nhiễm trùng của Trung tâm Răng hàm mặt, Bệnh viện Hoa Tây, Đại học Tứ Xuyên, để củng cố việc tuân thủ rửa tay. Cụ thể, các bác sĩ và nhân viên nha khoa nên rửa tay trước khi khám cho bệnh nhân, trước khi làm thủ thuật nha khoa, sau khi chạm vào bệnh nhân, sau khi chạm vào môi trường xung quanh và thiết bị mà không được khử trùng, và sau khi chạm vào niêm mạc miệng, da hoặc vết thương bị tổn thương, máu, dịch cơ thể, và bài tiết, cần tránh chạm vào mắt, miệng và mũi của chính họ.

Các biện pháp bảo vệ cá nhân cho các bác sĩ nha khoa

Hiện tại, không có hướng dẫn cụ thể để bảo vệ các bác sĩ khỏi phơi nhiễm 2019-nCoV tại các phòng khám và bệnh viện nha khoa. Mặc dù không có bác sĩ hay nhân viên nha khoa nào được báo cáo mắc bệnh nhiễm khuẩn 2019-nCoV cho đến ngày bài báo được soạn thảo, nhưng kinh nghiệm với SARS coronavirus đã cho thấy số lượng lớn các bệnh nhân là nhân viên y tế mắc phải tại bệnh viện. Các thiết bị bảo vệ chặn vi khuẩn, bao gồm kính bảo hộ, khẩu trang, găng tay, mũ, tấm che mặt và quần áo bảo hộ, được yêu cầu trang bị cho mọi nhân viên trong phòng khám/bệnh viện ở giai đoạn dịch bệnh 2019-nCoV.

Dựa trên khả năng lây lan của nhiễm khuẩn 2019-nCoV, các biện pháp bảo vệ ba cấp độ cho nhân viên nha khoa được khuyến nghị cho các tình huống cụ thể.

  • Bảo vệ chính (bảo vệ tiêu chuẩn cho nhân viên trong môi trường lâm sàng). Đội mũ làm việc dùng một lần, mặt nạ phẫu thuật dùng một lần và quần áo làm việc (áo khoác trắng), sử dụng kính bảo hộ hoặc tấm chắn mặt, và găng tay cao su dùng một lần hoặc găng tay nitrile nếu cần thiết.
  • Bảo vệ thứ cấp (bảo vệ nâng cao cho các bác sĩ nha khoa). Đội mũ phẫu thuật dùng một lần, mặt nạ phẫu thuật dùng một lần, kính bảo hộ, tấm chắn mặt và quần áo làm việc (áo trắng) với quần áo cách ly dùng một lần hoặc quần áo phẫu thuật bên ngoài và găng tay cao su dùng một lần.
  • Bảo vệ cấp ba (tăng cường bảo vệ khi tiếp xúc với bệnh nhân bị nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm 2019-nCoV). Mặc dù một bệnh nhân bị nhiễm 2019-nCoV dự kiến sẽ không được điều trị tại phòng khám nha khoa, trong trường hợp bất khả kháng, và bác sĩ nha khoa không thể tránh tiếp xúc gần, cần có áo bảo vệ đặc biệt. Nếu quần áo bảo hộ không có sẵn, nên mặc quần áo bảo hộ lao động (áo khoác trắng) với quần áo bảo hộ dùng một lần bên ngoài. Ngoài ra, nên đeo mũ phẫu thuật dùng một lần, kính bảo hộ, tấm chắn mặt, mặt nạ phẫu thuật dùng một lần, găng tay cao su dùng một lần và bọc giày không thấm nước.

Súc miệng trước khi làm thủ thuật nha khoa

Thông thường, một loại thuốc kháng khuẩn trước phẫu thuật thường được cho là làm giảm số lượng vi khuẩn đường miệng. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh viêm phổi Novel coronavirus (phiên bản thứ 5) do Ủy ban Y tế Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc phát hành, chlorhexidine, thường được sử dụng làm thuốc súc miệng trong thực hành nha khoa, có thể không hiệu quả để giết 2019-nCoV. Loại 2019-nCoV dễ bị oxy hóa, nên dùng nước súc miệng tiền phẫu thuật có chứa các chất oxy hóa như 1% hydro peroxide hoặc 0,2% Povidone, với mục đích giảm tải vi khuẩn trong nước bọt. Sử dụng súc miệng trước điều trị rất hữu ích trong trường hợp không thể sử dụng đê cao su.

Cách ly đê cao su

Việc sử dụng đê cao su có thể giảm thiểu đáng kể việc hình thành khí dung và nước bọt bị lẫn máu, đặc biệt trong trường hợp sử dụng tay khoan tốc độ cao và thiết bị rung siêu âm nha khoa. Các báo cáo chỉ ra rằng việc sử dụng đê cao su có thể làm giảm đáng kể 70% các hạt trong không khí từ đường kính ~ 3 feet (gần 100cm). Ngoài ra, nên sử dụng máy hút với lực hút mạnh để không bỏ sót khí dung. Nếu không thể cách ly đê cao su trong một số trường hợp, các thiết bị thủ công, như Carisolv, bộ cạo vôi tay được khuyến nghị dùng điều trị sâu răng và cạo vôi, để giảm thiểu việc tạo ra khí dung càng nhiều càng tốt.

Tay khoan chống hút ngược

Tay khoan nha khoa tốc độ cao không có van hút ngược có thể hút và phân tán các mảnh vụn và chất lỏng trong quá trình điều trị. Quan trọng hơn, các vi khuẩn có thể làm ô nhiễm thêm các ống khí và nước trong bộ phận nha khoa, và do đó có khả năng gây nhiễm trùng chéo. Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng tay khoan nha khoa tốc độ cao chống hút ngược có thể làm giảm đáng kể dòng chảy của vi khuẩn miệng và HBV vào các ống của tay khoan và bộ phận nha khoa so với tay khoan không có chức năng chống hút ngược. Do đó, việc sử dụng các dụng cụ nha khoa không có chức năng chống hút ngược nên bị cấm trong thời kỳ dịch bệnh của COVID-19.

Khử trùng các thiết bị, vật dụng phòng khám

Các tổ chức y tế nên thực hiện các biện pháp khử trùng hiệu quả và nghiêm ngặt ở cả phòng khám và khu vực công cộng. Các thiết bị, vật dụng phòng khám nên được làm sạch và khử trùng theo Nghị định thư về Quản lý làm sạch bề mặt và khử trùng môi trường y tế (WS / T 512-2016) do Ủy ban Y tế Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ban hành. Các khu vực và thiết bị công cộng cũng cần thường xuyên được làm sạch và khử trùng, bao gồm tay nắm cửa, ghế và bàn. Thang máy nên được khử trùng thường xuyên. Những người dùng thang máy nên đeo khẩu trang đúng cách và tránh tiếp xúc trực tiếp với các nút và các vật thể khác.

Quản lý chất thải y tế

Chất thải y tế (bao gồm cả thiết bị bảo vệ dùng một lần sau khi sử dụng) nên được vận chuyển đến khu vực lưu trữ tạm của viện y tế kịp thời. Dụng cụ và vật dụng có thể tái sử dụng nên được xử lý, làm sạch, khử trùng và bảo quản đúng cách theo Nghị định thư Khử trùng và Khử trùng Dụng cụ Nha khoa (WS 506-2016) do Ủy ban Y tế Quốc gia Cộng hòa Trung Quốc phát hành. Chất thải y tế và sinh hoạt từ việc điều trị bệnh nhân nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm trùng 2019-nCoV được coi là chất thải y tế truyền nhiễm. Nên sử dụng túi đựng chất thải y tế hai lớp màu vàng và thắt chặt. Bề mặt của các túi bao bì phải được đánh dấu và xử lý theo yêu cầu quản lý chất thải y tế.

Tổng kết

Tháng 12 năm 2019, chủng Coronavirus mới được phát hiện (2019-nCoV) gây ra sự bùng phát bệnh viêm phổi ở Vũ Hán và toàn Trung Quốc. 2019-nCoV xâm nhập vào tế bào chủ thông qua thụ tể ACE2 của tế báo ở người, tương đồng với SARS- CoV, nhưng có ái lực gắn kết cao hơn. Số ca mắc và bằng chứng lây truyền từ người sang người ngày càng tăng nhanh cho thấy loại virus này dễ lây lan hơn SARS-CoV và MERS-CoV. Đến giữa tháng 2 năm 2020, số lượng các ca nhiễm bệnh của nhân viên y tế theo báo cáo tăng cao, những lý do cụ thể của việc không thể bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế cần được điều tra làm rõ. Chúng tôi đã tóm tắt các đường lây truyền có thể của 2019-nCov như lây do tiếp xúc, lây lan trong không khí, lây qua bề mặt có virus. Chúng tôi cũng đã trình bày một số biện pháp cụ thể để hạn chế lây lan 2019-nCoV trong nha khoa, như đánh giá bệnh nhân, vệ sinh tay, các biện pháp bảo vệ cá nhân cho các nhân viên nha khoa, súc miệng trước khi điều trị, cách ly bằng đê cao su, tay khoan chống hút ngược, khử trùng phòng khám và quản lý chất thải y tế.

Nguồn: Phòng thí nghiệm trọng điểm về bệnh răng miệng & Trung tâm nghiên cứu lâm sàng quốc gia về bệnh răng miệng & Khoa Nội soi và Nội nha, Trung tâm Răng hàm mặt Bệnh viện Hoa Tây, Đại học Tứ Xuyên, Thành Đô, Trung Quốc Xian Peng, Xin Xu, Yuqing Li, Lei Cheng, Xuedong Zhou & Biao Ren
https://www.nature.com/articles/s41368-020-0075-9?fbclid=IwAR04YpsnVgjfJdQ7YStr3Z57MxtCG-LBI9-6ltOtpXVyotGdsdlqg1Cq5Y

Tài liệu tham khảo

  1. https://depa.vn/thong-tin-nha-khoa/chitiet-1/phuong-thuc-lay-truyen-cua-2019-ncov-va-kiem-soat-trong-nha-khoa-lam-sang-14774?fbclid=IwAR0Dce0JUc8yaGzL7p7N5fh6C79gUGcNOjVVmi33iR1GNyHH0itzL_p0YDI
  2. Zhu, N. et al. A novel coronavirus from patients with pneumonia in China, 2019. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMoa2001017 (2020).
  3. Wang, C., Horby, P. W., Hayden, F. G. & Gao, G. F. A novel coronavirus outbreak of global health concern. Lancet 395, 470–473 (2020).
  4. Liu, T. et al. Transmission dynamics of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV). The Lancet. Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3526307 (2020).
  5. Huang, C. et al. Clinical features of patients infected with 2019 novel coronavirus in Wuhan, China. Lancet 395, 497–506 (2020).
  6. Guan, W.-j. et al. Clinical characteristics of 2019 novel coronavirus infection in China. Preprint at https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.02.06.20020974v1 (2020).
  7. Wang, D. et al. Clinical characteristics of 138 hospitalized patients with 2019 novel coronavirus-infected pneumonia in Wuhan, China. JAMA https://doi.org/10.1001/jama.2020.1585 (2020).
  8. Chen, N. et al. Epidemiological and clinical characteristics of 99 cases of 2019 novel coronavirus pneumonia in Wuhan, China: a descriptive study. Lancet 395, 507–513 (2020).
  9. Chan, J. F.-W. et al. A familial cluster of pneumonia associated with the 2019 novel coronavirus indicating person-to-person transmission: a study of a family cluster. Lancet 395, 514–523 (2020).
  10. Li, Q. et al. Early transmission dynamics in Wuhan, China, of novel coronavirus–infected pneumonia. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMoa2001316 (2020).
  11. 10.Wu, F. et al. A new coronavirus associated with human respiratory disease in China. Nature https://doi.org/10.1038/s41586-020-2008-3 (2020).
  12. Zhou, P. et al. A pneumonia outbreak associated with a new coronavirus of probable bat origin. Nature https://doi.org/10.1038/s41586-020-2012-7 (2020).
  13. Gorbalenya, A. E. et al. Severe acute respiratory syndrome-related coronavirus: The species and its viruses—a statement of the Coronavirus Study Group. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.07.937862v1 (2020).
  14. Fehr, A. R. & Perlman, S. Coronaviruses: an overview of their replication and pathogenesis. Methods Mol. Biol. 1282, 1–23 (2015).
  15. Gorbalenya, A., Enjuanes, L., Ziebuhr, J. & Snijder, E. Nidovirales: evolving the largest RNA virus genome. Virus Res. 117, 17–37 (2006).
  16. Nakagawa, K., Lokugamage, K. G. & Makino, S. in Advances in Virus Research (ed John Ziebuhr) vol. 96, 165–192 (Academic Press, 2016).
  17. Fan, Y., Zhao, K., Shi, Z.-L. & Zhou, P. Bat coronaviruses in China. Viruses 11, 210 (2019).
  18. Perlman, S. & Netland, J. Coronaviruses post-SARS: update on replication and pathogenesis. Nat. Rev. Microbiol. 7, 439–450 (2009).
  19. Weiss, S. & Leibowitz, J. Coronavirus pathogenesis. Adv. Virus Res. 81, 85–164 (2011).
  20. Yin, Y. & Wunderink, R. G. MERS, SARS and other coronaviruses as causes of pneumonia. Respirology 23, 130–137 (2018).
  21. Holmes, K. V. SARS-associated coronavirus. N. Engl. J. Med. 348, 1948–1951 (2003).
  22. Falsey, A. R. & Walsh, E. E. Novel coronavirus and severe acute respiratory syndrome. Lancet 361, 1312–1313 (2003).
  23. The Lancet. MERS CoV: a global challenge. Lancet 381, 1960 (2013).
  24. l-Tawq, J. A., Zumla, A. & Memish, Z. A. Coronaviruses: severe acute respiratory syndrome coronavirus and Middle East respiratory syndrome coronavirus in travelers. Curr. Opin. Infect. Dis. 27, 411–417 (2014).
  25. Song, Z. et al. From SARS to MERS, thrusting coronaviruses into the spotlight. Viruses https://doi.org/10.3390/v11010059 (2019).
  26. de Wit, E., van Doremalen, N., Falzarano, D. & Munster, V. J. SARS and MERS: recent insights into emerging coronaviruses. Nat. Rev. Microbiol. 14, 523–534 (2016).
  27. Al-Tawq, J. A., Zumla, A. & Memish, Z. A. Coronaviruses: severe acute respiratory syndrome coronavirus and Middle East respiratory syndrome coronavirus in travelers. Curr. Opin. Infect. Dis. 27, 411–417 (2014).
  28. Bai, Y., Nie, X. & Wen, C. Epidemic prediction of 2019-nCoV in Hubei province and comparison with SARS in Guangdong province. The lancet. Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3531427 (2020).
  29. Liu, P., Chen, W. & Chen, J.-P. Viral metagenomics revealed sendai virus and coronavirus infection of malayan pangolins (Manis javanica). Viruses 11, 979 (2019).
  30. Wahba, L. et al. Identication of a pangolin niche for a 2019-nCoV-like coronavirus through an extensive meta-metagenomic search. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.08.939660v2 (2020).
  31. Li, F. Structure, function, and evolution of coronavirus spike proteins. Annu. Rev. Virol. 3, 237–261 (2016).
  32. Hantak, M. P., Qing, E., Earnest, J. T. & Gallagher, T. Tetraspanins: architects of viral entry and exit platforms. J. Virol. 93, e01429–e01417 (2019).
  33. Belouzard, S., Millet, J. K., Licitra, B. N. & Whittaker, G. R. Mechanisms of coronavirus cell entry mediated by the viral spike protein. Viruses 4, 1011–1033 (2012).
  34. Wan, Y., Shang, J., Graham, R., Baric, R. S. & Li, F. Receptor recognition by novel coronavirus from Wuhan: an analysis based on decade-long structural studies of SARS. J. Virol. https://doi.org/10.1128/jvi.00127-20 (2020).
  35. Chai, X. et al. Specic ACE2 expression in cholangiocytes may cause liver damage after 2019-nCoV infection. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.03.931766v1 (2020).
  36. Fan, C., Li, K., Ding, Y., Lu, W. L. & Wang, J. ACE2 expression in kidney and testis may cause kidney and testis damage after 2019-nCoV infection. Preprint at https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.02.12.20022418v1 (2020).
  37. .Hoffmann, M. et al. The novel coronavirus 2019 (2019-nCoV) uses the SARS-coronavirus receptor ACE2 and the cellular protease TMPRSS2 for entry into target cells. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.01.31.929042v1.full (2020).
  38. Huang, Q. & Herrmann, A. Fast assessment of human receptor-binding capability of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV). Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.01.930537v1 (2020).
  39. Lei, C. et al. Potent neutralization of 2019 novel coronavirus by recombinant ACE2-Ig. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.01.929976v2 (2020).
  40. Tian, X. et al. Potent binding of 2019 novel coronavirus spike protein by a SARS coronavirus-specic human monoclonal antibody. Emerg. Microbes. Infect. 9, 382–385. https://doi.org/10.1080/22221751.2020.1729069 (2020).
  41. Zhao, Y. et al. Single-cell RNA expression proling of ACE2, the putative receptor of Wuhan 2019-nCov. Preprint at https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.01.26.919985v1 (2020).
  42. .Guy, J. L., Lambert, D. W., Warner, F. J., Hooper, N. M. & Turner, A. J. Membrane-associated zinc peptidase families: comparing ACE and ACE2. Biochim. Biophysi. Acta 1751, 2–8 (2005).
  43. Lu, C.-W., Liu, X.-F. & Jia, Z.-F. 2019-nCoV transmission through the ocular surface must not be ignored. The
    Lancet https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30313-5 (2020).
  44. To, K. K.-W. et al. Consistent detection of 2019 novel coronavirus in saliva. Clin. Infect. Diseases https://doi.org/10.1093/cid/ciaa149 (2020).
  45. Belser, J. A., Rota, P. A. & Tumpey, T. M. Ocular tropism of respiratory viruses. Microbiol. Mol. Biol. Rev. 77, 144–156 (2013).
  46. Rothe, C. et al. Transmission of 2019-nCoV infection from an asymptomatic contact in germany. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMc2001468 (2020).
  47. Wax, R. S. & Christian, M. D. Practical recommendations for critical care and anesthesiology teams caring for novel coronavirus (2019-nCoV) patients. Canadian Journal of Anesthesia/Journal canadien d’anesthésie https://doi.org/10.1007/s12630-020-01591– x (2020).
  48. Holshue, M. L. et al. First Case of 2019 Novel coronavirus in the United States. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMoa2001191 (2020).
  49. Rodriguez-Morales, A. J., MacGregor, K., Kanagarajah, S., Patel, D. & Schlagenhauf, P. Going global – Travel and the 2019 novel coronavirus. Travel. Med. Infect. Dis. 101578, https://doi.org/10.1016/j.tmaid.2020.101578 (2020).
  50. Backer, J. A., Klinkenberg, D. & Wallinga, J. Incubation period of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) infections among travellers from Wuhan, China, 20–28 January 2020. Euro. Surveill. https://doi.org/10.2807/1560-7917.Es.2020.25.5.2000062 (2020).
  51. .Liu, L. et al. Epithelial cells lining salivary gland ducts are early target cells of severe acute respiratory syndrome coronavirus infection in the upper respiratory tracts of rhesus macaques. J. Virol. 85, 4025–4030 (2011).
  52. Kampf, G., Todt, D., Pfaender, S. & Steinmann, E. Persistence of coronaviruses on inanimate surfaces and its inactivation with biocidal agents. J. Hosp. Infect. https://doi.org/10.1016/j.jhin.2020.01.022 (2020).
  53. Chen, J. Pathogenicity and transmissibility of 2019-nCoV—a quick overview and comparison with other emerging
    viruses. Microb. Infect. https://doi.org/10.1016/j.micinf.2020.01.004 (2020).
  54. Cleveland, J. L. et al. Transmission of blood-borne pathogens in US dental health care settings: 2016 update. J. Am. Dent. Assoc. (1939) 147, 729–738 (2016).
  55. Harrel, S. K. & Molinari, J. Aerosols and splatter in dentistry: a brief review of the literature and infection control implications. J. Am. Dent. Assoc. (1939) 135, 429–437 (2004).
  56. Wei, J. & Li, Y. Airborne spread of infectious agents in the indoor environment. Am. J. Infect. Control 44, S102–S108 (2016).
  57. Otter, J. A. et al. Transmission of SARS and MERS coronaviruses and inuenza virus in healthcare settings: the possible role of dry surface contamination. J. Hosp. Infect. 92, 235–250 (2016).
  58. Seto, W. H. et al. Effectiveness of precautions against droplets and contact in prevention of nosocomial transmission of severe acute respiratory syndrome (SARS). Lancet 361, 1519–1520 (2003).
  59. Samaranayake, L. P., Reid, J. & Evans, D. The efcacy of rubber dam isolation in reducing atmospheric bacterial contamination. ASDC J. Dent. Child 56, 442–444 (1989).
  60. Samaranayake, L. P. & Peiris, M. Severe acute respiratory syndrome and dentistry: a retrospective view. J. Am. Dent. Assoc. (1939) 135, 1292–1302 (2004).
  61. Hu, T., Li, G., Zuo, Y. & Zhou, X. Risk of hepatitis B virus transmission via dental handpieces and evaluation of an anti-suction device for prevention of transmission. Infect. Control Hosp. Epidemiol. 28, 80–82 (2007).
  62. Wrapp, D. et al. Cryo-EM structure of the 2019-nCoV spike in the prefusion conformation. Science eabb2507, https://doi.org/10.1126/science.abb2507 (2020).
  63. The Novel Coronavirus Pneumonia Emergency Response Epidemiology Team. The epidemiological characteristics of an outbreak of 2019 novel coronavirus diseases (COVID-19) in China. Chinese Journal of Epidemiology 41, 145–151 (2020).
Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.