Thứ Tư , 13 Tháng Mười Hai 2017
Trang chủ Tài liệu y học Tài liệu sưu tầm Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Quyển 2: Hợp phần Y tế – Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [eBook]

Quyển 2: Hợp phần Y tế – Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [eBook]

Bài viết thứ 2 trong 7 bài thuộc chủ đề Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
 

Nâng cao sức khỏe

Dự phòng

Chăm sóc y tế

Phục hồi chức năng

Dụng cụ trợ giúp

Download tài liệu

https://www.slideshare.net/login?from_source=%2Fyhoccongdong%2Fquyen-2-hop-phan-y-te-50177003%3Ffrom_action%3Dsave&from=download&layout=foundation

Bản tóm tắt

1. Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng HỢP PHẦN Y TẾ
2. Thư viện dữ liệu của tổ chức WHO Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Cẩm nang hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 1. Phục hồi chức năng. 2. Người khuyết tật. 3. Các dịch vụ sức khỏe cộng đồng. 4. Chính sách y tế. 5. Quyền con người. 6. Công bằng xã hội. 7. Sự tham gia của khách hàng. 8. Hướng dẫn. I. Tổ chức Y tế thế giới. II. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc. III. Tổ chức Lao động Quốc tế. IV. Tổ chức vì sự phát triển người khuyết tật Quốc tế. ISBN 978 92 4 354805 0 (THƯ VIỆN Y KHOA QUỐC GIA HOA KỲ / MÃ TRA CỨU:WB 320) Xuất bản bởi Tổ chức Y tế Thế giới vào năm 2010 với tựa đề: “Community-based rehabilitation: CBR guidelines” Bản quyền © Tổ chức Y tế Thế giới 2010 WHO bảo lưu mọi quyền. Các ấn phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới có thể được mua tại cơ quan báo chí WHO, Tổ chức Y tế Thế giới, số 20 Đại lộ Appia, 1211 Giơ-ne-vơ 27, Thụy Sỹ (điện thoại: +41 22 791 3264; fax: +41 22 791 4857; e-mail: bookorders@who.int). Các yêu cầu về xin phép tái bản hoặc dịch thuật các ấn phẩm của WHO – bất kể với mục đích kinh doanh hay phân phối phi thương mại – phải được phép của cơ quan báo chí WHO , tại địa chỉ nêu trên (fax: +41 22 791 4806; e-mail: permissions@who.int). Các chức danh được sử dụng và việc trình bày các tư liệu trong ấn phẩm này không ám chỉ bất kỳ quan điểm nào của Tổ chức Y tế Thế giới liên quan tới tình trạng pháp lý của bất kỳ quốc gia, lãnh thổ, thành phố hay khu vực hoặc các nhà chức trách ở đó, hay liên quan tới giới hạn về ranh giới hay biên giới. Các đường chấm trên các bản đồ đại diện cho các đường biên giới tương đối mà có thể chưa có sự nhất trí hoàn toàn. Việc đề cập các công ty cụ thể hoặc các sản phẩm của các nhà sản xuất cụ thể không ám chỉ rằng họ được khuyến khích hay khuyến nghị bởiTổ chứcY tếThế giới hơn là các công ty hay sản phẩm khác cùng loại không được nhắc tới. Ngoại trừ do sai sót và thiếu sót, tên của các sản phẩm đã có quyền sở hữu được phân biệt bằng các chữ cái đầu viết hoa. Tổ chức Y tế Thế giới đã rất thận trọng trong việc xác minh các thông tin có trong ấn phẩm này. Tuy nhiên, tài liệu xuất bản này không được đảm bảo dưới bất kỳ hình thức nào kể cả khi được thể hiện rõ hay ngụ ý. Độc giả chịu trách nhiệm về việc diễn giải và sử dụng tài liệu này. Tổ chức Y tế Thế giới sẽ không chịu trách nhiệm về các thiệt hại do sử dụng tài liệu này. Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội,Việt Nam đã được Giám đốc củaTổ chức Y tế Thế giới trao quyền dịch thuật và xuất bản một ấn phẩm tiếng Việt và sẽ chịu trách nhiệm chính đối với bản Tiếng Việt này. Thiết kế và trình bày bởi Inís Communication – www.iniscommunication.com In tại Việt Nam
3. Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Hợp phần Y tế Mục lục Giới thiệu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1 Nâng cao sức khỏe . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11 Dự phòng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21 Chăm sóc y tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33 Phục hồi chức năng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45 Dụng cụ trợ giúp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 57
4. Lời nói đầu 1 Lời nói đầu Quyền có sức khỏe và không có sự phân biệt đối xử được đề cập trong nhiều các tài liệu quốc tế. Hiến chương của tổ chức y tế thế giới cũng đã chỉ rõ“ Sự thoải mái về điều kiện sức khỏe tốt nhất là một trong các quyền cơ bản của con người trong đó không có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, niềm tin chính trị, các điều kiện kinh tế và xã hội“ (1). Công ước Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật (CRPD) đề cập tới quyền của NKT. Điều 25 của Công ước yêu cầu các Quốc gia “nhận thức rằng NKT có quyền được có sức khỏe ở điều kiện tốt nhất trong đó không có sự phân biệt về khuyết tật“, cùng với điều này thì điều 20 (về tiếp cận) và điều 26 (chức năng và phục hồi chức năng) đã nhấn mạnh các quốc gia cần đảm bảo NKT được tiếp cận một cách bình đẳng các dịch vụ y tế bao gồm cả phục hồi chức năng liên quan đến y tế. (2). Song, đã có nhiều bằng chứng cho thấy NKT thường có tình trạng sức khỏe yếu hơn so với phần đa dân số (3) và phải đối mặt với nhiều thách thức để có thể đạt được quyền có sức khỏe của mình (4). Quyền có sức khỏe không chỉ là việc được tiếp cận dịch vụ y tế mà còn là việc được tiếp cận đến các yếu tố xã hội liên quan đến sức khỏe như nước uống, điều kiện nước sạch sinh hoạt và nhà ở. Quyền sức khỏe nội hàm cả tự do lựa chọn và được phép làm điều cần thiết để có sức khỏe. Sự tự do ở đây được hiểu theo nghĩa không bị ràng buộc bởi các phương pháp điều trị y học mà mình không muốn, chẳng hạn như các thử nghiệm, nghiên cứu, và quyền không phải chịu đựng những biện pháp điều trị đê hèn, vô nhân tính, gây đau đớn. Sự “được phép làm” ở đây được hiểu theo nghĩa, đó là quyền được tham gia vào hệ thống chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, quyền được dự phòng, điều trị và kiểm soát bệnh tật, tiếp cận các thuốc thiết yếu và tham gia vào việc ra quyết định liên quan đến vấn đề sức khỏe (4). Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) hỗ trợ NKT đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể thông qua 5 lĩnh vực của trợ giúp gồm: nâng cao sức khỏe, dự phòng, chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, và cung cấp dụng cụ trợ giúp. PHCNDVCĐ góp phần thúc đẩy hòa nhập về sức khỏe bằng cách dựa vào hệ thống y tế hiện có để đảm bảo việc tiếp cận y tế cho tất cả mọi người, vận động chính sách nhằm đảm bảo các dịch vụ y tế cũng được cung cấp cho NKT (5) và đáp ứng được nhu cầu cũng như có sự tham gia của cộng đồng (6). Mặc dù trong quá trình phát triển, PHCNDVCĐ đã có lúc chỉ đặt trọng tâm vào khía cạnh y tế, nhưng vì sức khỏe bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cho nên PHCNDVCĐ cần có sự phối hợp liên ngành, chương trình PHCNDVCĐ cần phải được triển khai thông qua sự hợp tác của nhiều thành phần khác nhau như giáo dục và việc làm.Trong khuôn khổ về chủ đề y tế, hợp phần này tập trung hướng dẫn chủ yếu về các hoạt động PHCNDVCĐ được thực hiện bởi ngành y tế.
5. 2 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ HỘP 1 Thái Lan đã thành công trong chăm sóc sức khỏe ban đầu với nhiều sang kiến và các chiến lược và hành động. Ở nhiều tỉnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu được xây dựng dựa trên mạng lưới các vệ tinh, được gọi là trạm chăm sóc ban đầu kết nối với các bệnh viện lớn hơn tại trung tâm. Năm 2006, một trong số các bệnh viên này Bệnh viện Sichon đã đưa PHCNDVCĐ vào trong mạng lưới các trạm chăm sóc ban đầu. Trạm Tha-Hin là một phần của mạng lưới. Trạm nằm ở một vùng nông thôn, xa cách Bv Sichon khoảng 200 Km và có một nhóm nhân viên y tế bao gồm một bác sĩ gia đình, một dược sĩ, một y tá và một nhân viên y tế. Trước khi PHCNDVCĐ được đề xướng, nhóm này chủ yếu là thực hiện các hoạt động dự phòng và tư vấn sức khỏe chung. Tuy nhiên, với việc thực hiện thêm nhiệm vụ PHCNDVCĐ, nhóm cũng đã đảm nhiệm thêm trach nhiệm phát hiện người khuyết tật, và cung cấp các nhu cầu chăm sóc sức khỏe chung và đặc thù. Trọng tâm chính của PHCNDVCĐ là cung cấp các dịch vụ y tế cho NKT tại nhà. Một chương trình chăm sóc gia đình đã được thiết lập (cũng áp dụng cho người cao tuổi, người mắc các bệnh mãn tĩnh), với mối liên hệ mật thiết với Bv Sichon. Nhóm cùng với một dược sỹ từ Bv Sichon thường xuyên thực hiện các chuyến thăm gia đình NKT, giúp họ không phải đi lại nhiều và đỡ tốn kém trong việc đến Bv. Phục hồi chức năng tại nhà cũng được thực hiện theo một quy trình được xây dựng. Các tình nguyện viên và thành viên gia đình của NKT được tập huấn để cung cấp các bài tập PHCN cơ bản (ví dụ như huấn luyện các chức năng sinh hoạt hang ngày) cho NKT cũng như vận động gia đình trẻ khuyết tật đưa trẻ đi học hòa nhập. Phương pháp tiếp cận đa ngành đã giúp đảm bảo tất cả NKT đều có thể tiếp cận được dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng tại cộng đồng cũng như tại Bv Sichon thông qua hệ thống chuyển tuyến khi cần thiết. Một nghiên cứu được thực hiện năm 2008 đã đánh giá hiệu quả của mô hình này và đưa ra kết luận rằng chương trình PHCNDVCĐ ở Sichon đã rất hiệu quả trong việc cung cấp một gói các dịch vụ cho NKT và gia đình, bao gồm cả việc xác định sớm và can thiệp sớm NKT, nâng cao sức khỏe, phòng ngừa khuyết tật và phục hồi chức năng, huấn luyện chức năng, cung cấp duchj cụ trợ giúp. Nhìn chung, chất lượng cuộc sống của NKT đã được cải thiện đánh kể cùng với sự độc lập, khả năng vận động và giao tiếp. Cha mẹ của TKT cũng đã được cung cấp các hỗ trợ tốt hơn nên đã có các kỹ năng xử trí tốt hơn. Mối quan hệ hợp tác đã được thiết lập giữa các bên liên quan (Bv Sichon, các trạm chăm sóc ban đầu và các cộng đồng) và sự hòa nhập của tình nguyện viên địa phương, và việc huy động nguồn lực từ nhiều nguồn khác nhau đã tạo ra sự trao quyền và làm chủ của cộng đồng. Đưa dịch vụ sức khỏe tới cộng đồng Thái Lan
6. Lời nói đầu 3 Mục tiêu NKT đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể. Vai trò của PHCNDVCĐ Vai trò của PHCNDVCĐ là hợp tác chặt chẽ với ngành y tế để đảm bảo nhu cầu của NKT và các thành viên trong gia đình họ được đáp ứng một cách toàn diện với các can thiệp trong nâng cao sức khỏe, dự phòng, chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và dụng cụ trợ giúp. PHCNDVCĐ cũng cần làm việc trực tiếp với cá nhân NKT và gia đình để hỗ trợ họ tiếp cận đầy đủ các dich vụ y tế. Kết quả mong đợi • NKT và gia đình nhận thức đầy đủ về sức khỏe của mình và chủ động tham gia vào việc nâng cao sức khỏe cho bản thân. • Cán bộ y tế nhận thức rõ rằng NKT hoàn toàn có thể có được sức khỏe tốt, không phân biệt đối xử về khuyết tật cũng như các yếu tố khác, chẳng hạn như vấn đề giới. • NKT và gia đình tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng, chú trọng các dịch vụ ở ngay tại hoặc gần cộng đồng và với mức chi phí có thể chi trả được. • Sức khỏe và can thiệp PHCN giúp cho NKT tham gia một cách chủ động vào các hoạt động trong gia đình và trong đời sống cộng đồng. • Có sự cải thiện trong hợp tác giữa các ban ngành và các bên liên quan bao gồm giáo dục, việc làm – sinh kế, trợ giúp xã hội nhằm giúp NKT đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất. Những khái niệm chính Sức khỏe Sức khỏe là gì? Sức khỏe, lâu nay vẫn được xem như là trình trạng không có bệnh tật, đau yếu.Tuy nhiên, theo định nghĩa của tổ chức YTTG, khái niệm về sức khỏe bao hàm ý nghĩa rộng hơn – đó là “một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật” (1). Sức khỏe là nguồn lực giá trị giúp cho con người làm chủ bản thân mình, xã hội và đời sống kinh tế, cho họ sự tự do làm việc, học tâp và tham gia tích cực vào hoạt động gia đình, đời sống cộng đồng.
7. 4 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ HỘP 2 Khurshida bị mù từ nhỏ, sinh ra trong một ngôi làng nhỏ ở quận Barabank, tỉnh Uttar Pradesh, Ấn Độ. Khi gặp Satyabhama, một nhân viên PHCNDVCĐ được Sense International India tập huấn, lúc đó Khurshida đã 10 tuổi và sống trọn cuộc đời của mình trong một góc tối tăm của nhà mình và muốn cách biệt hoàn toàn với cộng đồng. Cô bé hoàn toàn phụ thuộc vào cha mẹ để thực hiện mọi nhu cầu sinh hoạt và hoàn toàn không thể giao tiếp được. Satyabhama đã làm việc rất vất vả với Khurshida để huấn luyện các kỹ năng sinh hoạt hàng ngày cho cô bé. Nhờ đó Khurshida đã bắt đầu có tiến bộ tích cực, có thể tự ngồi dậy, ăn cùng gia đình và chơi đồ chơi. Cô bé bắt đầu học ngôn ngữ thông qua cử chỉ, chẳng hạn như kéo áo của mẹ nghĩa là muốn mẹ ngồi lại với cô bé lâu hơn một chút. Cùng với thời gian, Satyabhama đã có thể bắt tay Khurshida và khích lệ cô bé bước những bước đi đầu tiên ra khỏi nhà. Cô bé không nhìn thấy mặt trời, không thể nghe tiếng chim hót nhưng cảm xúc của cô bé hiện rõ trên khuôn mặt. Chương trình PHCNDVCĐ đã giúp gia đình Khurshida có được một giấy chứng nhận khuyết tật cho cô bé, nhờ đó họ đã nhận được nhiều dịch vụ trợ giúp khác. Chương trình cũng giúp đỡ mẹ của Khurshida điều trị bệnh lao. Satyabhama sau đó tiếp tục làm việc với Khurshida và bây giờ đã trở thành giáo viên ngôn ngữ ký hiệu cho cô bé. Với Khurshida và gia đình cô, đó là một hành trình dài nhưng với sự hỗ trợ của chương trình PHCNDVCĐ họ đang nỗ lực hướng tới sự hòa nhập đầy đủ của Khurshida vào cuộc sống cộng đồng. Khurshida Ấn Độ Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe Tình trạng sức khỏe của một người bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố cá nhân người đó, các yếu tố môi trường và xã hội. Các yếu tố này được xem như là các yếu tố sức khỏe và được phân loại khái quát như sau (8). • Các yếu tố di truyền: Đóng vai trò ít nhiều ảnh hưởng đến tuổi thọ, thể trạng, cũng như việc hình thành một số bệnh tật. • Yếu tố hành vi cá nhân và phong cách sống như chế độ ăn kiêng, hoạt động thể lực, hút thuốc, uống rượu, cách đối phó với các căng thẳng, tất cả các yếu tố này cũng ảnh hưởng tới sức khỏe. • Thu nhập và tình trạng xã hội – khoảng cách giàu nghèo càng lớn thì sự khác biệt về sức khỏe càng lớn. • Việc làm và điều kiện làm việc– những người có việc làm việc thường có sức khỏe tốt hơn, đặc biệt là những người kiểm soát tốt được môi trường làm việc. • Giáo dục – trình độ học vấn thấp có mối liên quan với sức khỏe yếu kém, căng thẳng hơn trong cuộc sống và kém tự tin. • Hê thống hỗ trợ xã hội – Khi càng có nhiều hơn sự giúp đỡ từ gia đình, bạn bè và cộng đồng thì chúng ta có sức khỏe tốt hơn. • Văn hóa – tập quán và truyền thống, niềm tin của gia đình và cộng đồng • Giới – đàn ông và phụ nữ cũng có những dạng bệnh tật khác nhau và theo các độ tuổi khác nhau. • Môi trường vật lý, cơ học như nước sạch, không khí trong lành, nơi làm việc an toàn, nhà ở vững chắc, đường sá đi lại trong cộng đồng v.v.v. tất cả đều ảnh hưởng đến sức khỏe.
8. Lời nói đầu 5 • Dịch vụ y tế: việc tiếp cận và sử dụng các dich vụ chăm sóc sức khỏe góp phần tạo nên sức khỏe. Trong số các yếu tố kể trên, một vài yếu tố có thể kiểm soát được vì dụ như mỗi người có thể chọn cho mình một lối sống lành mạnh. Tuy nhiên có những yếu tố, chẳng hạn như yếu tố di truyền thì không thể kiểm soát được,. Khuyết tật và sức khỏe Sức khỏe cho mọi người là mục tiêu toàn cầu đã đượcTổ chứcYTTG đề ra vào năm 1978 tại Hội nghị về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alma-Ata. Sau 30 năm, cộng đồng quốc tế vẫn chưa đạt được mục tiêu này và có rất nhiều nhóm dân cư, bao gồm cả NKT vẫn đang chịu đựng tình trạng sức khỏe tồi tệ hơn sơ với các nhóm dân cư khác. Nhằm đảm bảo NKT có thể đạt được tình trạng sức khỏe tốt, có những điểm quan trọng sau đây cần được ghi nhớ và xem xét: • NKT cũng cần các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe trong các giai đoạn khác nhau của vòng đời như bao nhiêu người không khuyết tật khác. • Trong khi, không phải là tất cả NKT đều có những vấn đề sức khỏe có liên quan đến khiếm khuyết thì vẫn có nhiều người cần các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cụ thể bao gồm phục hồi chức năng định kỳ hay thỉnh thoảng, trong một hoảng thời gian hay là trong một thời gian dài. Chăm sóc sức khỏe Cung cấp dịch vụ CSSK Chăm sóc sức khỏe ở mỗi quốc gia được thực hiện bởi hệ thống y tế với sự tham gia của nhiều tổ chức, viện, các nguồn lực và người dân nhằm tăng cường và duy trì sức khỏe. Trong khi trách nhiệm chính về hệ thống y tế thuộc về chính phủ thì hầu hết dịch vụ chăm sóc sức khỏe được đáp ứng bởi sự kết hợp giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế công, tư nhân, dịch vụ chính thức và không chính thức(9). Báo cáo cùa tổ chứcYTTG năm 2008 đã nhấn mạnh về vai trò quan trọng của chăm sóc sức khỏe ban đầu trong việc đạt được mục tiêu sức khỏe cho mỗi người (10). Chăm sóc sức khỏe ban đầu là hình thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu cần thiết, được thiết kế nhằm đảm bảo tiếp cận cho đại đa số dân chúng với mức chi phí vừa phải. Đây là cấp độ đầu tiên của hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia cho mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng, đem dịch vụ sức khỏe tới gần với người dân nhất, ở ngay tại cộng đồng nơi họ sinh sống và làm việc (11). Rào cản đối với NKT trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe Tình trạng sức khỏe kém của NKT không phải khi nào cũng là kết quả trực tiếp từ thực trạng khuyết tật của họ mà có liên quan nhiều đến những khó khăn của NKT trong việc tiếp cận dịch vụ và các chương trình y tế. Theo ước tính chỉ có tỷ lệ phần trăm rất nhỏ NKT ở các nước có thu nhập thấp được tiếp cận phục hồi chức năng và các dịch vụ cơ bản phù hợp. (5). Các rào cản mà NKT và gia đình họ phải đối mặt trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể là:
9. 6 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ • Rào cản về chính sách: Thiếu các chính sách hoặc các chính sách không phù hợp – ngay cả ở nơi chính sách được ban hành thì các chính sách cũng có thể không được triển khai thực hiện đúng, không có chế tài và vẫn có thể tồn tại sự phân biệt đối xử với NKT trong quá trình cung cấp dịch vụ y tế; • Rào cản kinh tế: Các can thiệp y tế như việc đánh giá, điều trị và sử dụng thuốc thường đòi hỏi NKT phải tự trả thêm các khoản chi phí, gây khó khăn cho họ và gia đình, những người vốn thu nhập đã bị hạn chế (Xem thêm chương 1: Đói nghèo và khuyết tật); • Rào cản về địa lý và môi trường vật lý: thiếu các phương tiện vận chuyển và các công trình xây dựng công cộng có điều kiện tiếp cận cho NKT là những ví dụ về các rào cản thường thấy, hay điều kiện hạn hẹp về nguồn lực y tế tại vùng nông thôn (nơi phần đa số NKT sống) và khoảng cách quá xa từ khu dân cư đến nơi cung cấp dịch vụ tại các thành phố lớn cũng là các rào cản quan trọng; • Rào cản về thông tin và truyền thông: việc liên hê và giao tiếp giữa NKT với nhân viên y tế có thể khó khăn, chẳng hạn, một người bị khiếm thính có thể gặp khó khăn khi tiếp xúc và làm cho nhân viên y tế hiểu được cách ra dấu của mình, hay việc không có các bức tranh minh họa để giúp cho người có khuyết tật về trí tuệ có thể giao tiếp với cán bộ y tế; • Thái độ không đúng và kiến thức hạn chế của cán bộ y tế về NKT: Nhân viên y tế có thể có những quan điểm, thái độ không đúng đắn, định kiến hoặc không nhạy cảm và thiếu nhận thức, kiến thức, hiểu biết và kỹ năng xử lý các vấn đề sức khỏe liên quan đến khuyết tật; • Sự hạn chế về kiến thức và thái độ của chính NKT cùng gia đình về các vấn đề sức khỏe chung cũng như các dịch vụ: NKT có thể không biết các nơi cung cấp dịch vụ, rất nhiều NKT không có kiến thức về quyền lợi, các vấn đề sức khỏe cũng như dịch vụ nào có sẵn. Một số NKT có thể dễ bị tổn thương hơn khi bị phân biệt đối xử và dễ bị cô lập hơn so với người khác. Họ có thể bị yếm thế gấp đôi hay nhiều lần bởi các nguyên nhân như dạng tật mắc phải, tuổi, giới hay các tình trạng xã hội (11) vì vậy sẽ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Chương trình PHCNDVCĐ nên có sự tham gia đầy đủ của các nhóm sau: phụ nữ, trẻ em và người lớn khuyết tật; người có đa khuyết tật ví dụ, vừa bị khiếm thính và khiếm thị hay người vừa có khuyết tật trí tuệ và HIV/AIDS, vấn đề sức khỏe tâm thần, phong hay bạch tạng (xem thêm chương 7 của tài liệu hướng dẫn). Sức khỏe hòa nhập “Giáo dục hòa nhập”đã trở thành một quan điểm được chấp nhận rộng rãi và đang ngày càng được tăng cường thực hiện một cách có hệ thống trên thế giới. Thuật ngữ này đề cập tới việc giáo dục cho tất cả mọi người gồm cả NKT và tham gia đầy đủ vào trường học chính quy tại cộng đồng hay các trung tâm học tập.Tương tự như vậy, khái niệm về sứckhỏehòanhậpcũngđãđượcthúcđẩytừchươngtrìnhPHCNDVCĐnhằmlàmchohệ thống y tế có thể nhận ra và có kế hoạch đáp ứng các nhu cầu của NKT trong các chính sách, kế hoạch và cung cấp dịch vụ. Khái niệm sức khỏe hòa nhập được xây dựng trên cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và quan điểm Sức khỏe cho mọi người, theo đó chăm sóc sức khỏe nên “cókhảnăngtiếpcậnvớimọicánhânvàgiađìnhtrongcộngđồngthông quaviệcthamgiađầyđủvàvớimứcchiphímàcộngđồngvàquốcgiacóthểchitrả.…”(11).
10. Lời nói đầu 7 Sức khỏe hòa nhập có nghĩa là tất cả mọi công dân đều có thể tiếp cận chăm sóc sức khỏe mà không phân biệt về tình trạng khiếm khuyết, giới, tuổi, màu da,chủng tộc, tôn giáo và tình trạng kinh tế xã hội. Để đạt được điều này, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần có thái độ tích cực đối với khuyết tật và người khuyết tật cũng như có các kỹ năng phù hợp, ví dụ như kỹ năng giao tiếp để khai thác được nhu cầu của NKT với các dạng khiếm khuyết khác nhau. Toàn bộ môi trường cũng cần có thay đổi để cho không ai bị phân biệt một cách chủ động hay bị động; và để làm được điều này thì có một cách, đó là đảm bảo rằng người khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật cần được tham gia chủ động và tích cực vào quá trình lập kế hoạch và tăng cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng. HỘP 3 Muhammad Akram sống tại tỉnh Sindh, nước Pakistan. Anh bị điếc từ khi còn đang ở tuổi vị thành niên, sau một trận ốm. Câu chuyện sau đây miêu tả lại các trải nghiệm của anh trong lần cùng gia đình đi đến Bv để khám bệnh. “ Vì bị điếc nên tôi luôn không ý thức được những gì mọi người đang nói. Nếu tôi hỏi bác sĩ một câu hỏi ông ta thường đáp lại là ông ta đã nói với gia đình tôi mọi chuyện rồi. Và nếu tôi hỏi gia đình thôi thì mọi người lại nói “đừng lo, không có gì đặc biệt đâu” hay “sẽ nói với con sau”. Không một ai thực sự nói với tôi điều gì và tôi chỉ muốn hất đổ cái bàn. Không có ai sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và không ai có thời gian hay thiện chí muốn giao tiếp với tôi bằng cách dung bút hay tờ giấy. Lâu dần, tôi bắt đầu mất tự tin và trở lên phụ thuộc vào người khác. Sau khi tham gia chương trình PHCNDVCĐ tôi từ từ lấy lại được sự tự tin và bắt đầu đối mặt với các thách thức. Tôi bắt đầu từ chối việc gia đình đưa tôi đến bệnh viện. Điều này bắt buộc bác sĩ phải trao đổi với tôi thông qua giấy, bút viết. Một vài bác sĩ vẫn bảo tôi rủ theo ai đó cùng đi trong các lần khám sau nhưng tôi luôn nói với họ rằng tôi đã là người lớn rồi. Tôi cảm thấy thoải máo và tự tin và có thể giúp nêu lên vấn đề về khuyết tật thông qua việc dạy cho các nhân viên y tế hiểu thê về khuyết tật . Pakistan Khích lệ vượt qua rào cản PHCNDVCĐ và lĩnh vực y tế Chương trình PHCNDVCĐ có thể tạo thuận lợi để tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho NKT thông qua làm việc với nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng, cung cấp điều kiện cần thiết và kết nối NKT với hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ở nhiều quốc gia, như Indonesia hay Việt Nam, Ac-hen-ti-na và Mông Cổ, chương trình PHCNDVCĐ được gắn kết trực tiếp với hệ thống chăm sóc sức khỏe, được quản lý từ Bộ y tế và được thực hiện dựa trên hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ở các nước khác, chương trình
11. 8 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ PHCNDVCĐ được quản lý bởi các tổ chức phi chính phủ hay các bộ của chính phủ như phúc lợi xã hội, và các tổ chức này phải giữ quan hệ mật thiết với chăm sóc sức khỏe ban đầu để đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe và dịch vụ PHCN phù hợp càng sớm càng tốt. Các thành tố của hợp phần Y tế Chương trình PHCNDVCĐ nhận ra, hỗ trợ và vận động chính sách cho một số lĩnh vực then chốt của chăm sóc sức khỏe cho NKT. Những lĩnh vực này phù hợp với các bài học thực hành tốt và được trình bày dưới đây. Nâng cao sức khỏe Nâng cao sức khỏe nhằm mục đích tăng cường sự kiểm soát sức khỏe và các yếu tố liên quan quan đến sức khỏe. Nhiều chiến lược và can thiệp đã và đang được áp dụng để tăng cường các kỹ năng của cá nhân cũng như thay đổi điều kiện môi trường, kinh tế, xã hội để giảm thiểu các tác động lên sức khỏe. Dự phòng Công tác dự phòng rất gần gũi với nâng cao sức khỏe. Dự phòng các tình trạng sức khỏe (như bệnh, các rối loạn, chấn thương) sẽ cần dự phòng cấp 1 (tránh bị), cấp 2 (phát hiện và điều trị sớm) và đo lường dự phòng cấp 3 (phục hồi chức năng).Trọng tâm của hướng dẫn trong thành tố dự phòng này sẽ chỉ tập trung vào dự phòng cấp 1. Chăm sóc y tế Chăm sóc y tế liên quan đến việc xác định khuyết tật từ giai đoạn sớm, lương giá và điều trị tình trạng sức khỏe và các khiếm khuyết đi kèm với mục đích là chữa bệnh và hạn chế các tác động của bệnh lên cơ thể. Chăm sóc y tế có thể được thực hiện ở hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, cấp 2 hay cấp 3. Phục hồi chức năng Phục hồi chức năng là tổng hợp của nhiều biện pháp cho phép NKT có thể đạt được hoặc duy trì các chức năng thay thế trong môi trường họ sống; phù hợp cho cả người có khuyết tật trong một phần cuộc đời và cho cả những người bị khuyết tật bẩm sinh. Dịch vụ PHCN bao gồm từ các dịch vụ cơ bản đển các dịch vụ chuyên sâu và có thể được thực hiện ở nhiều nơi như bệnh viện, tại nhà và môi trường cộng đồng. Phục hồi chức năng thường được khởi xướng bởi ngành y tế nhưng thường đòi hỏi sự hợp tác của nhiều ngành. Dụng cụ trợ giúp Một công cụ được thiết kế, sản xuất, điều chỉnh nhằm hỗ trợ cho một người thực hiện một nhiệm vụ cụ thể thì được xem là dụng cụ trợ giúp. Nhiều NKT được hưởng lợi từ việc sử dụng một hoặc nhiều dụng cụ trợ giúp. Có một số loại dụng cụ trợ giúp thường
12. Lời nói đầu 9 gặp như: trợ giúp di chuyển (nạng, xe lăn), chân tay thay thế (chân nhân tạo), chỉnh hình (nẹp bàn tay), trợ lực (kính), thiết bị nghe (máy trợ thính). Để sử dụng hiệu quả các dụng cụ trợ giúp, việc cung cấp dịch vụ cần chú ý đến nhiều khía cạnh, từ hướng dẫn người dùng, bảo hành sửa chữa, thay thế, điều chỉnh môi trường trong nhà và cộng đồng.
13. Nâng cao sức khỏe 11 Nâng cao sức khỏe Lời nói đầu Tuyên bố Ottawa về nâng cao sức khỏe (1986) mô tả nâng cao sức khỏe là môt quá trình giúp mọi người tăng cường khả năng kiểm soát và cải thiện sức khỏe của mình (12). Nâng cao sức khỏe tập trung vào giải quyết các yếu tố liên quan đến sức khỏe (xem phần nội dung ở trên) có thể thay đổi như các thói quen sức khỏe cá nhân và phong cách sống, thu nhập và tình trạng xã hội, giáo dục, việc làm và điều kiện làm việc, tiếp cận các dịch vụ sức khỏe và môi trường cơ học (13). Nâng cao sức khỏe không đòi hỏi thuốc men đắt tiền hay các công nghệ hiện đại, thay vào đó là các can thiệp xã hội đòi hỏi mỗi người phải đầu tư thời gian và công sức để thực hiện (14), ví dụ như chiến dịch truyền thông về nâng cao sức khỏe. Tiềm năng sức khỏe của người khuyết tật thường không được nhìn nhận vì vậy họ thường bị gạt ra khỏi các hoạt động nâng cao sức khỏe. Phần nội dung này sẽ nói về tầm quan trọng của việc nâng cao sức khỏe đối với NKT. Các hướng dẫn sẽ cung cấp các gợi ý cho chương trình PHCNDVCĐ trong việc tạo điều kiện để NKT có thể tiếp cận được với các hình thức, can thiệp nâng cao sức khỏe khi cần thiết. Điều quan trọng cần lưu ý, đó là nâng cao sức khỏe đặt trọng tâm vào các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, do đó có liên quan đến nhiều ban ngành chứ không chỉ riêng gì y tế.
14. 12 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ HỘP 4 Ở một số nền văn hóa châu Phi, người có bạch tạng được coi như là hậu quả do người mẹ có “quan hệ tình dục” với linh hồn quỷ dữ trong lúc mang thai. Có một đứa con bị bạch tạng bị xem như là bất thường, cả gia đình và đưa trẻ đều bị kỳ thị, phân biệt đối xử trong cộng đồng. Những trẻ có bạch tạng thường bị gia đình giấu đi, các quyền con người cơ bản bị từ chối, trong đó bao gồm cả quyền sức khỏe. Trung tâm mắt quận Kwale (KDEC) ở Kê-ni-a triển khai chương trình PHCNDVCĐ tập trung vào xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử trẻ có bạch tạng ở nhà, ở trường và tại cộng đồng. Để chắc chắn là những trẻ có bạch tạng đạt được tình trạng sức khỏe tiêu chuẩn tốt nhất, chương trình PHCNDVCĐ đã áp dụng nhiều hoạt động nâng cao sức khỏe khác nhau cùng với các can thiệp, bao gồm: • làm thay đổi thái độ thức và quan niệm về người có bạch tạng của các thành viên cộng đồng, lãnh đạo cộng đồng, giáo viên và nhóm phụ nữ trong làng. • giáo dục cha mẹ để họ có đủ tự tin và mạnh mẽ để bảo vệ quyền của con em mình, ví dụ như người bị bạch tạng dễ bị tổn thương da do ánh sáng, KDEC đã giáo dục về tầm quan trọng của việc dùng kính râm và mặc quần dài và áo dài tay để bảo vệ da; • thiết lập quan hệ đối tác với khách sạn tại địa phương để khích lệ khách quyên góp, tài trợ kính chống nắng và những quần áo không dùng; • triển khai đánh giá mắt để bảo vệ các khiếm khuyết thị lực, cung cấp kính chống nắng và các thiết bị thị lực thấp khi cần. Thành công của chương trình PHCNDVCĐ này có mối liên hệ đến quan hệ đối tác chặt chẽ mà KDEC đã xây dựng với cả cơ quan y tế và giáo dục. Trẻ có bạch tạng giờ đã được tham gia vào trường học chính quy. Vượt qua kỳ thị và định kiến Kê-ni-a
15. Nâng cao sức khỏe 13 Mục tiêu NKT và gia đình nhận ra được tiềm năng sức khỏe của mình, được trao quyền để tăng cường và/hoặc duy trì tình trạng sức khỏe có được Vai trò của PHCNDVCĐ Vai trò của PHCNDVCĐ là xác định các hoạt động nâng cao sức khỏe tại địa phương, tại khu vực hay cấp quốc gia và làm việc với các bên liên quan (như bộ Y tế, chính quyền địa phương) nhằm đảm bảo sự tiếp cận và hòa nhập cho NKT và gia đình họ. Một vai trò khác là đảm bảo rằng NKT và gia đình nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì sức khỏe và khích lệ họ tham gia tích cực vào các hành động nâng cao sức khỏe. Kết quả mong đợi • Người khuyết tật và gia đình tiếp cận được các thông điệp nâng cao sức khỏe mà các thành viên khác trong cộng đồng nhận được. • Các vật liệu và chương trình nâng cao sức khỏe được thiết kế và điều chỉnh theo các nhu cầu cụ thể của NKT và gia đình. • NKT và gia đình có kiến thức, kỹ năng và được hỗ trợ để đạt được tình trạng tốt nhất về sức khỏe. • Nhân viên chăm sóc sức khỏe cải thiện được nhận thức về các nhu cầu y tế chung cũng như đặc thù của NKT và đáp ứng được các nhu cầu này thông qua các hành động nâng cao sức khỏe phù hợp. • Cộng đồng cung cấp môi trường hỗ trợ để cho NKT tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe . • Chương trình PHCNDVCĐ đề cao giá trị của sức khỏe tốt và thực hiện các hoạt động để cải thiện điều kiện làm việc của nhân viên.
16. 14 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ Các khái niệm chính Nâng cao sức khỏe cho người khuyết tật Nâng cao sức khỏe thường được nhìn nhận như là một chiến lược để phòng ngừa bệnh tật và thường không được xem xét trong mối liên hệ với NKT vì khuyết tật được xem là hậu quả của việc không áp dụng nâng cao sức khỏe (15). Một người bị liệt do tổn thương tủy sống, ví dụ, thì không được coi là một tấm gương tốt để tuyên truyền nâng cao sức khỏe vì bản thân anh ta/cô ta đã bị chấn thương. Nhiều người khuyết tật có nhu cầu nâng cao sức khỏe như cộng đồng dân chúng, nếu không muốn nói là nhiều hơn (3). NKT phải đố mặt với nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe như người khác nhưng có nhiều vấn đề sức khỏe hơn do nhạy cảm hơn với các tình trạng bệnh tật (có thể có liên quan hoặc không lien quan với tình trạng khuyết tật) (16). Thông thường, người khuyết tật và các thành viên gia đình có rất ít kiến thức về cách để có được và duy trì sức khỏe. Các rào cản của việc nâng cao sức khỏe Người khuyết tật thường có sức khỏe kém hơn phần đông dân số bởi vì họ phải đối mặt với nhiều rào cản khi cố gắng cải thiện sức khỏe (xem thêm ở trên: rào cản với dịch vụ chăm socs sức khỏe cho NKT). Giải quyết các rào cản này sẽ giúp NKT tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe được dễ dàng hơn. Nâng cao sức khỏe cho các thành viên gia đình Người khuyết tật cần sự hỗ trợ từ người khác, đặc biệt là các thành viên trong gia đình. Các thành viên gia đình có thể đã có kinh nghiệm về các vấn đề trong quá trình chăm sóc NKT như kiểm soát các căng thẳng liên quan đến mệt mỏi về cơ thể hoặc cảm xúc, giảm khả năng chăm sóc cho trẻ, bị phân tán thời gian và công sức cho công việc của mình, kỳ thị và giảm các quan hệ xã hội (17). Duy trì sức khỏe của các thành viên gia đình NKT cũng là rất quan trọng (xem thêm tài liệu hướng dẫn ở hợp phần xã hội: trợ giúp cá nhân). Hành động nâng cao sức khỏe Tuyên bố Ottawa về nâng cao sức khỏe đã nêu ra 5 lĩnh vực hành động, có thể được dùng để phát triển và thực hiện các chiến lược nâng cao sức khỏe (16). 1. Xây dựng chính sách công về sức khỏe Xây dựng khung pháp lý và các quy định liên quan đến mọi lĩnh vực bảo vệ sức khỏe cộng đồng bằng cách đảm bảo các dịch vụ an toàn hơn, tốt hơn và sạch hơn, môi trường dễ chịu hơn. 2. Tạo ra môi trường hỗ trợ cho sức khỏe Thay đổi môi trường xã hội và hạ tầng cơ sở, đảm bảo điều kiện sống và làm việc an toàn, thoải mái, dễ chịu.
17. Nâng cao sức khỏe 15 3. Tăng cường sức mạnh cộng đồng Điều chỉnh các phương pháp tiếp cận cộng đồng để giải quyết các vấn đề sức khỏe với các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội và môi trường. Trao quyền cho cộng đồng xác định ưu tiên, ra quyết định, xây dựng kế hoạch và thực hiện các chiến lược để có được sức khỏe tốt hơn. 4. Phát triển các kỹ năng cá nhân Phát triển các kỹ năng cá nhân bằng cách cung cấp thông tin và giáo dục sức khỏe để giúp họ thực hành nhiều hơn việc kiểm soát sức khỏe và môi trường và có nhiều lựa chọn tốt hơn để cải thiện tình hình sức khỏe. 5. Định hướng dịch vụ sức khỏe Ngành y tế phải tăng cường định hướng nâng cao sức khỏe cùng với trách nhiệm về dịch vụ khám chữa bệnh. Các chiến lược nâng cao sức khỏe có thể vận dụng cho các nhóm khác nhau: • nhóm dân cư, như trẻ em, thành niên, người lớn • các nguy cơ như hút thuốc, ít vận động, ăn kiêng ít, tình dục không an toàn • sức khỏe hay các bệnh ưu tiên như tiểu đường, HIV/AIDS, bệnh tim mạch, bệnh đường miệng • thể chế, ví dụ như trung tâm cộng đồng, phòng khám, bệnh viện, trường học, nơi làm việc. Cá nhân có nhiều tiềm năng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và cách tiếp cận để tham gia vào việc nâng cao sức khỏe là rất quan trọng vì điều này cho phép họ có thể kiếm soát tốt hơn các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Gợi ý các hoạt động Các hoạt động nâng cao sức khỏe rất phụ thuộc vào các vấn đề và ưu tiên của địa phương, vì vậy các hoạt động được nêu ở đây chỉ mang tính gợi ý chung. Chương trình PHCNDVCĐ cần có hiểu biết đầy đủ về cộng đồng, tiếp xúc và làm việc với các thành viên và nhóm cộng đồng đã có những hoạt động hướng tới việc tăng cường kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe. Hỗ trợ các chiến dịch nâng cao sức khỏe Các chiến dịch nâng cao sức khỏe có thể ảnh hưởng tích cực đến cá nhân, cộng đồng và dân chúng. Các chiến dịch có thể thông tin, khích lệ và tạo động cơ thay đổi thái độ. Chương trình PHCNDVCĐ có thể giúp cải thiện sức khỏe NKT bằng các cánh sau đây: • xác định các chiến dịch nâng cao sức khỏe hiện có tại cộng đồng, trong vùng hay cấp độ quốc gia và đảm bảo là NKT cũng là đối tượng đích và tham gia vào các chiến dịch này; • tích cực tham gia vào chiến dịch nâng cao sức khỏe và các sự kiện liên quan, tăng cường nhận thức về khuyết tật;
18. 16 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ • khuyến khích các chiến dịch nâng cao sức khỏe trưng bày các hình ảnh tích cực của NKT, ví dụ như vẽ NKT lên poster và biển quảng cáo với thông điệp tiếp cận đến công chúng; • đảm bảo các chiến dịch nâng cao sức khỏe có sử dụng các hình thức phù hợp với NKT ví dụ các thông báo về dịch vụ công cần được điều chỉnh cho cộng đồng người điếc với các giải thích bằng chữ và phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu; • xác định các nguồn lực tại cộng đồng (ví dụ như người phát ngôn của cộng đồng, báo chí, đài, tivi) và khuyến khích họ tăng cường phạm vi truyền thông về những vấn đề sức khỏe liên quan đến khuyết tật đồng thời các thông điệp họ đưa ra cần phải đảm bảochắcchắnlàtấtcảcácthôngđiệpcầnđượctôntrọngquyềnvàphẩmgiácủaNKT.; • hỗ trợ việc phát triển và thực hiện chiến dịch nâng cao sức khỏe mới để giải quyết các vấn đề liên quan đến khuyết tật mà các chiến dịch ở cộng đồng còn bỏ sót. Tăng cường kiến thức và kỹ năng cá nhân Thông tin về giáo dục sức khỏe sẽ giúp cho NKT và gia đình họ phát triển kiến thức, kỹ năng sống cần thiết để duy trì và cải thiện sức khỏe. Họ có thể học hỏi về các yếu tố nguy cơ bệnh tật, vệ sinh tốt, ăn uống hợp lý, tầm quan trọng của vận động thể lực và các yếu tố bảo vệ sức khỏe, thông qua các phần được thiết kế (cho cá nhân hay cho nhóm nhỏ). Nhân viên PHCNDVCĐ có thể: • Tới thăm NKT cùng gia đình họ và nói chuyện về cách duy trì lối sống lành mạnh, đưa ra các gợi ý cụ thể; • Thu thập các tư liệu nâng cao sức khỏe (sách, tờ rơi), phân phát cho NKT và gia đình; • Điều chỉnh hoặc phát triển các tư liệu nâng cao sức khỏe mới mà NKT có thể tiếp cận được, ví dụ như người khuyết tật trí tuệ sẽ cần các tư liệu đơn giản và giải thích trực tiếp bằng ngôn ngữ đơn giản và hình ảnh phù hợp; • Thông tin cho NKT và gia đình về các chương trình nâng cao sức khỏe tại địa phương và các dịch vụ giúp cho họ có được các kiến thức và kỹ năng mới để duy trì sức khỏe; • Phát triển các bài học, nếu cần thiết, cho NKT mà nhu cầu của học chưa được đáp ứng; • Đảm bảo một số phương pháp và tư liệu được sử dụng để giáo dục, tạo ra những hiểu biết, ví dụ trò chơi, đóng vai, trình diễn, thảo luận, kể chuyện, bài tập giải quyết vấn đề; • Chú trọng việc giúp đỡ NKT và gia đình tự tin và riêng tư trong việc bày tỏ nhu cầu của mình với nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp họ có thể đặt các câu hỏi cũng như đưa ra các quyết định về sức khỏe của mình; • Đối với cơ sở y tế, cung cấp các khóa tập huấn để hỗ trợ họ có thể trở thành cán bộ truyền thông giáo dục về nâng cao sức khỏe. Kết nối mọi người với các nhóm tự lực Nhóm tự lực giúp cho mọi người đến với nhau trong các nhóm nhỏ để chia sẻ các kinh nghiệm chung, tình hình hay các vấn đề của mỗi cá nhân (xem thêm phần tài liệu về trao quyền: nhóm tự lực). Với nhiều người thì cơ hội để nhận trợ giúp và các lời khuyên từ những người khác có cùng cảnh ngộ và vấn đề như mình, nhiều khi hữu ích hơn là nhận các lời khuyên từ nhân viên y tế (18). Các nhóm tự lực được đề cập đến trong toàn bộ tài liệu hướng dẫn trong hợp phần này vì các nhóm có thể đóng góp cho việc cải thiện sức khỏe của NKT và gia đình. Nhân viên chương trình PHCNDVCĐ có thể:
19. Nâng cao sức khỏe 17 • Kết nối NKT và gia đình với các nhóm tự lực đang có ở cộng đồng và cùng có nhu cầu chung như họ, ví dụ như nhóm của người tổn thương tủy sống hay bị ảnh hưởng bởi phong, hoặc có HIV/AIDS, hoặc cha mẹ trẻ bại não; • Khuyến khích những người có cùng chung trải nghiệm về khuyết tật đến với nhau và tạo thành nhóm tự lực ở nơi phù hợp, chưa có nhóm nào hình thành. Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh, chẳng hạn như, ở trong một ngôi làng nhỏ có thể sẽ khó để thành lập nhóm, khi đó việc hỗ trợ 1:1 với hình thức đồng đẳng lại tỏ ra phù hợp hơn; • Khuyến khích các nhóm tự lực liên kết với nhau, tham gia tích cực vào các hoạt động nâng cao sức khỏe tại cộng đồng, chẳng hạn như tổ chức cắm trại nhân ngày sức khỏe thế giới, ngày sức khỏe tâm thần thế giới, ngày người khuyết tật v.v.v. HỘP 5 Với các hỗ trợ từ một chương trình PHCNDVCĐ ở Piedecuesta, Colombia, một nhóm người tổn thương tủy sống đã lập ra nhóm tự lực. Họ cảm thấy thiếu các thông tin về sức khỏe, đặc biệt là kiến thức tự chăm sóc, phòng ngừa và xử lý các vết loét, các vấn đề bàng quang v.v.v. trong bệnh viện, nơi họ được điều trị. Các thành viên có kinh nghiệm của nhóm rất nhiệt tình giúp đỡ những thành viên mới những người và giúp họ biết được cách xoay xở, chỉ cho họ cách sử dụng dụng cụ trợ giúp Chương trình PHCNDVCĐ đã tổ chức các đợt tiếp xúc với các chuyên gia trong bệnh viện để thành viên trong nhóm có thể nhận được các câu hỏi và trả lời từ các chuyên gia, giải đáp các nghi ngờ của thành viên nhóm. Quản lý sức khỏe dựa vào nhóm tự lực Colombia Giáo dục đơn vị cung cấp chăm sóc sức khỏe Đơn vị chăm sóc sức khỏe là nguồn thông tin đáng tin cậy và có tiềm năng ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe của mọi người. Chương trình PHCNDVCĐ cần làm việc với các nơi chăm sóc sức khỏe để đảm bảo họ có được các kiến thức về khuyết tật và họ sẽ đưa NKT vào trong các hoạt động nâng cao sức khỏe. Chương trình PHCNDVCĐ có thể làm được các việc sau: • định hướng cho nhân viên y tế (nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu) về khuyết tật và các thách thức, khó khăn mà NKT và gia đình phải chịu đựng và đối mặt; • giúp nhân viên y tế hiểu tầm quan trọng của việc giao tiếp thường xuyên với NKT, tôn trọng, không phân biệt đối xử và hướng dẫn cho họ cách hỗ trợ học tập khi họ tập huấn lại.
20. 18 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ • chỉ cho nhân viên y tế cách điều chỉnh các can thiệp một cách đơn giản để các thông điệp về sức khỏe dễ hiểu hơn; • khuyến khích nhân viên y tế sử dụng các phương tiện truyền thông và công nghệ khác nhau khi lập kế hoạch và xây dựng thông tin sức khỏe cho NKT. HỘP 6 Chương trình PHCNDVCĐ có thể làm việc với các tổ chức của NKT để phát triển các tài liệu giáo dục cho những người mù hoặc có thị lực thấp về HIV/AIDS và thông báo cho cơ sở chăm sóc sức khỏe biết về nhu càu cụ thể của nhóm này. Một ví dụ về Hội người mù châu Phi đã xây dựng tài liệu hướng dẫn tập huấn cho tập huấn viên về HIV/AIDS để hỗ trợ hòa nhập và sự tham gia của người bị mất môt phần thị lực hoạc mù trong chương trình giáo dục về HIV/AIDS. Tập huấn cho tập huấn viên ChâuPhi Xây dựng môi trường hỗ trợ Để tạo ra môi trường hỗ trợ xã hội và hạ tầng cho NKT, qua đó tạo điều kiện để họ có được sức khỏe, chương trình PHCNDVCĐ có thể làm việc với trung tâm y tế cộng đồng, bệnh viện, nơi làm việc và các bên liên quan để: • Đảm bảo rằng môi trường sẽ thúc đẩy lối sống lành mạnh và các chương trình nâng cao sức khỏe cụ thể và các dịch vụ sẽ tiếp cận cho NKT; • Xây dựng mối quan hệ đối tác giữa những người lập quy hoạch phát triển y tế, xã hội và đô thị với NKT nhằm mục đích tạo ra và cải thiện điều kiện tiếp cận của công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng; • Tạo cơ hội cho NKT tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí ví dụ như hỗ trợ người sử dụng xe lăn xem bóng đá tại địa phương (xem thêm tài liệu của hợp phần Hỗ trợ xã hội); • Đảm bảo sự tiếp cận, an toàn của công trình giao thông công cộng vì vấn đề giao thông có thể gây ra nguy cơ cách ly NKT ra khỏi đời sống xã hội; • Thông qua giáo dục và tập huấn, xóa bỏ mọi quan điểm sai lầm, thái độ tiêu cực và kỳ thị tồn tại trong cộng đồng và nhân viên y tế về NKT và gia đình họ; • Tổ chức các sự kiện văn hóa như múa, khiêu vũ, diễn kịch, chiếu phim, trình diễn múa rối để giải quyết các vấn đề sức khỏe.
21. Nâng cao sức khỏe 19 HỘP 7 Một chương trình PHCNDVCĐ tạo Alexandria (Ai Cập) đã tổ chức một trại hè cho trẻ khuyết tật, gia đình và các tình nguyện viên cộng đồng cùng đi nghỉ. Điểm nhấn trong mấy ngày nghỉ là họ đã cùng nhau chơi, vui như một đại gia đình, thông qua đó họ cải thiện sức khỏe. Chương trình PHCNDVCĐ cũng hợp tác với ủy ban Paralympics, hội cha mẹ TKT và tổ chức của NKT để tổ chức các sự kiện thể thao hang năm tại sân vận động của thành phố. Lối sống lành mạnh Ai Cập Trở thành một tổ chức nâng cao sức khỏe Nâng cao sức khỏe tại các cơ sở làm việc có ý nghĩa cải thiện ý thức và kỹ năng của nhân viên, năng suất công việc và sức khỏe. Một tổ chức thực hiện chương trình PHCNDVCĐ thì cũng nên tập trung nâng cao sức khỏe cho nhân viên của chính tổ chức mình bằng cách: • Tập huấn, giáo dục mọi nhân viên về mức độ và cách thức cải thiện, duy trì sức khỏe; • Xây dựng môi trường làm việc lành mạnh ví dụ không hút thuốc, bữa ăn phù hợp, nước sạch, giờ làm việc phù hợp, cách thức tham gia giao thông an toàn; • Xây dựng các chính sách và thực hành trong tổ chức để cải thiện sức khỏe ví dụ chính sách chống phân biệt đối xử, định kiến và kỳ thị, lạm dụng thuốc lá, đồ uống có cồn và ma túy; • Khuyến khích nhân viên thực hành tấm gương tốt trong cộng đồng và cho người khác bằng cách điều chỉnh hành vi và thói quen sống.
22. Dự phòng 21 Dự phòng Lời nói đầu Trọng tâm chính của dự phòng trong chăm sóc sức khỏe là ngăn chặn các tình trạng bệnh tật xảy ra (dự phòng cấp 1). Tuy nhiên, dự phòng cũng là việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời để ngăn chặn tiến trình phát triển của bệnh tật (dự phòng cấp 2) và giảm thiểu hậu quả (dự phòng cấp 3). Nội dung phần này chủ yếu đề cập đến dự phòng cấp 1. Dự phòng cấp 1 bao gồm: chăm sóc sức khỏe ban đầu; chăm sóc trước và sau sinh; kiểm soát bệnh dịch; các quy định về an toàn; phòng tránh tai nạn thương tích trong các môi trường khác nhau; phòng ngừa khuyết tật và ô nhiễm môi trường; các xung đột quân sự. (19). Theo ước tính, bằng cách sử dụng hiệu quả hơn phòng ngừa cấp 1, gánh nặng bệnh tật sẽ giảm đến 70% (10). Mặc dù vậy, người ta tin rằng dự phòng (cũng như nâng cao sức khỏe) mới chỉ có một vai trò rất ít trong công tác quản lý sức khỏe của NKT. Chăm sóc sức khỏe cho NKT thường chỉ tập trung vào các chăm sóc y tế đặc biệt và phục hồi chức năng. Tuy nhiên, như đã đề cập nhiều lần, NKT có nhiều nguy cơ về các tình trạng sức khỏe khác cũng như nguy cơ thương tật thứ cấp do tình trạng sức khỏa vốn có của họ (20). Cũng giống như nâng cao sức khỏe, công tác dự phòng đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành. Riêng với ngành y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng một vai trò vô cùng quan trọng và từ khi chương trình PHCNDVCĐ ra đời, có mối quan hệ mật thiết với chăm sóc sức khỏe ban đầu thì chương trình này cũng có vai trò trong việc hỗ trợ dự phòng sức khỏe cho NKT.
23. 22 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ HỘP 8 Ở Chamarajnagar, một quận nghèo nhất của Karnataka, Ấn Độ, chất lượng cuộc sống ở đây rất thấp, đặc biệt là NKT. Khi chương trình PHCNDVCĐ được triển khai ở đây, Mobility India (MI), một tổ chức phi chính phủ, với sự hỗ trợ của đối tác phát triển và khuyết tật tại Anh – UK, đã nhận ra là rất nhiều người dân không tiếp cận được với điều kiện vệ sinh chất thải và do đó họ có nguy cơ sức khỏe. Phần lớn mọi người phải đi vệ sinh ở một nơi rất xa giữa cánh đồng hoặc sau các lùm cây. Điều này thực sự là khó khăn cho NKT, nhất là phụ nữ khuyết tật. Đại Hội đồng LHQ đã ra tuyên bố năm 2008, đó là năm Quốc tế về vệ sinh nước thải nhằm nâng cao nhận thức của hang tỷ người không tiếp cận được với vệ sinh cơ bản. sau đó chính phủ Ấn Độ đã đẩy mạnh chiến dịch vệ sinh nước thải sinh hoạt để đảm bảo là các điều kiện vệ sinh nước thải ở vùng nông thông được cải thiện, xóa bỏ tình trạng phóng uế bừa bãi. Nhiều nguồn ngân sách đã được dùng để hỗ trợ cho các hộ gia đình nơi mà dự án của MI triển khai giúp NKT, để xây hố xí trong nhà, với NKT thì các hố xí có điều kiện tiếp cận. Sử dụng mạng lưới dựa vào cộng đồng và các nhóm tự lực để hỗ trợ cho dự án mới này, MI đã tổ chức các buổi trình diễn kịch đường phố, vẽ để nâng cao nhận thức về vệ sinh và vai trò của vệ sinh trong việc phòng ngừa các vấn đề sức khỏe. Thấy người dân bắt đầu quan tâm và có động cơ hơn, MI đã nhất trí đầu tư để cải thiện điều kiện vệ sinh chất thải. Tổng số chi phí để xây dựng một nhà vệ sinh ước tính là US$1500. Trong khi đó chính phủ Ấn Độ đầu tư nguồn ngân sách bằng 1/3 cho mỗi gia đình. Nguồn ngân sách này vẫn chưa giúp các gia đình vượt qua khó khăn, nhất là với gia đình NKT. Với sự hỗ trợ tài chính từ MIBLOU, Thụy sĩ và một số đóng góp từ địa phương, cuối cùng MI cũng đã có khả năng để triển khai một dư án thí điểm xây dựng 50 nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn tiếp cận. các thành viên của nhóm tự lực có nhiệm vụ lựa chọn các gia đình nào nghèo và có nhu cầu cần hỗ trợ trước Nhóm cũng đã tham gia vào việc xây dựng và giúp đỡ, hướng dẫn các gia đình biết cách sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích. Kết quả của dự án thí điểm là 50 hố xí tiếp cận đã được xây dựng trong vòng 1 năm. Nhiều người đã không phải đi xa để giải quyết nhu cầu vệ sinh nữa. Giờ họ đã trở lên độc lập, và quan trọng hơn là đã giữ được nhân phẩm. Các nguy cơ bệnh tật do điều kiện vệ sinh tồi tàn đã được giảm và kiểm soát đáng kể. Nhìn thấy thành công của dự án MI, chính phủ Ấn Độ đã tăng ngân sách cho các chính quyền địa phương và các khoản ngân sách đã được giải ngân ngay lập tức. Người dân, kể cả có hay không có khuyết tật đều được hưởng lợi từ dự án và dần dần dự án phát triển mở rông ra cả quận. Chamarajnagar nhanh chóng trở thành nơi có nhiều người dân có nhà vệ sinh ở ngay trong nhà, hoặc ít nhất là gần nhà. Sống với nhân phẩm Ấn Độ
24. Dự phòng 23 Mục tiêu Người khuyết tật có ít nguy cơ bị bệnh tật hơn kể cả có liên quan hay không liên quan đến tình trạng khiếm khuyết của họ; gia đình NKT và các thành viên khác trong cộng đồng ít có nguy cơ bệnh tật, khiếm khuyết. Vai trò của PHCNDVCĐ PHCNDVCĐcóvaitròđảmbảocộngđồngvàcáclĩnhvựcpháttriểncóliênquantậptrung vào các hoạt động dự phòng cho NKT và không khuyết tật. Chương trình PHCNDVCĐ sẽ hỗ trợ cho NKT và gia đình tiếp cận các dịch vụ cải thiện sức khỏe của họ và phòng ngừa các tình trạng bệnh tật chung cũng như thứ cấp (biến chứng). Kết quả mong đợi • NKT và gia đình tiếp cận được thông tin và dịch vụ y tế để phòng ngừa bệnh tật. • NKT và gia đình sẽ giảm được nguy cơ phát sinh các vấn đề sức khỏe bằng cách thiết lập và duy trì các thói quen, phong cách sống lành mạnh. • NKT được tham gia vào các hoạt động dự phòng như tiêm chủng, giảm các nguy cơ bệnh, tật phát sinh và các khiếm khuyết. • Mọi thành viên cộng đồng đều có thể tham gia vào các hoạt động dự phòng như chương trình tiêm chủng để giảm thiểu các nguy cơ gây ra các tình trạng bệnh tật và các khiếm khuyết có thể dẫn đến khuyết tật. • Chương trình PHCNDVCĐ sẽ hợp tác với các cơ quan khác như giáo dục để giải quyết các vấn đề sức khỏe cùng như hỗ trợ cho các hoạt động dự phòng. Các khái niệm chính Nguy cơ sức khỏe Là các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của một người và dẫn đến các tình trạng chấn thương, đau yếu và bệnh tật. Ở đâu thì con người cũng đều phơi nhiễm với rất nhiều yếu tố nguy cơ sức khỏe trong cuộc sống. Một số hoàn cảnh dẫn tới các nguy cơ gồm: gày, thiếu cân, tình dục không an toàn, huyết áp cao, sử dụng thuốc lá, sử dụng cồn, nước không sạch, vệ sinh và chất thải, thiếu sắt, bụi khó và mùi hóa chất (25). Các hoạt động dự phòng sẽ làm giảm các nguy cơ sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. Có môt số nguy cơ như tiền sử gia đình, sự kiểm soát của mỗi cá thể, và các yếu tố khác như phong cách sống, môi trường xã hội và hạ tầng, có thể được cảnh báo để tăng duy trì và tăng cường sức khỏe. Ngành y tế đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các nguy cơ này. Ba cấp độ dự phòng Dự phòng có thể là một trong 3 cấp độ sau.
25. 24 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ 1. Dự phòng cấp 1 – cụm từ “phòng hơn chữa”được nhiều người biết đến và quen dùng khi nói đến phòng ngừa cấp 1. Cấp độ phòng ngừa này nhằm trực tiếp vào việc phòng tránh và sử dụng các biện pháp can thiệp để làm sao tình trạng bệnh, tật không xảy ra (17). Những can thiệp thường tập trung vào con người (như thay đổi thói quan, hành vi, tiêm chủng, dinh dưỡng) và môi trường sinh sống (nước sạch, vệ sinh chất thải, điều kiện sống và làm việc). Dự phòng cấp 1 có vai trò quan trọng như nhau đối với cả NKT và người không khuyết tật, và cũng là trọng tâm trong nội dung phần này. 2. Dự phòng cấp 2 là việc phát hiện sớm và can thiệp sớm với mục đích chữa trị tích cực và làm hạn chế tác động. Ví dụ, khám XQ phát hiện sớm ung thư vú, khám mắt định kỳ phát hiện đục thủy tinh thể; các ví dụ về can thiệp sớm như điều trị đau mắt hột với kháng sinh để ngăn chặn mù lòa, đa hóa dược trị liệu với bệnh nhân phong để ngăn chặn tiến triển và phòng ngừa các lỗ đáo và dị dạng chi. Chiến lược phòng ngừa cấp 2 cho cả người có và không khuyết tật sẽ được thảo luận kỹ hơn ở phần chăm sóc y tế dưới đây. 3. Dự phòng cấp 3 nhằm làm hạn chế hoặc khắc phục các tác động gây ra bởi tình trạng bệnh tật và các khiếm khuyết đã có, bao gồm phục hồi chức năng và can thiệp để ngăng chặn tình trạng hạn chế hoạt động và để nâng cao sự độc lập, sự tham gia và hòa nhập. Chiến lược dự phòng cấp 3 sẽ được thảo luận nhiều hơn trong phần nói về Phục hồi chức năng và Dụng cụ trợ giúp. Bảng 1: Ba cấp dự phòng Cấp 3 Cấp 2 Cấp 1
26. Dự phòng 25 HỘP 9 Anita là phụ nữ 50 tuổi sống ở làng Khandale village, ở khu đồi cao quận Raigad, Maharashtra, Ấn Độ. Một ngày, Anita bị chấn thương ở bàn chân phải. Sau đó Anita bị đau ở chân và sau vài ngày thì chân có màu đen. Được con trai đưa đến Bv Alibaug Hospital, cách nhà 15 km, bác sĩ khuyên Anita đến bệnh viện chuyên khoa ở Mumbai, cách đó 100 km. Nhân viên y tế ở Mumbai ngay lập tức đã chẩn đoán Anita bị tiểu đường và chỉ định châm giả dưới gối phải cho Anita vì phần bàn chân đã bị hoại tử. Ngay sauu khi phẫu thuật, gia đình đã đưa Anita về nhà vì họ không đủ tiền để Anita tại thành phố. Anita không thể đi lại được và phải nhờ con trai dìu. Một nhân viên y tế thôn đã báo cho Anita và gia đình biết rằng chương trình PHCNDVCĐ có thể cung cấp chân giả cho những người mất chi. Anita đã tới thăm chương trình ở tạm y tế gần nhà. Vết cắt cụt của Anita được khám để để đảm bảo vết sẹo liền tốt và bàn chân, chân bên trái được kiểm tra về cảm giác và tuần hoàn. Anita cũng đã được biết thêm về bệnh tiểu đường và cách kiểm soát bệnh với việc dùng thuốc, vận động hang ngày và ăn kiêng. Anita cũng học cách chăm sóc bàn chân để phòng ngừa hoại từ và bị cắt cụt. Anita đã được cấp nạng và được hướng dẫn cách sử dụng. Sau đó, một nhóm chuyên gia y tế đến thăm trung tâm và làm một cái chân giả cho Anita cũng như giày để Anita có thể bảo vệ được bàn chân. Anita sau đó cũng được tham gia buổi huấn luyện về dáng đi để giúp cho việc đi lại bằng chân giả được đúng cách. Nhân viên PHCNDVCĐ cũng hướng dẫn Anita cách làm thanh song song tại nhà để Anita có thể tập đi ở nhà. Dần dần Anita tự tin hơn cho đến khi có thể độc lập đi lại trong nhà, quanh làng và ra ngoài đồng. Anita vẫn tiếp tục dùng thuốc thường xuyên và khám sức khỏe định kỳ. Anita nói chất lượng cuộc sống của mình đã cải thiện rất nhiều nhờ vào sự giúp đỡ của chương trình PHCNDVCĐ và những người khác. Cô đã thành công trong việc phòng ngừa các biến chứng của bệnh tiểu đường. Anita đứng lên Ấn Độ Dự phòng có ý nghĩa gì đối với người khuyết tật (NKT)? Cũng như mọi người, NKT hàng ngày phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ nên cần có các biện pháp dự phòng ban đầu, ví dụ như tiêm chủng.Tuy nhiên, có thể cần các can thiệp dự phòng đặc thù hơn đối với NKT vì bản thân họ dễ bị tổn thương hơn trước các nguy cơ sức khỏe tồn tại trong cộng đồng. Ví dụ, vì sống trong nghèo đói, NKT có ít điều kiện tiếp cận với nước sạch và vệ sinh sinh hoạt. Ít tiếp cận với các điều kiện này có thể làm cho NKT có những thực hành không vệ sinh, làm cho sức khỏe của họ nhiều nguy cơ hơn và lại làm cho họ nghèo đối hơn cũng như khó có thể cải thiện cuộc sống. (22).Trong các trường hợp như vậy, các dịch vụ và điều kiện đặc biệt hơn có thể cần để hỗ trợ cho NKT. NKT cũng đối mặt với nguy cơ thương tổn, bệnh tật thứ cấp (chẳng hạn các vấn đề sức khỏe, biến chứng do tình trạng bệnh tật chính). Các ví dụ có thể thấy rõ như: loét do đè ép, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, co rút cơ, đau, viêm xương, trầm cảm v.v.v. các tình
27. 26 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ trạng thứ cấp này có thể giải quyết và khắc phục bằng can thiệp sớm và nhìn chung là đa phần các biến chứng đó có thể dự phòng được.Ví dụ, một người bị liệt nửa người có thể phòng các vết loét nếu đuwocj chăm sóc da chu đáo và ngăn ngừa các viêm nhiễm tiết niệu với việc kiểm soát bang quan tốt. HỘP 10 Tổ chức tàn tật quốc tế hỗ trợ xây dựng một đơn vị tổn thương tủy sống ở Bv PHCN Thành phố Hồ Chí Minh tại Việt Nam. Nhân viên trong khoa có trách nhiệm theo dõi bệnh nhân đã xuất viện với mục đích phòng ngừa các thương tổn thứ cấp và đảm bảo rằng môi trường trong nhà hoàn toàn có thể tiếp cận cho xe lăn. Nhân viêcn PHCNDVCĐ làm nhiệm vụ theo dõi tất cả bệnh nhân nhưng do nguồn lực có hạn và bệnh nhân sống ở nhiều nơi cách xa nhau nên chỉ 25% bệnh nhân được thăm hỏi và họ nhận ra là nhiều nhu cầu của bệnh nhân bị bỏ sót. Sau đó nhân viên y tế và cán bộ PHCNDVCĐ đã quyết định triển khai một hê thống mới qua đó bệnh nhân được ưu tiên hơn– các cuộc thăm gia đình sẽ được chú trọng hơn đến các đối tượng có nhiều nguy cơ, bên cạnh đó các cuộc điện thoại và sách hướng dẫn được phát nhiều hơn cho NKT và gia đình những bệnh nhân có ít nguy cơ. Kết quả là đã giảm được đáng kể số bệnh nhân có nhu cầu bị bỏ qua. Cách làm này cũng làm tăng chi phí hiệu quả trong khi lại giảm được căng thẳng cho nhân viên PHCNDVCĐ. Cải thiện điều kiện tiếp cận tại nhà Việt Nam Dự phòng có ý nghĩa gì đối với NKT? Dự phòng có vai trò quan trọng cho người không khuyết tật như đối với NKT. Nhiều tình trạng sức khỏe đi kèm với các khiếm khuyết đều có thể dự phòng và ngăn chặn được, ví dụ 80% tình trạng mù lòa ở người lớn có thể được ngăn chặn hoặc điều trị và khoảng gần nửa mù lòa ở trẻ em có thể tránh được bằng các điều trị sớm các bệnh và dị tật khi sinh, ví dụ viêm mống mắt, tăng nhãn áp (27). Nghị quyết số 58 của Đại hội đồng tổ chức y tế thế giới về khuyết tật, bao gồm cả dự phòng, quản lý và phục hồi chức năng (WHA58.23) (28) yêu cầu thành viên của tổ chức tăng cường nhận thức công cộng về tầm quan trọng của vấn đề khuyết tật để điều phối các nỗ lực của tất cả các bên liên quan trong việc tham gia các hoạt động dự phòng. Sự nhạy cảm là một trong những yêu cầu cần chú ý đối với một chương trình hay một sang kiến về dự phòng sức khỏe và các khiếm khuyết bởi vì nhiều người trong cộng đồng NKT có thể nghĩ những việc này có nguy cơ đe dọa, ảnh hưởng đến những gì vốn có của cộng đồng NKT. Không nên để xảy ra mâu thuẫn giữa công tác dự phòng với những công việc duy trì và nâng cao sức khỏe cho NKT (29). Gợi ý các hoạt động Vì dự phòng có mối quan hệ mật thiết và phối hợp với nâng cao sức khỏe và chăm sóc y tế nên điều quan trọng cần ghi nhớ, đó là có sự trùng lặp giữa các hoạt động được gợi ý trong cả 3 lĩnh vực này và tất cả các gợi ý hoạt động cho 3 lĩnh vực này đều cần được
28. Dự phòng 27 đọc và nghien cứu. Trọng tâm chính ở đây là các hoạt động dự phòng cấp 1; bạo lực và HIV/AIDS sẽ không được đề cập vì những chủ đề này được bàn sâu trong tài liệu hợp phần xã hội và cuốn tài liệu bổ sung về PHCNDVCĐ và HIV/AIDS. Tạo thuận lợi để tiếp cận các chương trình dự phòng Chương trình PHCNDVCĐ có thể tập hợp thông tin về các chương trình dự phòng hiện có ở cộng đồng và làm việc với các chương trình đó để đưa NKT cùng tham gia nhằm làm tăng độ bao phủ của chương trình. Chương trình PHCNDVCĐ có thể: • Đảm bảo NKT và gia đình nhận thức được các hoạt động dự phòng tại cộng đồng; • Đảm bảo nhân viên y tế nhận thức được nhu cầu của NKT; • Đảm bảo thông tin về các hoạt động dự phòng luôn sẵn sàng và ghi lại ở định dạng phù hợp và lưu giữ ở nơi thuận tiện, gần khu vực sinh sống; • Quyết định xem thực hiện các hoạt động dự phòng ở đâu thì NKT dễ tiếp cận nhất. Nếu không thì tư vấn, đưa ra lời khuyên và giải pháp để NKT dễ tiếp cận được. • Quyết định xem các dịch vụ dự phòng có thể được triển khai ở các địa điểm khác không ví dụ, trong môi trường nhà, khi điều kiện tiếp cận khó khăn. HỘP 11 Một trung tâm sức khỏe điều hành bởi một tổ chức phi chính phủ ở khu vực Korogocho của Nairobi, Kê-ni-a, không có đường tiếp cận cho xe lăn vì có một số bậc thang. Kết quả là, chương trình tiên chủng không tiếp cận được với những người bị khuyết tật vận động, ví dụ như trẻ bại não, vì thế cán bộ y tế đã chỉ cho các gia đình đến trung tâm phục hồi chức năng ở trung tâm thành phố. Chương trình PHCNDVCĐ đã tổ chức một cuộc họp để bàn luận về vấn đề này với các cán bộ y tế, và một giải pháp đơn giản đã được tìm ra, theo đó trẻ em khuyết tật sẽ được tiêm vắc xin ở tầng trệt của tòa nhà. Đáp ứng nhu cầu của người dùng xe lăn Kê-ni-a Thúc đẩy hành vi và lối sống lành mạnh Những hành vi lành mạnh, như không hút thuốc, uống ít đồ uống chứa cồn, ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và sử dụng bao cao su khi quan hệ, có thể giảm nguy cơ những vấn đề về sức khỏe. Các chương trình dự phòng thường sử dụng các chiến lược thúc đẩy sức khỏe để khuyến khích những hành vi lành mạnh, ví dụ như các chiến dịch nâng cao nhận thức để truyền tải các thông điệp phòng chống trong cộng động và giáo dục cho các cá nhân. Xem thêm phần nâng cao sức khỏe để biết thêm các gợi ý về hoạt động thúc đẩy những hành vi sức khỏe tốt.
29. 28 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ Khuyến khích tiêm chủng Trong mỗi cộng đồng, các chương trình tiêm chủng nên có sẵn cho các bệnh cụ thể và cho các nhóm có nguy cơ cao, ví dụ như vắc xin bệnh bại liệt, bạch hầu, uốn ván và sởi cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai . Chương trình PHCNDVCĐ có thể: • tham gia tích cực vào các chiến dịch nâng cao nhận thức để thúc đẩy tiêm chủng cho tất cả các thành viên cộng đồng, bao gồm cả người khuyết tật; • liên lạc với nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu để giáo dục họ về tầm quan trọng của tiêm chủng với người khuyết tật, đặc biệt là trẻ em khuyết tật, mặc dù trẻ đang có khuyết tật vẫn cần tiêm chủng; • làm việc với nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu để đảm bảo người khuyết tật và gia đình họ tiếp cận được với chương trình tiêm chủng ở cộng đồng; • đảmbảorằngnhữngngườiđangnhậnsựhỗtrợvàtrợgiúptừchươngtrìnhPHCNDVCĐ đã được tiêm chủng đầy đủ như khuyến nghị, ví dụ như trẻ khuyết tật, anh chị em của trẻ, phụ nữ đang mang thai trẻ khuyết tật; • cung cấp thông tin về địa chỉ của dịch vụ an toàn và đáng tin cậy cho những người chưa được tiêm chủng theo khuyến nghị, và hỗ trợ họ tiếp cận được những dịch vụ này nếu cần thiết; • làm việc với nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu để có sự bố trí thay thế cho những người không thể tiếp cận được với chương trình tiêm chủng, ví dụ trẻ em khuyết tật không đến trường. HỘP 12 Chương trình PHCNDVCĐ quốc gia ở Malaysia làm việc rất chặt chẽ với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận được với những hoạt động tiến hành bởi nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm tiêm chủng rubella cho các bà mẹ trẻ và chương trình tiêm chủng cho trẻ em. Chăm sóc cho trẻ em Malaysia Đảm bảo dinh dưỡng hợp lý Thiếu dinh dưỡng (suy dinh dưỡng) thường do không được ăn uống đẩy đủ và thói quen ăn uống không tốt, và là một nguyên nhân chính của các vấn đề về sức khỏe. Đảm bảo thức ăn và dinh dưỡng đầy đủ trong cộng đồng là trách nhiệm của nhiều thành phần phát triển mà chương trình PHCNDVCĐ cần cộng tác. Liên quan đến lĩnh vực y tế, một vài hoạt động gợi ý cho các chương trình PHCNDVCĐ bao gồm: • đảm bảo nhân viên PHCNDVCĐ có thể nhận ra được người (khuyết tật và không khuyết tật) với những dấu hiệu suy dinh dưỡng và cung cấp thông tin cho cán bộ y tế để đánh giá và quản lý thích hợp; • khuyến khích sử dụng thực phẩm giàu sắt và vitamin có sẵn ở địa phương, ví dụ như rau muống, ngũ cốc nguyên hạt, quả đu đủ với chi phí thấp là một các để khuyến khích mọi người sử dụng thực phẩm giàu dinh dưỡng;
30. Dự phòng 29 • đảm bảo rằng trẻ khuyết tật có đủ thức ăn phù hợp – trẻ khuyết tật thường bị bỏ quên, đặc biệt là các em có vấn đề về tiêu hóa; • xác định người khuyết tật có khó khăn với việc ăn uống, ví dụ như trẻ bại não có vấn đề về nhai và nuốt, giới thiệu chuyên gia trị liệu ngôn ngữ nếu có thể; • đưa ra các gợi ý đơn giản cho các gia đình về cách hỗ trợ người khuyết tật ăn và uống, ví dụ như vị trí thích hợp để cho ăn dễ và an toàn hơn; • xác định các sáng kiến dinh dưỡng có sẵn trong cộng đồng và đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tiếp cận được, ví dụ như đảm bảo trẻ khuyết tật được đưa vào các chương trình giám sát sự tăng trưởng và cung cấp các vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung; • thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ và khuyến khích phụ nữ mang thai tham gia vào chăm sóc thai sản để được bổ sung sắt và axit folic (xem thêm phần Tạo điều kiện để chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, dưới đây). HỘP 13 Quĩ Sanjivini ở Bangalore, Ấn Độ, đã làm việc với bà mẹ và trẻ em được hơn một thập kỉ. Một trong những biện pháp can thiệp chính của quĩ là giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ dưới năm tuổi. Cho rằng trong nhiều trẻ em thuộc các gia đình nghèo, suy dinh dưỡng xảy ra trong quá trình chuyển đổi từ sữa mẹ sang thức ăn mềm và sang thức ăn đặc, do không có sẵn thức ăn phù hợp, quĩ đã cung cấp một loại thực phẩm chức năng – bột giàu năng lượng và protein – cho tất cả trẻ em bị suy dinh dưỡng mỗi tháng một lần. Các tình nguyện viên được đào tạo để chuẩn bị và phân phối bột cho trẻ em nghèo sau khi xác định chúng. Bà mẹ được giáo dục dinh dưỡng và hướng dẫn chuẩn bị bữa ăn dinh dưỡng chi phí thấp sử dụng ngũ cốc và rau có sẵn tại địa phương. Sanjivini cũng hợp tác với các tổ chức khác hỗ trợ phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật, bằng cách cung cấp cho các em thực phẩm chức năng. Trẻ em với những nhu cầu đặc biệt, ví dụ như những em có vấn đề ăn uống, đã dùng thực phẩm chức năng thường xuyên và được hưởng lợi ích to lớn từ đó . Afreen 9 tuổi và bị bại não. Cô sống với bố mẹ và 2 chị gái ở khu ổ chuột Illyasnagas, Bangalore. Bố mẹ cô bé làm việc với mức lương hàng ngày là Rs70 trong một nhà máy địa phương. Gia đình cô bé nhập cư đến Bangalore khi Afreen mới 6 tuổi. Vì một biến chứng trong khi sinh, Afreen bị bại não. Cô bé được cho ăn bằng thức ăn lỏng, và kết quả là đã bị suy dinh dưỡng và nằm liệt giường, kém phát triển và bị tiêu chảy thường xuyên và co giật. Nhân viên PHCNDVCĐ đã không thể cung cấp cho Afreen bất kỳ hình thức điều trị nào do tình trạng của cô, vì vậy em đã được bổ sung dinh dưỡng và trong khoảng thời gian một năm Afreen dần dần được cải thiện sức khỏe và phát triển. Giờ đây, Afreen đến trung tâm huấn luyện điều trị và kích thích, gia đình cô bé rất vui mừng trước những thay đổi về sức khỏe và mẹ Afreen cũng đã có khả năng để thử những loại thức ăn khác cho cô bé. Có sức khỏe nhờ dinh dưỡng Ấn Độ
31. 30 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ Tạo điều kiện tiếp cận chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em Chăm sóc tiền sản, chăm sóc đặc biệt trong khi sinh và chăm sóc sau sinh sẽ làm giảm nguycơcóthểdẫnđếnkhuyếttậtcủacácbàmẹvàtrẻsơsinh.ChươngtrìnhPHCNDVCĐ có thể thực hiện các hoạt động sau: • xác định dịch vụ sức khỏe sinh sản có sẵn trong cộng đồng, ví dụ như chăm sóc khi mang thai; • cung cấp cho tất cả các phụ nữ với thông tin về dịch vụ sức khỏe sinh sản và khuyến khích họ tiếp cận; • cung cấp hỗ trợ thêm cho phụ nữ khuyết tật khi tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản có thể khó khăn, ví dụ cung cấp luật sư khi sự phân biệt đối xử tồn tại trong hệ thống chăm sóc sức khỏe; • giới thiệu phụ nữ và gia đình của họ với tư vấn gen khi họ có câu hỏi cụ thể hay mối quan ngại liên quan đến việc mang thai hiện tại và trong tương lai, ví dụ một cặp vợ chồng đã có một đứa con khuyết tật có thể hỏi liệu con tiếp theo của họ có bị giống như thế không; • khuyến cáo các dịch vụ sức khỏe về vấn đề tiếp cận cho phụ nữ khuyết tật mang thai, ví dụ cung cấp gợi ý về phương pháp giao tiếp phù hợp và cách làm cho bệnh viện/ phòng hộ sinh dễ tiếp cận; • tìm hiểu về những chương trình đào tạo cho các bà đỡ trong cộng đồng địa phương và đảm bảo rằng những chương trình này bao gồm thông tin về khuyết tật và phát hiện sớm khiếm khuyết; • khuyến khích gia đình đăng kí cho trẻ khuyết tật với chính quyền địa phương ngay sau khi sinh HỘP 14 Trong một vài ngôi làng ở Tây Bắc Mông Cổ, rất nhiều phụ nữ bị trệch khớp háng. Khi những người phụ nữ này mang thai, họ thấy rằng việc tăng cân tăng áp lực vào hông của họ, làm cho tình trạng khuyết tật trở nên xấu đi. Chương trình PHCNDVCĐ quốc gia ở Mông Cổ làm việc với những người phụ nữ này, tư vấn về khoảng thời gian dự kiến giữa mang thai và nghỉ ngơi đầy đủ trong giai đoạn cuối của thai kì. Giảm stress ở phụ nữ có thai Mông Cổ Thúc đẩy nước sạch và vệ sinh Nước và vệ sinh đóng góp vào việc cải thiện sống khỏe và giảm thiểu khuyết tật. Chương trình PHCNDVCĐ giúp đảm bảo nhu cầu của người khuyết tật được cân nhắc bằng cách: • nói chuyện với người khuyết tật và gia đình của họ về những rào cản họ gặp phải khi tiếp cận và sử dụng nước và các thiết bị vệ sinh, ví dụ như người khuyết tật có thể
32. Dự phòng 31 không tiếp cận được với nguồn nước vì họ sống quá xa, địa hình quá trắc trở và phương pháp lấy nước từ giếng quá khó khăn; • giúp các nhà chức trách địa phương và các tổ chức nước và vệ sinh nhận thức được những rào cản này và cung cấp gợi ý và ý tưởng để vượt qua những rào cản này cùng với những người khuyết tật và gia đình của họ; • vận động hành lang và làm việc với chính quyền địa phương để thích nghi với cơ sở vật chất hiện có và / hoặc xây dựng cơ sở mới, ví dụ như cài đặt bàn cầu với chỗ ngồi được nâng lên và tay vịn để cung cấp hỗ trợ cho những người không thể sử dụng một nhà vệ sinh xổm; • khuyến khích các thành viên cộng đồng giúp đỡ và hỗ trợ người khuyết tật khi cần thiết, ví dụ như khuyến khích láng giềng để đi cùng với một người bị khuyết tật khi đi lấy nước. Giúp đỡ phòng chống chấn thương Rất nhiều trường hợp khuyết tật là do tai nạn tại nhà hoặc nơi làm việc hoặc trong cộng đồng. Người lớn và trẻ em khuyết tật thường có nguy cơ chấn thương cao. Chương trình PHCNDVCĐ có thể đóng góp vào việc phòng chống chấn thương trong cộng đồng của họ bằng cách: • xác định nguyên nhân chủ yếu gây chấn thương tại nhà và cộng đồng (ví dụ: bỏng, chết đuối, tai nạn giao thong) và xác định nhóm nguy cơ cao (ví dụ: trẻ em); • tăng cường nhận thức trong cộng đồng về nguyên nhân thường thấy của chấn thương và cách phòng chống chúng; có thể bao gồm một chiến dịch nâng cao sức khỏe (xem Tác nhân tăng cường sức khỏe); • làm việc với chính quyền địa phương và các nhóm cộng đồng về những biện pháp giảm thiểu chấn thương ở nhà và trong cộng đồng, ví dụ: phòng tránh chấn thương trong các lễ hội lớn; • cung cấp gợi ý cho các gia đình về cách phòng chống chấn thương tại nhà, ví dụ: trông trẻ em khi chúng gần nước hay lửa, giữ các chất độc hại được khóa cẩn thận và xa tầm với của trẻ, giữ cho trẻ không lại gần ban công, mái nhà và cầu thang, và không cho trẻ chơi với vật sắc nhọn; • giáo dục cho công nhân và chủ lao động về cách phòng tránh chấn thương ở nơi làm việc, ví dụ: sử dụng thiết bị bảo hộ lao động khi ở công trường xây dựng (giày, mũ bảo hiểm, găng tai, nút bịt tai); • giáo dục học sinh về an toàn đường bộ, ví dụ: cách sang đường an toàn, mang dây bảo hiểm khi đi ô tô, đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp hoặc xe máy. Giúp ngăn chặn các tình trạng khuyết tật thứ cấp Người khuyết tật ở mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc các tình trạng bệnh, tật thứ cấp. Chương trình PHCNDVCĐ có thể thúc đẩy dự phòng để giảm khả năng người khuyết tật sẽ phát triển những tình trạng khuyết tật thứ cấp đó. Chương trình PHCNDVCĐ nên: • đảm bảo người khuyết tật và gia đình họ có nhận thức và kiến thức về những bệnh thứ cấp có liên quan đến loại khuyết tật của họ, ví dụ: những người bị tổn thương tủy sống hay tật nứt đốt sống (và gia đình) nên biết rằng họ có nguy cơ cao phát triển bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu; • hỗ trợ người khuyết tật và gia đình họ tìm ra cách thức để phòng chống sự phát triển của các chứng bệnh thứ cấp, ví dụ: điều chỉnh hành vi lối sống lành mạnh hơn, như
33. 32 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ là tập thể dục, chế độ dinh dưỡng hợp lý, kiểm tra sức khỏe thường xuyên, duy trì vệ sinh và tham gia các nhóm tự lực; • đảm bảo các thiết bị hỗ trợ được cung cấp cho người khuyết tật không gây ra nguy cơ về bệnh thứ cấp, ví dụ bộ phận giả phù hợp và vừa khít sẽ không gây ra các vết thương có thể dẫn đến loét do đè ép.
34. Chăm sóc y tế 33 Chăm sóc y tế Lời nói đầu Chăm sóc y tế có thể được định nghĩa là việc xác định, đánh giá và điều trị tình trạng sức khỏe và / hoặc suy yếu. Chăm sóc y tế có thể: cung cấp một phương pháp chữa bệnh, ví dụ điều trị bệnh phong hoặc sốt rét, giảm tác động, ví dụ như điều trị động kinh, ngăn chặn suy giảm thể tránh được, ví dụ như điều trị bệnh tiểu đường để ngăn ngừa mù lòa. Tiếp cận chăm sóc y tế chất lượng, khi cần và thường xuyên theo mức độ cần thiết, là rất quan trọng cho việc duy trì sức khỏe tốt và hoạt động(30), đặc biệt đối với người khuyết tật có tình trạng sức khỏe không tốt. Trong Lời nói đầu, chúng tôi dựa vào Công ước về Quyền của Người khuyết tật, Điều 25, và các biện pháp quốc gia thành viên được yêu cầu phải thực hiện liên quan đến dịch vụ y tế cho người khuyết tật, bao gồm: cung cấp cho họ với cùng một phạm vi, chất lượng và tiêu chuẩn các chương trình chăm sóc sức khỏe miễn phí hoặc giá cả phải chăng như cung cấp cho mọi người, cung cấp các dịch vụ y tế cần thiết cho người khuyết tật đặc biệt vì khuyết tật của họ, bao gồm xác định sớm và can thiệp thích hợp và cung cấp dịch vụ càng gần với cộng đồng càng tốt (2) Các quy tắc tiêu chuẩn về Bình đẳng hóa Cơ hội cho người khuyết tật (23) cũng phác thảo một danh sách các trách nhiệm cho các Quốc gia liên quan đến chăm sóc y tế và nhấn mạnh chăm sóc y tế như một điều kiện tiên quyết để tham gia bình đẳng trong tất cả các hoạt động của cuộc sống. Với sự hướng dẫn của Công ước và quy chuẩn, nhân viên PHCNDVCĐ có thể làm việc trong các cộng đồng của họ để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận chăm sóc y tế toàn diện, phù hợp và kịp thời.
35. 34 HƯỚNG DẪN PHCNDVCĐ > 2: HỢP PHẦN Y TẾ HỘP 15 Irene và Mohammed sống ở Cộng hòa Tanzania. Họ đã rất sung sướng khi Adnan được sinh ra, vì họ đã có một cô con gái 6 tuổi và đã mong chờ một thời gian dài để có đứa con thứ hai. Khi Adnan được khoảng 2 tháng tuổi, họ để ý thấy đầu cậu bé ngày càng nhỏ đi. Irene và Mohammed đưa Adnan đến bệnh viện địa phương để được chăm sóc y tế. Cậu bé được chụp X-quang và các bác sĩ nói với Irene vad Mohammed rằng mọi chuyện đều ổn. Họ nói rằng sự phát triển của cậu bé bị chậm lại một chút, và tốt nhất Irene và Mohammed nên về nhà và không phải lo lắng gì cả. Khi Adnan lớn hơn, cậu bé không thể làm được những điều đơn giản hay nghe theo những hưỡng dẫn cơ bản mà một đứa trẻ bằng tuổi cậu có thể làm được dễ dàng, hành vi của cậu cũng ngày càng trở nên khó khăn. Cậu bé cũng thường xuyên bị co giật. Irene giải thích: “Thằng bé không bao giờ nói hoặc gây ra nhiều âm thanh vì vậy tôi không bao giờ nghĩ rằng nó hiểu rõ bất cứ điều gì và tôi đã không thực sự nói chuyện với nó. Điểm quan trọng là gì? Nhưng hành vi của nó ngày càng tệ hơn. “ Adnan chỉ bắt đầu đi khi đã 4 tuổi và khi cậu bé đang chơi ở trên đường, một người qua đường nhận ra cậu bé bị khuyết tật trí tuệ, nói với Irene và Mohammed về chương trình PHCNDVCĐ địa phương được điều hành bởi một tổ chức phi chính phủ tên là Phục hồi chức năng toàn diện dựa vào cộng đồng ở Tanzania (CPHCNDVCĐT). Bố mẹ của Adnan liên lạc với CPHCNDVCĐT để xin trợ giúp và lời khuyên. Mama Kitenge, một nhân viên PHCNDVCĐ, bắt đầu đến thăm nhà họ thường xuyên, cung cấp giáo dục và trị liệu. Cô cũng giúp gia đình tiếp cận chăm sóc y tế để chăm sóc chứng co giật của Adnan. Kết quả là giờ đây Adnan dùng thuốc thường xuyên để kiểm soát bệnh động kinh của mình. Irene nói rằng “Trước khi tôi tham gia chương trình, Adnan không thể tự làm gì. Thằng bé không thể tự ăn, mặc quần áo hay rửa tay. Thằng bé đã không hề ổn định, hạnh phúc. Nó chỉ đi vòng quanh cả ngày và thường xuyên bị lạc. Tôi đã không biết phải làm gì với nó… Khóa đào tạo đã rất có ích, đặc biệt là những chỉ dẫn. Giờ đây tôi có thể nói chuyện với Adnan thường xuyên và thằng bé hiểu những gì tôi nói. Tôi đã chỉ cho nó đường về nhà từ điểm lấy nước, luôn chỉ cho nó những thứ giống nhau để làm mốc, giờ thằng bé biết đường về nhà nếu bị lạc. Thằng bé uống thuốc thường xuyên và không lên cơn co giật nữa. Đây là một sự thay đổi kì diệu” Sự thay đổi lớn của Adnan Tanzania

Bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE


  • error: