Chủ Nhật , 24 Tháng Mười 2021
Trang chủ Chuyên ngành Răng Hàm Mặt Sử dụng X-quang an toàn trong nha khoa

Sử dụng X-quang an toàn trong nha khoa

Bài viết thứ 30 trong 30 bài thuộc chủ đề Sức khỏe răng miệng
 

Nha sĩ sử dụng phim X-quang để chẩn đoán tổn thương và bệnh lý không thể nhìn thấy được trong quá trình thăm khám lâm sàng. Tần suất chụp X-quang phụ thuộc vào các yếu tố cụ thể như sức khỏe răng miệng, tuổi tác, nguy cơ mắc bệnh của bệnh nhân và bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào về bệnh răng miệng. Điều này có nghĩa là không có “một khuyến nghị chung” nào về quy định khoảng thời gian giữa các lần chụp X-quang trong nha khoa. Các nha sĩ tuân thủ nguyên tắc “ALARA”, một cụm từ do Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ đặt ra vào năm 1973, được hiểu làsử dụng liều bức xạ thấp nhất mà vẫn đạt được hiệu quả điều trị.

Theo nguyên tắc ALARA, nha sĩ thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giúp đảm bảo rằng:

  • Tất cả các phơi nhiễm tia X đều được chứng minh là có liên quan đến lợi ích của chúng
  • Phơi nhiễm cần thiết được giữ ở mức hợp lý có thể đạt được (tức là ALARA)
  • Liều mà bệnh nhân và nhân viên tiếp nhận được giữ ở mức thấp hơn giới hạn cho phép

ADA khuyến khích các nha sĩ và bệnh nhân thảo luận về các kế hoạch điều trị, bao gồm cả nhu cầu chụp X-quang, để cùng nhau đưa ra quyết định.

Hướng dẫn của ADA/FDA về lựa chọn bệnh nhân chụp phim X-quang 

ADA và FDA (Cục quản lý Thực phẩm – Dược phẩm Hoa Kỳ) đã khuyến nghị sử dụng phim X quang nha khoa trong hỗ trợ chẩn đoán và cách sử dụng phim X-quang hiệu quả. Phim X quang có thể giúp nha sĩ đánh giá, chẩn đoán xác định tình trạng răng miệng và các bệnh lý khác. Tuy nhiên, nha sĩ cần phải cân nhắc giữa lợi ích của chụp phim X quang với nguy cơ nhiễm xạ sau nhiều lần tiếp xúc với tia X được tích lũy dần theo thời gian đối với bệnh nhân. Nha sĩ-người hiểu rõ nhất về tiền sử bệnh và các yếu tố nguy cơ đối với tình trạng răng miệng của bệnh nhân, là người phải đưa ra lựa chọn chính xác nhất. Do đó, các khuyến nghị này xem như là tài liệu tham khảo đối với những người hành nghề, không nhằm mục đích trở thành tiêu chuẩn trong chăm sóc, cũng như yêu cầu hay quy định bắt buộc. 

Công nghệ X-quang trong nha khoa

Kỷ nguyên kỹ thuật số của X quang trong nha khoa bắt đầu từ 1988 với RVG-radio/visio/graphy. Phim cảm biến đầu tiên được giới thiệu vào năm 1994. Ngoài việc giảm độ phơi nhiễm, phim kỹ thuật số còn cho phép truyền qua các thiết bị điện tử tăng tính di động và giảm vấn đề về môi trường như bạc và các chất hóa học dùng trong rửa phim. Một trong những vấn đề của phim kỹ thuật số là giảm độ nhiễu của ảnh, người chụp phim có thể vì điều này mà tăng lượng tia. Để ngăn tình trang tăng tia quá nhiều các nhà sản xuất chế tạo các công cụ và thiết bị để tăng độ nhạy của phim thay vì tăng lượng tia. 

Chụp cắt lớp vi tính hình nón (CBCT), được giới thiệu tại Hoa Kỳ vào năm 2001, tạo ra hình ảnh 3 chiều của các cấu trúc hàm mặt, sử dụng trong phẫu thuật, chỉnh nha và nội nha. Máy quét quay quanh đầu bệnh nhân tạo tối đa 600 ảnh, lắp ráp hoặc tái tạo lại bằng các phần mềm quét. Mã hóa các hình ảnh 2-D, CBCT tạo ra hình ảnh 3D hình xoắn ốc. Một hạn chế của CBCT là mức độ phơi nhiễm khi chụp. CBCT đóng vai trò chính trong chẩn đoán hình ảnh tuy nhiên các ấn phẩm gần đây bày tỏ mối quan ngại về sự an toàn của thủ thuật này ở trẻ em. Một tuyên bố năm 2012 của ADA có nêu rõ: – “Cũng như các phương pháp chụp ảnh X quang khác, chỉ định CBCT chỉ nên sử dụng sau khi xem xét bệnh sử và hình ảnh cận lâm sàng trước đó và sau khi thăm khám kỹ lưỡng”. Khuyến nghị từ các cơ quan quản lý như FDA cung cấp hướng dẫn về các chiến lược để tối đa hóa tính an toàn và hiệu quả.

Các thiết bị cầm tay, tạo điều kiện lấy hình ảnh cần thiết khi bệnh nhân đã được gây mê hoặc gây tê, được FDA chấp thuận vào tháng 7 năm 2005. FDA khuyên các nha sĩ sử dụng các thiết bị hợp pháp được bán trên thị trường, và kiểm tra nhãn mác phù hợp để xác định đúng theo chỉ định. Nghiên cứu các sản phẩm cầm tay trên thị trường cho thấy độ phơi nhiễm của các thiết bị này trong khoảng an toàn và trên thực tế là ít hơn các thiết bị cố định (0.28 mSv so với 7.86 mSv). Qua đó kết luận không cần che chắn thêm khi sử dụng các thiết bị này.

Phơi nhiễm bức xạ trong nha khoa

Liều xạ được hiểu là liều ảnh hưởng, thuật ngữ áp dụng cho tổng số liều đối với mô nhạy cảm bức xạ. Số liệu này lấy được từ các tính toán. Đơn vị đo lường của liều ảnh hưởng được Ủy ban Quốc tế về An toàn bức xạ đưa ra vào năm 1990 và phương pháp tính được cập nhật vào năm 2007. Liều ảnh hưởng sử dụng trong chụp phim X quang nha khoa được tổng hợp trong bảng sau.

Bảng 1. Liều ảnh hưởng trong chụp phim X quang nha khoa

Phân loại Liều ảnh hưởng (người lớn) tính bằng Millisievert (mSv) Liều ảnh hưởng (người lớn) tính bằng Microsieverts (µSv)
Phim chụp trong miệng (18 phim)
Phim PSP hoặc phim 

F-speed, chuẩn trực chữ nhật

0.035 mSv 34.9 µSv
Phim PSP hoặc phim 

F-speed, chuẩn trực tròn

0.171 mSv 170.7 µSv
Phim cắn cánh (4 phim) với phim PSP hoặc F-Speed và chuẩn trực chữ nhật 0.005 mSv 5.0 µSv
Cone-Beam CT
CBCT cho xương ổ khổ nhỏ, trung bình 0.011-0.674 mSv 11-674 µSv
CBCT cho hàm mặt khổ 

lớn

030-1.073 mSv 30-1073 µSv

Chú thích: CBCT: cone-beam CT; PSP: phim phosphor.

Bức xạ nha khoa trong bối cảnh hiện nay

Phơi nhiễm bức xạ trong nha khoa thể hiện một phần nhỏ trong tổng số phơi nhiễm từ tất cả các nguồn khác. Hội đồng Quốc gia về đo lường và an toàn Bức xạ (NCRP) đã ước tính rằng lượng bức xạ ảnh hưởng trung bình từ tất cả các nguồn ở Hoa Kỳ là 6,2 millisievert(mSv) mỗi năm, với khoảng một nửa lượng này (3,1 mSv) từ các nguồn tự nhiên (ví dụ: soil, radon, …) và khoảng 3,1 mSv từ các nguồn nhân tạo.3 Khoảng một nửa mức phơi nhiễm bức xạ do con người gây ra có liên quan đến chụp cắt lớp vi tính (CT). X quang nha khoa chiếm khoảng 2,5% lượng tia từ máy chụp X-quang y tế và soi huỳnh quang (Bảng 2).

Bảng 2: Mức độ phơi nhiễm từ các quy trình kiểm tra y tế

Phân loại Liều ảnh hưởng trung bình (Người lớn) tính bằng Millisievert (mSv) Liều ảnh hưởng tương đương (Người lớn) tính bằng Microsieverts (µSv)
Chụp X-quang trong miệng 0.005 mSv 5.0 µSv
Chụp X-quang toàn cảnh nha khoa 0.01 mSv 12 mSv
Chụp X-quang ngực 0.1 mSv 100 µSv
Chụp cắt lớp vi tính nha khoa 0.2 mSv 200 µSv
Chụp nhũ ảnh 0.4 mSv 400 µSv
Chụp X-quang đường tiêu hóa trên (bao gồm cả soi huỳnh quang) 6.0 mSv 6,000 µSv
Chụp cắt lớp mạch vành 12 mSv 12,000 µSv

Chiến dịch Image Gently

ADA cùng với hơn 80 tổ chức chăm sóc sức khỏe khác đã xúc tiến “Image Gently”- một sáng kiến dùng để “trẻ em hóa” các nghiệm pháp có sử dụng X quang dành cho trẻ em trong y và nha khoa. Người chụp được khuyến khích nên:

  • Lựa chọn liều lượng tia X phù hợp cho mỗi bệnh nhân, không sử dụng cố định.
  • Sử dụng phim tốc độ cao nhất có thể.
  • Chỉ sử dụng CT khi thật sự cần thiết.
  • Chùm tia sử dụng phải chuẩn trực tới vùng cần chụp.
  • Luôn sử dụng vòng/tấm chắn tuyến giáp cho bệnh nhân.
  • “Trẻ em hóa” thời gian phơi nhiễm.

Tương tự “Image Gently”, “Image Wisely” là một chương trình nhằm giới hạn lượng tia X phơi nhiễm ở người lớn.

Yêu cầu về an toàn bức xạ

Các tiểu bang đã đưa ra các luật và quy định về những yêu cầu chuyên biệt đối với việc sử dụng bức xạ ion hóa, bao gồm cả tia X. Chương trình “An toàn bức xạ ở tiểu bang của bạn” đã đưa ra các yêu cầu cụ thể cho:

  • Kiểm định và thử nghiệm các máy móc, thiết bị đo bức xạ, thiết bị xử lý phim X quang 
  • Giấy phép
  • Người giám sát
  • Sử dụng nút chỉnh liều lượng
  • Đào tạo và bằng chứng nhận chuyên môn
  • Thiết kế phòng khám và đồ bảo hộ tia xạ
  • Lưu trữ hồ sơ
  • Thiết bị

Yêu cầu đào tạo về bức xạ đối với nhân viên tại phòng khám nha khoa thì có sự khác biệt và ít nghiêm ngặt hơn so với nhân viên trong y khoa. Những yêu cầu đào tạo nhân viên nha khoa thường được tìm thấy trong các phòng nha tại tiểu bang qua kinh nghiệm hành nghề hoặc trong các quy định của hội đồng nha khoa. Rủi ro nghề nghiệp về phơi nhiễm trong môi trường nha khoa thì thấp hơn so với trong bệnh viện và trong phòng khám y khoa. Theo NCRP, giới hạn của mức độ phơi nhiễm tia xạ không quá 50 mSv trong một năm, mặc dù giới hạn ảnh hưởng cho suốt đời là 10 mSv nhân với số tuổi. NCRP kết luận rằng phơi nhiễm nghề nghiệp đối với nhân viên nha khoa không nên vượt quá các giới hạn hạn này, ngoại trừ các vấn đề liên quan tới thiết kế thực tế, hiệu suất, vận hành các thiết bị bức xạ. Đối với các nhân viên nha khoa đang mang thai thì giới hạn phơi nhiễm tia xạ là 0.5 mSv/1 tháng (xem thêm ở phần sau).

Chụp X quang trong nha khoa với phụ nữ mang thai

ADA khuyến nghị sử dụng dụng cụ đo liều và biện pháp “Thực hành kiểm soát công việc” (OSHA,2019b) cho nhân viên nha khoa đang mang thai khi làm việc với tia X. Các nghiên cứu trên bệnh nhân mang thai tiếp nhận điều trị nha khoa đã xác nhận được sự an toàn của các phương pháp điều trị trong nha khoa. “-Ủy ban chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ không được cung ứng đầy đủ-” tái khẳng định quan điểm vào năm 2017: “Bệnh nhân thường cần sự cam kết rằng các can thiệp, chẩn đoán, điều trị răng miệng bao gồm các biện pháp liên quan đến tia X (có che chắn bụng và tuyến giáp) là an toàn trong quá trình mang thai.

Kết luận

Sử dụng phim X-quang trong thực hành RHM là cần thiết không những cho chẩn đoán bệnh lý mà còn đánh giá kết quả điều trị và theo dõi. Những loại phim X-quang trong RHM có liều ảnh hưởng vả tỷ lệ phơi nhiễm rất thấp so với các loại phim X-quang khác trên cơ thể. Chụp X-quang nha khoa cho phụ nữ mang thai khi có biện pháp che chắn là an toàn trong cả quá trình mang thai. Bác sĩ cũng cần chú ý chuyển chế độ “thiếu nhi” khi sử dụng X-quang trên trẻ em. Hơn hết, tất cả chỉ định chụp phim X-quang nha khoa cần tuân thủ quy tắc “sử dụng liều bức xạ thấp nhất nhưng vẫn đáp ứng điều trị”. 

Tài liệu tham khảo

  1. X-Rays/Radiographs (ada.org)
  2. The Health Physics Society (Occupational and Environmental Radiation Safety)
  3. U.S. Food and Drug Administration:
  4. Dental Radiography: Doses and Film Speed
  5. Dental Cone-beam Computed Tomography
  6. U.S. Centers for Disease Control and Prevention: Radiation and Pregnancy: A Fact Sheet for the Public
  7. http://www.deardoctor.com/images/blog/kids-xray-picture-300.jpg