Thứ Sáu , 20 Tháng Mười 2017
Trang chủ Tài liệu y học Tài liệu sưu tầm Tài liệu HealthLinkBC Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu [eBook]

Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu [eBook]

Bài viết thứ 39 trong 52 bài thuộc chủ đề Sách y khoa sưu tầm
 

Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu là gì?

Các lợi ích của thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu là gì?

Ai nên chủng ngừa bệnh thủy đậu?

Các phản ứng có thể có sau khi chích thuốc chủng ngừa là gì?

Ai không nên chích thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu?

Download tài liệu

https://www.slideshare.net/login?from_source=%2Fyhoccongdong%2Fthuoc-chung-ngua-thuy-dau%3Ffrom_action%3Dsave&from=download&layout=foundation

Bản sao tài liệu

Vietnamese – Number 44b March 2014 Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu Chickenpox (Varicella) Vaccine Việc chủng ngừa đã cứu thêm được nhiều mạng người tại Canada trong 50 năm vừa qua hơn bất cứ biện pháp y tế nào khác. Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu là gì? Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu bảo vệ chống lại việc nhiễm siêu vi trùng varicella-zoster, siêu vi trùng gây bệnh thủy đậu. Thuốc chủng chứa một dạng siêu vi trùng đã bị làm cho yếu đi để không gây bệnh. Thuốc chủng được chấp thuận bởi Bộ Y Tế Canada. Thuốc chủng ngừa MMRV được chích miễn phí như một phần của lịch trình chủng ngừa định kỳ cho con của quý vị. Hãy gọi cho chuyên viên chăm sóc cho con quý vị để làm hẹn. Ai nên chủng ngừa bệnh thủy đậu? Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu được chích cho trẻ em một loạt 2 liều. Liều thứ nhất được chích lúc 12 tháng tuổi; liều thứ nhì được chích lúc từ 4 đến 6 tuổi. Với các trẻ em cũng cần được bảo vệ chống lại bệnh sởi, bệnh quai bị hoặc sởi Đức, liều thứ nhì có thể được chích kết hợp cùng với thuốc chủng ngừa bệnh sởi, quai bị, sởi Đức và thủy đậu (MMRV). Để biết thêm thông tin về thuốc chủng MMRV, xin xem HealthLinkBC File #14e Thuốc Chủng Ngừa Bệnh Sởi, Quai Bị, Sởi Đức và Thủy Đậu (MMRV). Thuốc chủng được chích cùng lúc với các sự chủng ngừa ở tuổi thơ. Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu cũng được chích cho các học sinh lớp 6 nào chưa chích đủ 2 liều thuốc chủng. Hầu hết học sinh lớp 6 sẽ được chích 1 liều thuốc chủng bệnh thủy đậu vào ngày hoặc không lâu sau ngày sinh nhật đầu tiên của mình và sẽ chỉ cần chích thêm 1 liều thuốc chủng nữa. Các học sinh lớp 6 nào chưa hề được chủng ngừa bệnh này sẽ được chích 2 liều, mỗi liều cách nhau 3 tháng. Thuốc chủng cũng có sẵn để chích một loạt 2 liều cho những người 13 tuổi hoặc hơn 13 tuổi chưa được chủng ngừa hoặckhông có bằng chứng cho thấyđược miễn dịch với bệnh thủy đậu. Liều thứ nhì được chích 6 tuần sau liều thứ nhất. Những người đã bị bệnh thủy đậu trước sinh nhật 1 tuổi, vẫn nên chích ngừa vì cơ thể của họ có thể không tạo được sự miễn dịch kéo dài và có thể bị bệnh thủy đậu trở lại. Tuy nhiên, không cần thiết phải chủng ngừa cho những người đã bị bệnh thủy đậu hoặc bệnh Zona (shingles) lúc 1 tuổi hoặc trên 1 tuổi. Điều quan trọng phải giữ hồ sơ của tất cả các sự chủng ngừa trong quá khứ. Các lợi ích của thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu là gì? Thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu là cách tốt nhất để bảo vệ chống lại bệnh thủy đậu và các biến chứng của bệnh. Khoảng 3 trong số 20 trẻ em có thể bị bệnh thủy đậu ngay cả sau khi đã chủng ngừa. Bệnh này thường nhẹ hơn nhiều so với nếu như các em chưa được chủng ngừa. Khi quý vị cho con mình chủng ngừa, quý vị cũng giúp bảo vệ những người khác nữa. Các phản ứng có thể có sau khi chích thuốc chủng ngừa là gì? Các thuốc chủng rất an toàn. Chích ngừa thì an toàn hơn là để mắc phải bệnh thủy đậu. Các phản ứng thông thường đối với thuốc chủng có thể bao gồm đau nhức, bị đỏ và sưng ở nơi được chích thuốc. Sốt nhẹ và nổi sải trông giống như bị thủy đậu nhưng ít các mẩn đỏ hơn, có thể xảy ra khoảng 2 tuần sau khi chích ngừa. Rất hiếm khi, một người bị nổi sải sau khi được chủng ngừa có thể truyền lây siêu vi trùng từ thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu sang cho những người khác. Để ngăn ngừa sự tuyền lây siêu vi trùng cho những người khác, nên che các mẩn đỏ lại cho đến khi các mụn giộp (blisters) đã khô mặt và đóng vảy. Giữ an toàn cho con quý vị. Chủng ngừa đầy đủ đúng thời hạn. Khi chủng ngừa đầy đủ đúng thời hạn, con quý vị có thể được bảo vệ chống nhiều căn bệnh suốt đời. Thuốc chủng bệnh thủy đậu Tuổi của trẻ lúc chủng ngừa liều thứ nhất 12 tháng liều thứ nhì 4 đến 6 tuổi Có thể cho uống Acetaminophen hoặc Tylenol ® nếu bị sốt hoặc đau nhức. KHÔNG nên cho bất cứ người nào dưới 20 tuổi uống ASA hoặc Aspirin ® vì rủi ro bị Hội chứng Reye.

Muốn biết thêm chi tiết về Hội chứng Reye, xin xem HealthLinkBC File #84 Hội chứng Reye. Điều quan trọng là phải ở lại y viện trong 15 phút sau khi chích bất cứ loại thuốc chủng nào bởi vì có một rủi ro cực kỳ hiếm thấy của sốc phản vệ được gọi là phản ứng toàn thân ảnh hưởng tới hệ tuần hoàn (anaphylaxis) đe dọa đến tính mạng. Điều này có thể bao gồm nổi ban đỏ (hives), khó thở, hoặc sưng cổ họng, lưỡi hay môi. Nếu điều này xảy ra sau khi quý vị rời y viện, hãy gọi 9-1-1 hoặc số điện thoại cứu cấp tại địa phương. Phản ứng này có thể chữa trị, và xảy ra cho ít hơn 1 người trong số một triệu người được chủng ngừa. Điều quan trọng là phải luôn luôn báo cáo các phản ứng nghiêm trọng hoặc không ngờ trước cho chuyên viên chăm sóc sức khỏe của quý vị biết. Ai không nên chích thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu? Hãy hỏi chuyên viên chăm sóc sức khỏe nếu quý vị hoặc con quý vị: • đã bị một phản ứng đe dọa đến tính mạng với một liều thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu trước đây, hay với • thành phần nào của thuốc chủng kể cả chất kháng sinh neomycin hoặc chất cao gelatin; • có một hệ miễn dịch bị suy yếu vì bệnh tật hoặc do điều trị y khoa; • đã được truyền máu hoặc nhận các sản phẩm khác của máu trong vòng 12 tháng vừa qua; • bị bệnh lao đang hoạt động chưa được chữa trị; hoặc • đang mang thai hoặc dự định có thai. Phụ nữ nên tránh mang thai trong thời gian 1 tháng sau khi chích thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu. Không cần phải trì hoãn việc chủng ngừa do bị cảm lạnh hoặc bị bệnh nhẹ khác. Tuy nhiên, nếu quý vị có điều lo ngại, hãy hỏi chuyên viên chăm sóc sức khỏe cho quý vị. Bệnh thủy đậu là gì? Bệnh thủy đậu là một sự nhiễm trùng gây nên bởi siêu vi trùng varicella-zoster. Siêu vi trùng lây lan dễ dàng qua không khí khi một người có bệnh ho hoặc nhảy mũi. Quý vị có thể trở nên bị lây nhiễm khi quý vị hít thở không khí hoặc chạm tay vào các bề mặt bị nhiễm siêu vi trùng. Siêu vi trùng có thể lây lan qua sự tiếp xúc với nước miếng của người bị bệnh chẳng hạn như ăn chung, uống chung, hút thuốc lá chung hoặc khi hôn nhau. Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc với chất dịch từ các mụn giộp bệnh thủy đậu. Trẻ em bị bệnh thủy đậu trung bình có thể có 350 mụn giộp đỏ, ngứa. Bệnh ở trẻ sơ sinh, thanh thiếu niên, người trưởng thành, phụ nữ mang thai và những người có hệ miễn dịch suy yếu thì nghiêm trọng hơn. Các biến chứng của bệnh thủy đậu bao gồm viêm phổi (sưng phổi), viêm não (sưng não), và bị các sự nhiễm khuẩn ở da. Viêm não có thể đưa đến động kinh, bị điếc hoặc bại não. Khoảng 1 người trong số 3,000 người lớn sẽ chết vì bệnh. Nhiễm bệnh trong thời gian đầu mới mang thai có thể khiến em bé sinh ra với các khuyết tật. Tình trạng này được gọi là mắc hội chứng bệnh thủy đậu bẩm sinh (congenital varicella syndrome, viết tắt CVS). Tuy biến chứng này hiếm có, trẻ em mắc bệnh có thể sinh ra với số cân non, có sẹo ở da và bị các vấn đề về tay chân, mắt và não. Bệnh thủy đậu cũng có thể khiến sẩy thai hoặc sinh thai chết. Với một số người, siêu vi trùng có thể hoạt động trở lại sau này trong cuộc đời và gây nổi các mụn giộp đau đớn được gọi là bệnh Zona (shingles). Để biết thêm thông tin về bệnh thủy đậu hoặc bệnh viêm da, xin xem HealthLinkBC Files #44a Các Sự Kiện về Thủy Đậu hoặc HealthLinkBC File #111 Thuốc Chủng Ngừa Zona (Shingles). Ưng Thuận của Vị Thành Niên Chín Chắn Cha mẹ hoặc người giám hộ và các con nên nói chuyện với nhau về vấn đề chủng ngừa. Sẽ có nỗ lực xin phép cha mẹ/người giám hộ hoặc người đại diện ưng thuận trước khi chủng ngừa. Tuy nhiên, luật cho phép trẻ em dưới 19 tuổi hiểu được các lợi ích và các phản ứng có thể xảy ra của mỗi loại thuốc chủng và rủi ro khi không chủng ngừa thì có thể ưng thuận hoặc từ chối chủng ngừa. Muốn biết thêm chi tiết về chủng ngừa, xin viếng mạng ImmunizeBC at www.immunizebc.ca. Muốn biết thêm các đề tài của HealthLinkBC File, vào www.HealthLinkBC.ca/healthfiles hoặc đến phòng y tế công cộng tại địa phương quý vị. Bấm vào www.HealthLinkBC.ca hoặc gọi số 8-1-1 để biết chi tiết và các dịch vụ sức khỏe không cấp thiết tại B.C. Muốn tìm trợ giúp cho người điếc và khiếm thính, gọi số 7-1-1 tại B.C. Có dịch vụ dịch thuật với hơn 130 ngôn ngữ khi có yêu cầu của quý vị.

Bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE


  • error: