Thứ Tư , 21 Tháng Tám 2019
Trang chủ Chuyên mục Góc nhìn Từ tầm soát ung thư đại tràng nghĩ về PET-CT scan

Từ tầm soát ung thư đại tràng nghĩ về PET-CT scan

Bài viết thứ 19 trong 64 bài thuộc chủ đề Góc nhìn
 

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Nhật Bản. Trong số đó, ung thư đại tràng là phổ biến và gây nên tỉ lệ tử vong cao, chiếm hàng đầu ở nữ giới và hàng thứ ba ở nam giới.

Ung thư đại tràng trong giai đoạn sớm thường không có triệu chứng. Khi khối u đã phát triển lớn hơn, xâm lấn hoặc lan ra nơi khác (di căn) thì mới gây nên triệu chứng. Theo số liệu ở Nhật, ung thư phát hiện khi bệnh nhân đi khám vì các triệu chứng như đi cầu ra máu, táo bón,…thường đã ở giai đoạn muộn. Khi đó, việc điều trị vừa tốn kém mà khả năng chữa lành lại thấp và nhiều khi không giúp cải thiện đáng kể thời gian sống cũng như chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Để khắc phục tình trạng này, chính phủ Nhật Bản đã triển khai một số chính sách nhằm phát hiện và điều trị ung thư đại tràng ở giai đoạn sớm.

Tầm soát ung thư là việc thực hiện những khảo sát/xét nghiệm giúp tìm ra ung thư trước khi có triệu chứng. Hiện nay, trong tổng số bệnh nhân phát hiện ung thư đại tràng qua tầm soát ở Nhật Bản có tới hơn 90% đang ở giai đoạn không có triệu chứng, và 50% số đó có thể chữa lành hoàn toàn nhờ can thiệp sớm. Trước tình trạng nhiều gia đình phải phá sản vì điều trị ung thư, đây là con số có ý nghĩa vì việc tầm soát đã không chỉ giúp giảm tỉ lệ tử vong mà còn làm giảm gánh nặng liên quan tới chi phí y tế.

Tuy nhiên, không phải mọi phương pháp tầm soát đều tốt. Người ta thường đưa ra 7 điều kiện sau đây để đánh giá “độ tốt” của các phương pháp tầm soát ung thư.

1. Loại bệnh tầm soát: Thường là bệnh phổ biến và có tỉ lệ tử vong cao. Đối tượng đi tầm soát là những người khỏe mạnh nên xác suất để tìm thấy bất thường có thể nói là không cao. Vì thế, những loại ung thư “thích hợp” cho việc tầm soát là những loại có nhiều người mắc bệnh và tử vong như ung thư gan, vú, đại tràng, phổi, dạ dày, tử cung…Bệnh hiếm quá thì tầm soát cũng khó phát hiện, trong khi bệnh nhẹ thì việc phát hiện sớm không có nhiều ý nghĩa bằng.

2. Khả năng phổ biến: Dễ thực hiện, giá thành rẻ Vì tầm soát cần được thực hiện trên nhiều người, phương pháp xét nghiệm phức tạp mà chỉ một vài cơ sở y tế mới làm được sẽ không thích hợp. Cần chọn ra phương pháp mà nhiều nơi có thể đầu tư máy móc và nhân lực dễ dàng. Về giá cả, tầm soát thật ra là một sự đầu tư cho tương lai. Người ta chi tiền lặp lại xét nghiệm định kỳ để tránh việc tốn tiền điều trị ung thư giai đoạn muộn về sau. Vì vậy, giá thành xét nghiệm mắc quá thì đầu tư sẽ không hiệu quả; ít người “đầu tư” và kết cục là không thể phổ biến phương pháp giúp nhiều người tham gia tầm soát.

3. Độ chính xác: Không cần quá cao nhưng phải đủ cao Lưu ý rằng xét nghiệm tầm soát không phải là xét nghiệm để chẩn đoán ung thư. Khi phát hiện bất thường, bác sĩ sẽ đề nghị làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu (như sinh thiết) để xác minh chẩn đoán cuối cùng. Vì thế, nếu phương pháp tầm soát có tỉ lệ dương tính giả cao (báo có bất thường nhưng rốt cuộc chẳng phải ung thư) thì hay dẫn tới hao tổn tài chính, nguy cơ gặp biến chứng khi xét nghiệm thêm, gây lo lắng cho bệnh nhân và người thân. Ngược lại, nếu tỉ lệ âm tính giả cao (báo là bình thường mặc dù có ung thư!) thì có thể làm chậm trễ hay bỏ lỡ chẩn đoán và gián tiếp làm hại bệnh nhân. Xét nghiệm có cả hai tỉ lệ này thấp là tối ưu nhưng đa số không được như vậy. Trong tầm soát, vì nguy cơ bỏ lỡ chẩn đoán thường được xem là nghiêm trọng hơn nên người ta hay ưu tiên các phương pháp có tỉ lệ âm tính giả thấp.

4. Độ an toàn: Không quá nguy hiểm và được thực hiện an toàn Mỗi phương pháp xét nghiệm kèm theo nguy cơ gặp tác dụng phụ/biến chứng khác nhau. Vì việc tầm soát thường được thực hiện trên những người khỏe mạnh, sự an toàn phải được coi trọng để không làm hại người đi tầm soát. Xét nghiệm ít có nguy cơ biến chứng hơn cần được ưu tiên.

5. Khả năng điều trị sớm: Có phương pháp điều trị hiệu quả nhờ phát hiện sớm Tầm soát chỉ thật sự ý nghĩa nếu có phương pháp điều trị hiệu quả cho căn bệnh ở giai đoạn sớm. Ví dụ, khi phát hiện thấy tổn thương tiền ung thư (polyp), việc cắt bỏ hoàn toàn qua ống nội soi mềm (polypectomy) giúp bệnh nhân tránh một cuộc phẫu thuật lớn và không phải cắt một phần đại tràng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.

6. Ý nghĩa thực tế: Giúp làm giảm tỉ lệ tử vong Mục tiêu cuối cùng của tầm soát ung thư là làm giảm tỉ lệ tử vong. Nếu chỉ phát hiện nhiều ca bệnh hơn thôi thì mục tiêu nói trên vẫn chưa đạt tới. Hơn nữa, việc tầm soát cũng sẽ phát hiện ra những căn bệnh chẳng ảnh hưởng mấy tới tỉ lệ tử vong hay tiên lượng sống. Những phương pháp “vô thưởng vô phạt” như thế thì không có ý nghĩa. Chính vì vậy, phương pháp tầm soát cần phải được đánh giá và chứng minh bằng số liệu khoa học rằng nó có thể cải thiện tỉ lệ tử vong. Gần đây, trong chẩn đoán và điều trị ung thư, người ta còn chú trọng tới ý nghĩa cải thiện chất lượng cuộc sống.

7. Lợi ích tổng thể: Nhìn chung có lợi nhiều hơn có hại. Những điểm bất lợi do tầm soát cần cân nhắc bao gồm: 1) Nguy cơ gặp tác dụng phụ/biến chứng do tầm soát. 2) Khả năng kết quả tầm soát dẫn đến việc thực hiện tiếp các xét nghiệm và/hoặc điều trị không cần thiết, tức làm xét nghiệm/điều trị quá mức. 3) Ảnh hưởng lên tâm lý người đi tầm soát như lo lắng, ưu phiền… khi chờ đợi kết quả các xét nghiệm giúp xác nhận hoặc loại trừ nghi ngờ.

Trong thực hành y khoa, người ta thường đánh giá “lợi ích tổng thể”, tức xem lợi ích của phương pháp tầm soát có NHIỀU hơn bất lợi hay tác hại mà nó đem lại hay không.

Với các tiêu chí trên, hiện tại các nghiên cứu và thảo luận đã chỉ ra rằng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (dùng ít nhất là 2 mẫu phân ở hai ngày khác nhau) là tốt nhất để tầm soát ung thư đại tràng và xét nghiệm này đã được đưa vào chương trình tầm soát tập thể tại Nhật Bản với nguồn kinh phí từ nhà nước và một số tổ chức Công đoàn. Những phương pháp khác như nội soi đại tràng sigma, nội soi toàn đại tràng dù có số liệu cho thấy khả năng chẩn đoán chính xác hơn và giúp giảm tỉ lệ tử vong, những khó khăn trong việc thực hiện, giá thành cao và tỉ lệ biến chứng đi kèm cao (tỉ lệ chảy máu/thủng ruột là 0.07% ở Nhật) vẫn là trở ngại khiến chúng không thể được xem là lựa chọn tối ưu.

Tuy nhiên, cảm nhận về rủi ro của mỗi người là khác nhau nên ngoài xét nghiệm tầm soát tập thể, một số người vẫn có thể tự chi tiền để nội soi đại tràng, gọi là tầm soát cá nhân, theo nguyện vọng của mình. Dù không có số liệu nào nói lên lợi ích của việc này, người ta vẫn để thực hiện vì là đó quyền lựa chọn của mỗi người, và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm về những rủi ro hay bất lợi mà tầm soát bằng phương pháp đó mang lại.

Cuối cùng, xin dành vài dòng nói về PET/CT scan. Theo các tiêu chí trên, PET/CT scan HOÀN TOÀN KHÔNG PHẢI là phương pháp tầm soát ung thư vì khó thực hiện, giá thành quá cao và chưa có số liệu cho thấy nó giúp làm giảm tỉ lệ tử vong trong cộng đồng. Nguy cơ từ phơi nhiễm phóng xạ cũng là điều đáng ngại khi cân nhắc lợi ích tổng thể. Một số người có điều kiện vẫn có thể tin vào độ chính xác của PET/CT để tầm soát theo nguyện vọng cá nhân. Thật ra, các nghiên cứu đã cho thấy PET/CT có tỉ lệ dương tính giả là 20%-40% tùy vùng hay cơ quan được đánh giá. Tỉ lệ âm tính giả của PET/CT vùng ngực tầm 10%, thấp hơn nhưng không có nghĩa là có thể an tâm hoàn toàn khi xét nghiệm cho kết quả bình thường. Vì những lý do trên mà PET/CT scan chỉ phát huy hiệu quả hay có ý nghĩa khi đánh giá giai đoạn bệnh ung thư, đáp ứng điều trị và sự tái phát sau điều trị, tức là CHỈ KHI NÀO ĐÃ CÓ chẩn đoán bệnh ung thư, chứ không phải dùng PET/CT scan đi tầm soát.

Tài liệu xem thêm

https://yhoccongdong.com/thongtin/xet-nghiem-mau-an-trong-phan/

https://yhoccongdong.com/thongtin/tam-soat-ung-thu-dai-truc-trang/

https://yhoccongdong.com/thongtin/huong-dan-cua-hiep-hoi-ung-thu-ve-cac-phuong-phap-tam-soat-phat-hien-som-ung-thu/

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.