Thứ Hai , 22 Tháng Tư 2019

U cột sống

Bài viết thứ 2 trong 10 bài thuộc chủ đề Não/cột sống
 

U cột sống là gì

U cột sống là một khối mô bất thường xuất hiện bên trong hoặc quanh tủy sống và (hoặc) quanh cột sống. Các tế bào này tăng trưởng và nhân đôi không kiểm soát, có vẻ như chúng thoát khỏi các cơ chế điều hòa của các tế bào bình thường. U tủy sống có thể lành tính hoặc ác tính. U nguyên phát bắt nguồn từ cột sống hoặc tủy sống, còn u di căn hoặc u thứ phát là do tế bào ung thư từ nơi khác lan đến cột sống.

 

U cột sống

Xem thêm bài Giải phẫu cột sống và thần kinh ngoại biên của BS. Nguyễn Hữu Thanh và ThS. BS. Đặng Đỗ Thanh Cần

Phân loại u cột sống

U cột sống được xếp loại theo vị trí u. Các vùng chính gồm cột sống cổ, ngực, thắt lưng và cùng. Bên cạnh đó, chúng cũng được phân loại thành 3 nhóm lớn theo vị trí u: trong màng cứng-ngoài tủy, trong tủy (nội tủy) và ngoài màng cứng.

U trong màng cứng – ngoài tủy

Dạng u phổ biến nhất của loại này là u phát triển từ màng nhện (u màng não). Trong các rễ thần kinh xuất phát từ tủy sống (Schwannoma – u tế bào bao sợi thần kinh và Neurofibroma – u sợi thần kinh) hoặc ở nền tủy sống (Filum terminate Ependymoma). Mặc dù u màng não thường lành tính nhưng chúng có thể khó cắt hết và có thể tái phát. U rễ thần kinh nói chung là lành tính, dù vậy u sợi thần kinh có thể hóa ác tính. Ependymoma ở đoạn tủy cùng có thể có kích thước lớn và sự mỏng manh của các cấu trúc thần kinh ở vùng này làm cho việc điều trị thường phức tạp.

U nội tủy

Những u này phát triển bên trong tủy sống, thường xảy ra nhất ở vùng tủy cổ. U điển hình bắt nguồn từ tế bào đệm hoặc tế bào lót ống nội tủy nằm trong mô kẽ tủy sống. U tế bào sao và u tế bào lót ống nội tủy là 2 dạng phổ biến nhất. Chúng thường lành tính nhưng khó có thể phẫu thuật cắt bỏ. U mỡ nội tủy là một u bẩm sinh hiếm gặp, thường nằm ở vùng tủy ngực.

U ngoài màng cứng

Những sang thương này thường do di căn hoặc u tế bào Schwann, bắt nguồn từ tế bào bao quanh rễ sợi trục thần kinh. Đôi khi, u ngoài màng cứng đi phát triển xuyên qua lỗ liên đốt sống, nằm nửa trong nửa ngoài ống sống.

U di căn cột sống

U di căn cột sống

Cột sống là nơi thường gặp nhất của di căn xương. Số liệu thống kê cho thấy 30-70% bệnh nhân ung thư có u di căn đến cột sống

Các ung thư nguyên phát thường di căn đến cột sống là ung thư phổi và tuyến tiền liệt. Ung thư phổi là u thường cho di căn xương nhất ở nam giới, và tương tự là ung thư vú ở nữ. Các ung thư khác cho di căn cột sống gồm bệnh đa u tủy, Lymphoma, Melanoma, Sarcoma, cũng như là ung thư của đường tiêu hóa, thận và tuyến giáp. Việc chẩn đoán sớm và xác định được u nguyên phát là điều quan trọng trong điều trị. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị, bao gồm bản chất của khối u nguyên phát, số lượng sang thương, xuất hiện di căn xa (trừ di căn xương), sự hiện diện và (hoặc) mức độ nghiêm trọng của chèn ép tủy.

U cột sống ở trẻ em

U cột sống nguyên phát khá hiếm ở trẻ em và thực sự là một thử thách trong việc điều trị. Xuất độ và kết cục điều trị tùy thuộc vào loại u, như:

  • U xương dạng xương (Osteoid Osteoma )
  • U nguyên bào xương
  • U sụn xương
  • Sarcom xương
  • Sarcoma Ewing
  • U hạt ái toan
  • Nang xương phình mạch (Aneurysmal bone cyst)
  • Chordoma
  • Mesenchymal Chondrosarcoma
  • U tế bào khổng lồ của xương
  • Dị sản sợi
  • U sợi
  • Sarcom mạch máu
  • U mạch máu

Không giống như người trưởng thành, hệ cơ xương của trẻ em chưa phát triển hoàn chỉnh. Vì lẽ đó bác sĩ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình điều trị. Các yếu tố khác cần phải quan tâm bao gồm: độ vững của cột sống, can thiệp phẫu thuật hay không phẫu thuật và bảo tồn các chức năng thần kinh ở trẻ.

Số phát sinh và lưu hành

U nội sọ chiếm khoảng 85-90% u nguyên phát của hệ thần kinh trung ương. U nguyên phát bắt nguồn từ tủy sống, rễ thần kinh và màng cứng khá hiếm so với u hệ thần kinh trung ương bắt nguồn từ não. Xuất độ chung ước tính khoảng 1 ca u cột sống trên 4 ca u nội sọ. Khoảng 10.000 người Mỹ mắc phải u cột sống nguyên phát hoặc di căn mỗi năm.

U nội tủy hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 5-10% trong số u cột sống. U lành tính như u màng não hoặc u sợi thần kinh chiếm 55-65% u nguyên phát cột sống. U màng não thường xuất hiện nhất ở phụ nữ lứa tuổi 40-70. U cột sống di căn là loại sang thương ác tính phổ biến nhất của cột sống, chiếm khoảng 70% u cột sống.

Nguyên nhân của u cột sống

Nguyên nhân của hầu hết u cột sống nguyên phát vẫn chưa được hiểu rõ. Một vài loại u có thể được cho là do sự tiếp xúc với các chất sinh ung thư. Lymphoma tủy sống, một loại ung thư ảnh hưởng đến các tế bào lympho (một loại tế bào của hệ miễn dịch) thường gặp hơn ở những người bị suy giảm miễn dịch. Có vẻ như xuất độ u cột sống cao hơn ở một nhóm đối tượng cùng huyết thống, gợi ý khả năng liên quan đến di truyền của bệnh.

Trong một vài trường hợp, u nguyên phát có thể do 2 bệnh lý di truyền sau:

Neurofibromatosis 2 – Đa u sợi thần kinh type 2: trong bệnh di truyền này, u lành tính có thể phát triển từ lớp màng nhện của tủy sống hoặc trong các tế bào đệm của hệ thần kinh. Tuy nhiên, loại u hay gặp hơn ở bệnh di truyền này ảnh hưởng đến các dây thần kinh thính giác và có thể gây ra mất thính lực ở một hoặc cả 2 bên tai (u dây thần kinh số VIII).

Bệnh Von Hippel-Lindau: Rối loạn di truyền đa cơ quan hiếm gặp này thường đi kèm với u lành tính của mạch máu (u nguyên bào máu) trong não, võng mạc, tủy sống, và các dạng khác ở thận hoặc tuyến thượng thận.

Triệu chứng của u cột sống

Đau lưng không cơ học, nhất là ở vùng giữa hoặc vùng thấp của lưng, là triệu chứng thường thấy nhất của cả u lành và ác ở tủy sống. Đau lưng này không liên quan chấn thương, stress hoặc vận động thể lực. Tuy nhiên cơn đau có thể tăng khi vận động và thường đau nhiều về đêm. Đau có thể lan xuống hông, chân, bàn chân, cánh tay và có thể nặng dần theo thời gian, thậm chí khi đã dùng đến các biện pháp giảm đau thông thường được dùng để điều trị đau lưng cơ học. Tùy thuộc vào vị trí và loại của u, có thể có các triệu chứng và dấu hiệu khác. Đặc biệt là khi khối u ác tính phát triển và chèn ép tủy sống, rễ thần kinh, mạch máu, hoặc các đốt sống.

Triệu chứng kèm theo bao gồm:

  • Mất cảm giác hoặc yếu cơ ở chân, tay, ngực
  • Đi lại khó khăn, có thể gây té ngã
  • Giảm cảm giác đau, nóng, lạnh
  • Mất hoạt động bình thường của ruột và bàng quang ( táo bón, bí tiểu)
  • Liệt có thể xảy ra nhiều mức độ khác nhau và ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, tùy thuộc vào dây thần kinh bị chèn ép
  • Vẹo cột sống hoặc các bất thường cột sống khác là hậu quả của một u lành tính kích thước lớn

Chẩn đoán u cột sống

Thăm khám kỹ càng, chú trọng vào triệu chứng đau lưng và các khiếm khuyết thần kinh là bước đầu tiên để chẩn đoán u cột sống. Hình ảnh học là cần thiết để góp phần giúp chẩn đoán chính xác.

Xray: Dùng tia X để chụp ảnh cấu trúc cột sống và các khớp. X quang cột sống dùng để tầm soát các nguyên nhân có khả năng gây triệu chứng đau lưng. Ví dụ như u, nhiễm trùng, gãy xương. X quang không nhạy trong việc chẩn đoán u.

CT scan: cho biết hình dạng và kích thước ống sống, thành phần bên trong và các cấu trúc xung quanh. CT rất tốt trong việc quan sát các cấu trúc xương.

MRI: là thiết bị chẩn đoán hình ảnh dung từ trường mạnh và máy tính để tạo ảnh 3 chiều của cơ thể, giúp quan khảo sát tủy sống, rễ thần kinh, và các cấu trúc xung quanh, cũng như sự phì đại, thoái hóa và u.

Sau khi u được xác nhận bằng hình ảnh học, cách duy nhất để xác định tính chất lành ác của u là sinh thiết u. Nếu như u là ác tính thì việc sinh thiết cũng đóng vai trò trong việc định type của u, giúp ích trong việc chọn lựa phương thức điều trị.

Đánh giá giai đoạn của u dựa trên mức độ lan rộng của u, đánh giá xâm lấn xương, mô mềm và ống sống. Bác sĩ có thể chỉ định PET toàn thân, cũng như là CT scaner phổi và bụng chậu để đánh giá giai đoạn u. Bằng việc so sánh xét nghiệm cận lâm sàng và hình ảnh học với triệu chứng, bác sĩ sẽ có thể đưa ra chẩn đoán cuối cùng.

Quyết định điều trị

Việc quyết định điều trị đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chuyên khoa bao gồm phẫu thuật cột sống, chuyên gia ung thư, bác sĩ xạ trị và các chuyên khoa khác. Các lựa chọn điều trị bao gồm các phương pháp phẫu thuật và không phẫu thuật, do đó cần phải cân nhắc được dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và mục tiêu điều trị.

Điều trị không phẫu thuật

Lựa chọn điều trị không phẫu thuật sẽ bao gồm theo dõi, hóa trị và xạ trị. U không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ và không có biểu hiện tiến triển theo thời gian có thể được theo dõi bằng MRI định kỳ. Một vài loại u đáp ứng khá tốt với xạ trị hoặc hóa trị. Tuy nhiên một vài loại u cụ thể có đặc tính kháng với tia xạ (ví dụ: u đường tiêu hóa và thận), và trong những trường hợp này phẫu thuật có lẽ là sự lựa chọn khả dĩ nhất.

 Điều trị phẫu thuật

Chỉ định phẫu thuật thay đổi, tùy theo loại u. U nguyên phát của cột sống có thể được phẫu thuật cắt u nguyên khối để có thể trị dứt bệnh. Ở bệnh nhân đã có u di căn, chủ yếu là điều trị giảm nhẹ, với mục tiêu phục hồi và bảo tồn chức năng thần kinh, làm vững cột sống và giảm đau. Nói chung phẫu thuật chỉ được cân nhắc cho bệnh nhân có u di căn khi tiên lượng bệnh nhân sống hơn 12 tuần hoặc hơn và u kháng tia xạ hay hóa chất. Chỉ định phẫu thuật cũng gồm đau không đáp ứng thuốc, chèn ép tủy và cần làm vững cột sống cho những trường hợp nguy cơ cao gãy xương bệnh lý

Với những trường hợp còn chỉ định phẫu thuật, thuyên tắc trước mổ sẽ giúp cho việc cắt bỏ tổn thương trở nên dễ dàng hơn. Quá trình thuyên tắc bao gồm: việc luồn một ống dẫn thông qua đường động mạch đùi. Ống dẫn đi theo đường động mạch đến vị trí khối u, tại đó người ta sẽ dùng một loại keo để tắc động mạch nuôi u. Khi nguồn cấp máu cho u không còn nữa, kiểm soát chảy máu trong mổ sẽ dễ dàng hơn, giảm thiểu nguy cơ của cuộc mổ.

Đường mổ đi từ phía sau cho phép dễ dàng nhận biết được màng cứng và bộc lộ các rễ thần kinh. Và có thể giải ép được nhiều đốt sống hay cố định nhiều liên đốt. Ngược lại đường mổ phía trước lại giúp tiếp cận tốt các u nằm mặt trước cột sống và tái tạo một cách hiệu quả các chỗ khuyết sau cắt bỏ thân sống. Đồng thời đường mổ này cũng giúp dễ dàng đặt các dụng cụ cố định đoạn ngắn. U cột sống ngực và cột sống thắt lưng ảnh hưởng cả mặt trước và mặt sau cột sống là một thử thách cho các bác sĩ ngoại khoa để cắt bỏ u hoàn toàn. Thỉnh thoảng, những tổn thương phức tạp này có thể được mổ lối sau và mổ lối trước sau đó để cố gắng trị dứt.

Hồi phục sau mổ

Thời gian nằm viện sau mổ cắt u cột sống dao động từ 2-14 ngày, tùy ca. Tùy nhu cầu phục hồi chức năng sau mổ, bệnh nhân có thể phải lưu lại các trung tâm phục hồi chức năng. Những trường hợp khác, bệnh nhân có thể tập phục hồi chức năng ở một cơ sở ngoại trú hoặc tại nhà. Tổng thời gian phục hồi sau mổ có thể ngắn khoảng 3 tháng hoặc kéo dài đến 1 năm, tùy thuộc mức độ phức tạp của cuộc phẫu thuật và tổng trạng của bệnh nhân.

Kết cục điều trị

Kết quả điều trị phụ thuộc phần lớn vào độ tuổi và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân, cũng như bản chất của khối u là lành hay ác, nguyên phát hay di căn. Trong trường hợp u nguyên phát, mục tiêu là cắt bỏ hoàn toàn khối u, nhắm đến khả năng trị dứt bệnh ung thư. Trong trường hợp khối u là di căn, hầu như mục tiêu luôn luôn chỉ là điều trị giảm nhẹ, với mục tiêu tăng chất lượng và kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo

http://www.aans.org/en/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/Spinal%20Tumors.aspx

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.