Thứ Hai , 14 Tháng Mười 2019
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Ung thư trẻ em U nguyên bào võng mạc ở trẻ em: Giai đoạn

U nguyên bào võng mạc ở trẻ em: Giai đoạn

Bài viết thứ 5 trong 7 bài thuộc chủ đề U nguyên bào võng mạc ở trẻ em
 

Biên dịch: Nguyễn Tấn Long

Hiệu đính: Ths.Bs Nguyễn Hải Nam, Lê Hà Cảnh Châu

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Cancer.net, tháng 10/2018

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Yhoccongdong.comtháng 10/2019

Trong bài viết này bạn sẽ tìm hiểu về các mức độ tiến triển và lây lan của ung thư, được gọi là các giai đoạn của bệnh. Sử dụng menu để xem các bài viết khác.

“Phân loại giai đoạn khối u” là cách mô tả vị trí của ung thư, xác định mức độ lan rộng, và những ảnh hưởng của ung thư đến các cơ quan khác của cơ thể.

Bác sĩ sử dụng các xét nghiệm chẩn đoán để xác định giai đoạn ung thư để từ đó có thể đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất và có thể giúp dự đoán tiên lượng của bệnh nhân. Có nhiều cách phân chia giai đoạn khác nhau tuỳ vào loại ung thư cụ thể.

Sau khi phát hiện u nguyên bào võng mạc, bác sĩ sẽ xác định kích thước và xem xét liệu khối u có lan ra ngoài mắt hay chưa. Công việc này được gọi là phân chia giai đoạn, và từ đó giúp các bác sĩ lên kế hoạch điều trị phù hợp. Đầu tiên, bác sĩ sẽ xác định xem u nguyên bào võng mạc là nội nhãn hay ngoại nhãn.

  • Nội nhãn có nghĩa là ung thư xảy ra ở một hoặc cả hai mắt, nhưng không lan ra các mô xung quanh hoặc các cơ quan khác của cơ thể.
  • Ngoại nhãn có nghĩa là ung thư đã lan đến các mô quanh mắt hoặc đến các cơ quan khác của cơ thể.

Một số hệ thống phân giai đoạn u nội nhãn đã được sử dụng trong nhiều năm để giúp các bác sĩ lên kế hoạch điều trị. Tuy nhiên, sự thành công gần đây của các thử nghiệm lâm sàng chứng minh tính hiệu quả của hóa trị liệu để thu nhỏ khối u đã dẫn đến xuất hiện một hệ thống phân loại mới hơn gọi là Hệ thống phân loại quốc tế.

Hệ thống phân loại quốc tế (ABC) cho các giai đoạn u nội nhãn

Nhóm A:

  • Khối u nhỏ chỉ nằm trong võng mạc
  • Không có khối u nào lớn hơn 3 milimét (mm)
  • Không có khối u nào cách hố thị giác (trung tâm pit của võng mạc) ít hơn hai lần đường kính đĩa thị hoặc cách dây thần kinh thị ít hơn một lần đường kính đĩa thị.
  • Không có hạt dịch kính hoặc bong võng mạc

Nhóm B:

  • Khối u chỉ nằm trong võng mạc
  • Bất kỳ vị trí nào tại võng mạc
  • Không có hạt dịch kính
  • Không bong võng mạc quá 5 mm từ đáy khối u

Nhóm C:

  • Hạt dịch kính khuếch tán hoặc khu trú
  • Bong võng mạc: nhiều hơn nhóm B và có thể bong toàn bộ võng mạc
  • Không có hình ảnh bóng tuyết hoặc khối ở dịch kính hoặc khoang dưới võng mạc.

Nhóm D:

  • Hạt lớn ở dịch kính hoặc khoang dưới võng mạc
  • Hình ảnh bóng tuyết hoặc khối ở dịch kính/khoang dưới võng mạc
  • Bong võng mạc: nhiều hơn nhóm B và có thể bong toàn bộ võng mạc

Nhóm E:

Mất thị lực, hoặc có một trong các yếu tố sau:

  • Khối u ở thể mi hoặc tiền phòng
  • Bệnh tăng nhãn áp do tăng sinh mạch. Đối với trường hợp này, u nguyên bào võng mạc ở giai đoạn tiến triển làm tăng sinh mạch máu về phía tiền phòng và thường dẫn đến tăng áp lực trong mắt
  • Xuất huyết dịch kính, chảy máu trong mắt
  • Mắt hỏng
  • Xuất huyết tiền phòng: chảy máu ở khoang phía trước của mắt, đỏ giác mạc.
  • Biểu hiện tương tự viêm mô tế bào ổ mắt: mặc dù không có tình trạng nhiễm trùng nhưng mắt có các dấu hiệu giống với nhiễm trùng
  • Khối u nằm sau màng pha lê, là màng mỏng ngăn cách dịch kính với các bộ phận khác của mắt.

Phân loại giai đoạn u ngoại nhãn

Hệ thống phân loại này áp dụng cho ung thư đã lan ra ngoài mắt, tới các mô xung quanh hoặc hệ thần kinh trung ương, tủy xương hoặc các hạch bạch huyết. Thông tin dưới đây cung cấp những nguyên tắc điều trị cơ bản cho từng giai đoạn. Có nhiều thông tin chi tiết hơn trong hướng dẫn này Các loại điều trị.

Giai đoạn 0. Ung thư nằm trong mắt (được gọi là nội nhãn) và không lan ra ngoài mắt. Bệnh nhân ở giai đoạn 0 nên được phân loại dựa trên Hệ thống phân loại quốc tế (được nêu ở trên). Các bác sĩ khuyên nên điều trị bảo tồn cho giai đoạn này mà không cần điều trị bổ trợ, nghĩa là không điều trị thêm sau phẫu thuật.

Giai đoạn I. Mắt đã được phẫu thuật lấy bỏ và có di căn ở mức độ vi thể đến dây thần kinh thị giác. Những bệnh nhân này cần hóa trị bổ trợ sau phẫu thuật.

Giai đoạn II. Khối u đã lan đến dây thần kinh thị giác hoặc củng mạc, là phần tròng trắng của mắt. Bệnh nhân trong giai đoạn này cần hóa trị bổ trợ và có thể xạ trị.

Giai đoạn III. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc khoang xương bao quanh nhãn cầu. Giai đoạn III được chia thành IIIa và IIIb, tùy vào nơi khối u lan đến. Phương pháp điều trị cho giai đoạn này bao gồm cả hóa trị và xạ trị.

Giai đoạn IV. Ở giai đoạn IV, khối u đã lan đến các cơ quan xa của cơ thể bên ngoài mắt thông qua hệ thống bạch huyết và mạch máu. Giai đoạn IV được chia thành IVa và IVb. Giai đoạn IVb được chia thành IVb1, IVb2 và IVb3, tùy thuộc vào vị trí khối u lan tới. Giai đoạn này của u nguyên bào võng mạc ngoại nhãn được điều trị bằng hóa trị liệu liều cao và sau đó là liệu pháp sử dụng tế bào gốc, nghĩa là tế bào gốc hoặc tế bào tủy xương của trẻ được thay thế bằng các tế bào khỏe mạnh. Tìm hiểu nhiều hơn về ghép tủy xương / tế bào gốc. Xạ trị cũng có thể được sử dụng cùng với hóa trị liệu liều cao cho một số trẻ ở giai đoạn IV.

Tái phát. Nếu ung thư tái phát, các xét nghiệm sẽ được thực hiện lại một cách đầy đủ để xác định mức độ lan rộng của ung thư. Các xét nghiệm này thường tương tự như thời điểm chẩn đoán lần đầu.

Thông tin về giai đoạn ung thư sẽ giúp bác sĩ đưa ra một kế hoạch điều trị cụ thể. Các phần tiếp theo trong hướng dẫn này là các loại điều trị. Sử dụng menu để chọn một phần khác để đọc trong hướng dẫn này.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/retinoblastoma-childhood/stages

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.