Thứ Năm , 24 Tháng Chín 2020
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Các bệnh Ung thư Ung thư trẻ em U tế bào mầm ở trẻ em: Chẩn đoán

U tế bào mầm ở trẻ em: Chẩn đoán

Bài viết thứ 5 trong 9 bài thuộc chủ đề U tế bào mầm ở trẻ em
 

Bài viết này giới thiệu các xét nghiệm, quy trình và các phương pháp chụp chiếu phổ biến được sử dụng để chẩn đoán u tế bào mầm. Sử dụng menu dưới đây để xem các bài viết khác.

Bác sĩ sử dụng nhiều xét nghiệm khác nhau để tìm và chẩn đoán khối u, đồng thời xem xét mức độ di căn của chúng. Di căn là tình trạng khối u lan rộng từ nơi bắt đầu đến những nơi khác trong cơ thể. Ví dụ, các xét nghiệm hình ảnh có thể cho thấy hình ảnh khối u bên trong cơ thể và sự lan rộng của khối u. Các bác sĩ cũng làm các xét nghiệm để tìm ra phương pháp điều trị tốt nhất.

Đối với hầu hết các loại khối u, sinh thiết là phương pháp duy nhất để xác định chắc chắn khối u đó có phải là ung thư hay không. Khi sinh thiết, bác sĩ lấy một mẫu mô nhỏ để xét nghiệm trong phòng thí nghiệm. Trong trường hợp không thể sinh thiết, bác sĩ có thể đề xuất các xét nghiệm khác để hỗ trợ cho chẩn đoán.

Danh sách này sẽ giới thiệu về các xét nghiệm được lựa chọn để chẩn đoán u tế bào mầm. Không phải tất cả các xét nghiệm được liệt kê dưới đây được sử dụng cho mọi trẻ em. Các yếu tố sẽ được xem xét khi lựa chọn xét nghiệm chẩn đoán:

  • Loại khối u nghi ngờ
  • Dấu hiệu và triệu chứng
  • Tuổi và tổng trạng của trẻ
  • Kết quả các xét nghiệm trước đó

Ngoài thăm khám thực thể, các xét nghiệm dưới đây có thể được sử dụng để chẩn đoán khối u tế bào mầm:

  • Sinh thiết: Sinh thiết là lấy một mẫu mô để kiểm tra dưới kính hiển vi. Các xét nghiệm khác có thể cho thấy sự hiện diện của một khối u tế bào mầm, nhưng chỉ có sinh thiết mới có thể đưa ra chẩn đoán chính xác và kết luận khối u là lành tính hay ác tính. Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ phân tích (các) mẫu bệnh phẩm. Bác sĩ giải phẫu bệnh là bác sĩ chuyên phân tích các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm và đánh giá các tế bào, mô và cơ quan để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ kiểm tra mẫu mô xem có bất thường trong các tế bào không. Đó là xét nghiệm mô bệnh học. Họ cũng sẽ kiểm tra mẫu mô để tìm dấu hiệu ung thư. Đó xét nghiệm tế bào học.
  • Xét nghiệm máu.
    • Alphafetoprotein (AFP): Khối u tế bào mầm có thể làm AFP tăng cao, đó là một loại protein tăng trong máu của người mẹ khi mang thai. Protein này được sản xuất bởi gan thai nhi và túi noãn hoàng, một túi bảo vệ phôi thai trong giai đoạn đầu mang thai. AFP có thể được phát hiện bằng cách chọc ối, một xét nghiệm nhằm theo dõi sức khỏe thai nhi bằng cách sử dụng kim đâm vào bụng và tử cung của người mẹ để lấy nước ối. AFP cũng là một chất chỉ điểm khối u ở những người có khối u tế bào mầm. Chất chỉ điểm khối u là chất có nồng độ cao hơn bình thường trong máu, nước tiểu của những người có khối u. Nồng độ AFP trong máu có thể được theo dõi để đánh giá hiệu quả điều trị.
    • Beta HCG: Khối u tế bào mầm cũng có thể làm tăng lượng beta chorionic gonadotropin ở người (hCG). Phụ nữ mang thai sản xuất nồng độ hormone beta hCG cao trong máu. Nồng độ beta hCG cao ở một phụ nữ không mang thai nghĩa là có thể có khối u tế bào mầm.
  • Siêu âm: Siêu âm sử dụng sóng âm để tạo ra hình ảnh của các cơ quan bên trong cơ thể. Khối u tạo ra tiếng vang của sóng âm khác với mô bình thường. Khi sóng âm bị dội ngược trở lại máy tính và tạo ra hình ảnh, bác sĩ có thể xác định vị trí khối u bên trong cơ thể.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT): Chụp CT tạo ra hình ảnh 3 chiều bên trong cơ thể bằng cách sử dụng các tia X được chụp từ các góc khác nhau. Những hình ảnh 3 chiều kết hợp bởi máy tính cho thấy những bất thường hay khối u trong cơ thể. Chụp CT cũng có thể đo kích thước của khối u. Đôi khi, để những hình ảnh này được rõ ràng hơn người ta thường đưa vào cơ thể bệnh nhân một loại thuốc nhuộm (thuốc cản quang) trước khi bắt đầu quét hình ảnh. Bệnh nhân được tiêm thuốc vào tĩnh mạch hoặc uống thuốc (dạng viên hoặc lỏng).
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): MRI sử dụng từ trường thay vì tia X để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. MRI có thể đo được kích thước của khối u. Để những hình ảnh này được rõ ràng hơn, người ta thường đưa vào cơ thể bệnh nhân một loại thuốc nhuộm (thuốc cản quang) trước khi bắt đầu quét hình ảnh. Bệnh nhân được tiêm thuốc vào tĩnh mạch hoặc uống thuốc (dạng viên hoặc lỏng).
  • Sau khi làm xong các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán, bác sĩ sẽ thông báo kết quả với bạn. Nếu chẩn đoán khối u tế bào mầm, bác sĩ sẽ mô tả khối u dựa trên kết quả các xét nghiệm này. Đây gọi là chẩn đoán giai đoạn bệnh.

Bài viết tiếp theo trong hướng dẫn về căn bệnh này là Giai đoạn bệnh. Bài viết sẽ giải thích các hệ thống được bác sĩ sử dụng để mô tả mức độ lan rộng của bệnh. Sử dụng menu dưới đây để xem các bài viết khác.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/germ-cell-tumor-childhood/diagnosis

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.