Thứ Bảy , 1 Tháng Mười 2022
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Các bệnh Ung thư Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán

Bài viết thứ 16 trong 16 bài thuộc chủ đề Ung thư di truyền
 

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (Hereditary Diffuse Gastric Cancer, HDGC)

 

Ung thư dạ dày khuếch tán di truyền là gì?

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (Hereditary Diffuse Gastric Cancer, HDGC) là một tình trạng di truyền hiếm gặp liên quan đến tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày. Dạ dày nằm ở vùng thượng vị và đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn. Thức ăn được nuốt, đẩy xuống dạ dày thông qua thực quản. Dạ dày co bóp để trộn thức ăn và tiết ra dịch giúp tiêu hóa thức ăn. Thức ăn sau đó được đưa xuống ruột non để tiếp tục quá trình tiêu hóa. Một vài người nghĩ rằng dạ dày là toàn bộ phần khoang bụng của cơ thể. Tuy nhiên, các bác sĩ chỉ ra sự khác biệt giữa dạ dày và khoang bụng (ổ bụng). Dạ dày chỉ là một cơ quan, trong khi đó khoang bụng (ổ bụng) là một vùng của cơ thể nằm giữa ngực và xương chậu chứa nhiều cơ quan khác.

Ung thư dạ dày thể khuếch tán là một loại đặc biệt của ung thư dạ dày, còn được gọi là “ung thư dạ dày tế bào hình nhẫn” (signet ring cell gastric cancer) hay “ung thư xơ cứng dạ dày” (linitis plastica). Thuật ngữ khuếch tán” (diffuse) thường được dùng vì ung thư dạ dày thể khuếch tán thường có xu hướng ảnh hưởng đến nhiều vị trí ở dạ dày, thay vì khu trú tại 1 vị trí cố định. Khoảng 20% các bệnh ung thư liên quan đến dạ dày là ung thư ưng dạ dày thể khuếch tán, một số ít trong đó là do di truyền (Hereditary Diffuse Gastric Cancer, HDGC).

Độ tuổi trung bình bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) là 38 tuổi, mặc dù căn bệnh này có thể xuất hiện sớm hơn hoặc trễ hơn. Trong khi đó, ung thư dạ dày không liên quan đến HDGC thường xảy ra với người có độ tuổi trên 60. Phụ nữ mắc HDGC cũng tăng nguy cơ tiềm ẩn mắc căn bệnh ung thư vú tiểu thùy (lobular breast cancer).

Một số bệnh nhân mắc căn bệnh HDGC cũng có thể bị sứt môi hoặc hở hàm ếch, mặc dù đại đa số trường hợp sứt môi hoặc hở hàm ếch không liên quan đến HDGC.

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán
Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán

Điều gì gây ra HDGC?

HDGC là dạng bệnh di truyền hiếm gặp. Nguy cơ và các đặc điểm của bệnh lý này có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình. Gen phổ biến nhất liên quan đến HDGC là CDH1. Đột biến trên gen CDH1 tăng nguy cơ phát triển ung thư dạ dày và các loại ung thư khác liên quan đến HDGC. Các nhà nghiên cứu tin rằng các gen khác bao gồm CTNNA1 có thể liên quan đến HDGC. Các nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu thêm về tất cả các gen này. Tuy nhiên, việc xét nghiệm tất cả các đột biến di truyền ở những gen mới hơn không được khuyến cáo tại thời điểm này, ngoại trừ trong trường hợp các thử nghiệm lâm sàng.

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) được di truyền như thế nào?

Thông thường, mỗi tế bào được kế thừa 2 bản sao của mỗi gen: 1 bản sao từ mẹ, 1 bản sao từ cha. Đặc điểm di truyền của HDGC là dạng di truyền trội sinh dưỡng (autosomal dominant), trong đó đột biến chỉ cần xảy ra ở 1 bản sao của gen là có khả năng gây bệnh. Các đột biến gen di truyền liên quan đến HDGC thuộc về các đột biến gen dòng mầm (germline mutation). Như vậy, cha hoặc mẹ với bệnh lý HDGC có thể truyền lại cho con 1 bản sao mang đột biến gen gây bệnh HDGC hoặc 1 bản sao bình thường. Do đó, một đứa trẻ có cha mẹ bị đột biến gen gây HDGC, có 50% cơ hội thừa hưởng đột biến đó. Anh chị hoặc cha mẹ của người bị đột biến trên gen CDH1 cũng có 50% cơ hội có đột biến tương tự. Nếu cha mẹ (của bệnh nhân HDGC) sau có kết quả xét nghiệm đột biến gen âm tính (cha mẹ không mang đột biến gen gây bệnh HDGC) thì nguy cơ của các anh chị của bệnh nhân HDGc sẽ giảm nhiều, nhưng vẫn ở mức cao hơn so với mức nguy cơ trung bình.

Lựa chọn cho người muốn có con khi đang mang gen đột biến làm tăng nguy cơ mắc HDGC. Chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi (Preimplantation Genetic Diagnosis, PGD) là một quy trình y tế được thực hiện kết hợp với thụ tinh trong trong ống nghiệm (in-vitro fertilization, IVF). Điều này cho phép giảm khả năng mắc các hội chứng bệnh lý di truyền ở trẻ. Trứng của người mẹ được lấy ra và thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Khi phôi đạt kích thước nhất định, 1 tế bào sẽ được lấy ra khỏi phôi để kiểm tra đặc tính di truyền. Từ đó, cha mẹ có thể lựa chọn các phôi không có đột biến. Kỹ thuật PGD đã được sử dụng trong hơn 2 thập kỷ để sàng lọc các hội chứng ung thư di truyền. Tuy nhiên, đây là một kỹ thuật phức tạp, với nhiều yếu tố cần được cân nhắc trước khi tiến hành như tài chính, thể trạng, cảm xúc,… Bạn nên tìm đến các chuyên gia hỗ trợ sinh sản để được tư vấn và biết thêm thông tin.

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) phổ biến như thế nào?

Hiện nay vẫn chưa rõ chính xác số lượng gia đình có HDGC. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày khác nhau ở mỗi vùng trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, ước tính ít hơn 1% dân số tại đây mắc ung thư dạ dày, và một phần nhỏ trong số này là HDGC. Tỷ lệ ung thư dạ dày cao nhất thế giới nằm ở Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và Trung và Nam Mỹ.

Ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) được chẩn đoán như thế nào?

Các hướng dẫn cho việc chẩn đoán hội chứng HDGC đã được đề xuất, nhưng có thể thay đổi liên tục vì ngày càng có nhiều thông tin hơn về hội chứng này. Hiện tại, khi quá trình chẩn đoán nghi ngờ có HDGC thì xét nghiệm di truyền gen CDH1 nên được xem xét nếu cá nhân đó hoặc ít nhất 1 thành viên trong gia đình đáp ứng bất kì tiêu chí nào trong số các tiêu chí được liệt kê dưới đây.

  • Có 2 hoặc nhiều hơn 2 thành viên trong gia đình mắc ung thư dạ dày, tối thiểu một người là ung thư dạ dày thể khuếch tán.
  • Một thành viên được chẩn đoán ung thư dạ dày thể khuếch tán trước tuổi 40.
  • Có tiền sử gia đình hoặc tiền sử cá nhân với bệnh ung thư dạ dày thể khuếch tán và ung thư vú tiểu thùy (lobular breast cancer), với tối thiểu một người được chẩn đoán mắc các bệnh lý này trước tuổi 50.
  • Gia đình có 2 hoặc nhiều hơn 2 thành viên mắc bệnh ung thư vú tiểu thuỳ (lobular breast cancer) trước tuổi 50.
  • Được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú tiểu thuỳ (lobular breast cancer) nhiều lần trước tuổi 50.
  • Được chẩn đoán mắc bệnh ung thư dạ dày thể khuếch tán và có tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình bị sứt môi hoặc hở hàm ếch.

Xét nghiệm di truyền cho các đột biến trên gen CDH1 hiện đã có sẵn. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20% ​​đến 30% gia đình mắc HDGC có mang đột biến trên gen CDH1. Do đó, cả hai khía cạnh lâm sàng và di truyền cần phải được xem xét trong việc tư vấn cho bệnh nhân về khả năng gia đình họ mắc bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC). Bạn nên trao đổi với các chuyên gia về các bệnh lý di truyền hoặc các nhà tư vấn di truyền.

Các rủi ro ung thư liên quan đến HDGC là gì?

Không phải mọi người mang đột biến di truyền liên quan đến HDGC đều phát bệnh. Ở những người bị đột biến gen CDH1, nguy cơ mắc ung thư dạ dày thể khuếch tán ước tính khoảng 67-70% đối với nam và 56-83% đối với phụ nữ trước tuổi 80. Phụ nữ bị đột biến gen CDH1 có 39%-52% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú tiểu thùy trước tuổi 80. Một số nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ giữa HDGC với nguy cơ ung thư ruột hoặc trực tràng. Tuy nhiên, các phát hiện hiện tại cho thấy không có khả năng tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư ruột hoặc trực tràng ở những người có đột biến trên gen CDH1.

Những biện pháp để giảm các nguyung thư liên quan đến HDGC là gì?

Do nguy cơ mắc bệnh ung thư liên quan đến đột biến di truyền gen CDH1 (thể đột biến gen mầm (germline mutation)), các cá nhân mang đột biến trên gen này nên trao đổi với các chuyên gia y tế để có các biện pháp giảm thiểu rủi ro mắc ung thư như sau:

Nội soi

Nội soi là phương pháp dùng một ống mỏng với hệ thống chiếu sáng và camera để quan sát bên trong hệ tiêu hóa nhằm phát hiện ung thư. Kiểm tra nội soi phần trên của hệ tiêu hoá (esophagogastroduodenoscopy) được khuyến nghị cho người mang đột biến trên gen CDH1. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng kiểm tra nội soi thường bỏ qua ung thư dạ dày thể khuếch tán ở giai đoạn sớm.

Phẫu thuật cắt bỏ dạ dày

Như vậy, bởi vì thử nghiệm nội soi có thể không hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc phát hiện ung thư dạ dày thể khuếch tán ở giai đoạn sớm, những người mang đột biến gen CDH1 nên cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ dạ dày, còn được gọi là cắt dạ dày toàn bộ để dự phòng (prophylactic total gastrectomy), ngay cả khi việc nội soi có kết quả bình thường. Loại phẫu thuật này là cách duy nhất được chứng minh là có hiệu quả để ngăn ngừa ung thư dạ dày thể khuếch tán ở những người mắc bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC).

Tuy nhiên, điều quan trọng mà bạn cần biết là phẫu thuật cắt bỏ dạ dày dẫn đến những thay đổi vĩnh viễn đối với đường tiêu hóa và có thể gây ra nhiều tác dụng phụ lâu dài. Vì vậy, việc quan trọng đối với mỗi bệnh nhân là trao đổi với bác sĩ về những xét nghiệm và quy trình phù hợp với bản thân.

Những người quyết định không phẫu thuật cắt bỏ dạ dày có thể xem xét một lịch trình giám sát chuyên sâu, định kỳ và thường xuyên cùng bác sĩ, bằng biện pháp nội soi phần trên của hệ tiêu hoá mỗi năm, đi kèm với thu thập nhiều mẫu sinh thiết niêm mạc (nhiều hơn 30 mẫu sinh thiết trong mỗi lần nội soi). Các quy trình nội soi và phẫu thuật để theo dõi và phòng ngừa bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) nên được thực hiện tại các trung tâm có chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp.

 

Sàng lọc bổ sung cho phụ nữ

Phụ nữ với nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC) có nguy cơ cao mắc ung thư vú tiểu thùy (lobular breast cancer). Vì vậy, bạn nên trao đổi với bác sĩ về các biện pháp sàng lọc ung thư vú ở tuổi 30, hoặc 10 năm trước độ tuổi chẩn đoán ung thư vú trẻ nhất trong gia đình. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ biện pháp sàng lọc ung thư vú nào là tốt nhất đối với phụ nữ có đột biến trên gen CDH1. Các tùy chọn sàng lọc bao gồm:

  • Tự thăm khám vùng vú hàng tháng
  • Thăm khám lâm sàng được thực hiện bởi bác sĩ hoặc y tá mỗi 6 tháng
  • Thường xuyên kiểm tra bằng các phương pháp chụp nhũ ảnh (mammogram), siêu âm (ultrasound) hay chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging, MRI) vùng vú

Do ung thư vú tiểu thùy (lobular breast cancer) khó được phát hiện khi chụp nhũ ảnh, các phụ nữ mang đột biến trên gen CDH1 nên chụp thêm cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging, MRI) vùng vú. Đôi khi, phẫu thuật cắt bỏ vú để dự phòng (prophylactic mastectomy) được khuyến cáo để giảm nguy cơ ung thư vú. Bạn nên thảo luận với bác sĩ về các biện pháp phù hợp để giảm nguy cơ ung thư vú.

Những câu hỏi bạn nên hỏi các chuyên gia y tế của bạn

Nếu bạn lo lắng về nguy cơ mắc bệnh ung thư, bạn hãy nói chuyện với các chuyên gia y tế. Một vài câu hỏi gợi ý mà bạn nên hỏi như sau:

  • Nguy cơ mắc ung thư dạ dày của tôi là gì?
  • Nguy cơ mắc các loại ung thư khác của tôi là gì?
  • Tôi có thể làm gì để giảm nguy cơ ung thư của tôi?
  • Tôi nên sử dụng những biện pháp sàng lọc và phòng ngừa ung thư nào?

Nếu bạn lo lắng về tiền sử gia đình của bạn và nghĩ rằng bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình có thể mắc bệnh ung thư dạ dày di truyền thể khuếch tán (HDGC), bạn nên hỏi những câu hỏi sau:

  • Tiền sử gia đình tôi có làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày của tôi?
  • Với tiền sử gia đình của tôi, liệu có cần thiết để tiến hành các biện pháp đánh giá mức nguy cơ mắc ung thư?
  • Bạn có thể vui lòng giới thiệu tôi với các nhà tư vấn di truyền hoặc chuyên gia di truyền?
  • Tôi có nên cân nhắc xét nghiệm di truyền?

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/hereditary-diffuse-gastric-cancer