Chủ Nhật , 25 Tháng Tám 2019
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Chữa trị ung thư như thế nào Ung thư không rõ nguyên phát: Các phương pháp điều trị

Ung thư không rõ nguyên phát: Các phương pháp điều trị

 

Biên dịch: Trương Ngọc Chơi

Ở bài này: Bạn sẽ biết được các phương pháp khác nhau mà bác sĩ sử dụng để điều trị loại ung thư này.

Phần này chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn biết về các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân ung thư không rõ nguyên phát (Cancer of unknown primary, viết tắt là CUP). “Chăm sóc tiêu chuẩn” có nghĩa là phương pháp điều trị tốt nhất được biết. Khi đưa ra kế hoạch điều trị, bệnh nhân cũng được khuyến khích xem các các thử nghiệm lâm sàng như là một lựa chọn điều trị. Một thử nghiệm lâm sàng là một nghiên cứu thử nghiệm một cách tiếp cận điều trị mới. Các bác sĩ muốn biết liệu phương pháp điều trị mới có an toàn, hiệu quả và có tốt hơn các điều trị khác không. Thử nghiệm lâm sàng có thể thử nghiệm một loại thuốc mới, một sự kết hợp mới các phương pháp điều trị chuẩn, liều mới của thuốc chuẩn đang được sử dụng hoặc các phương pháp điều trị khác. Bác sĩ có thể giúp bạn xem xét tất cả các lựa chọn điều trị của bạn. Để tìm hiểu thêm về các thử nghiệm lâm sàng, hãy xem các phần “Giới thiệu về các thử nghiệm lâm sàng” và “Nghiên cứu mới nhất”.

Lập kế hoạch điều trị

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, các bác sĩ thuộc các chuyên ngành thường làm việc cùng nhau để đưa ra kế hoạch điều trị tổng thể cho bệnh nhân, trong đó có sự kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Đó là nhóm đa chuyên khoa. Nhóm chăm sóc ung thư còn gồm nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác như trợ lý bác sĩ, y tá ung thư, nhân viên xã hội, dược sĩ, nhân viên tư vấn, bác sĩ dinh dưỡng và những người khác.

Để tìm ra kế hoạch điều trị tốt nhất cho CUP, các bác sĩ cần trả lời các câu hỏi sau:

  • Đã tìm được vị trí nguyên phát của ung thư bằng thăm khám lâm sàng và thăm dò hình ảnh học? Nếu đã biết vị trí nguyên phát, việc điều trị nên tuân theo hướng dẫn điều trị cho giai đoạn tiến triển (di căn) của loại u nguyên phát đó.
  • Bác sĩ giải phẫu bệnh đã xác định được loại u nguyên phát hay một loại u cụ thể hay chưa, chẳng hạn như u lympho hoặc khối u tế bào mầm? Nếu đã xác định được, việc điều trị nên tuân theo hướng dẫn cho loại u cụ thể đó.
  • Nếu không tìm thấy được vị trí nguyên phát, có xếp được khối u vào bất kỳ nhóm nhỏ (sub-group, dưới nhóm) có chiến lược điều trị cụ thể nào không? Các dưới nhóm được liệt kê bên dưới.
  • Nếu không tìm thấy được vị trí nguyên phát của u (CUP) và CUP này không phù hợp với bất kỳ dưới nhóm cụ thể nào, thì liệu điều trị trực tiếp căn bệnh (disease-directed treatment) có hữu ích không? Nếu có, việc điều trị nên dựa trên vào loại u được dự đoán bằng xét nghiệm phân tử phân loại ung thư, hay là nên điều trị bằng hóa trị theo kinh nghiệm (xem bên dưới)? Hiệu quả của hóa trị tùy thuộc vào vị trí của khối u, mức độ di căn và sức khỏe tổng thể của người bệnh.

Tổng quan điều trị

Các phương pháp thường dùng trong điều trị ung thư được mô tả bên dưới. Sau phần này là những nét chính trong điều trị cho mỗi loại CUP cụ thể. Và cuối cùng là các phương pháp điều trị cho bệnh nhân CUP có những đặc điểm lâm sàng không phù hợp với một dưới nhóm CUP cụ thể nào.

Bởi vì CUP thường đã di căn đến ít nhất một vị trí tại thời điểm chẩn đoán nên việc loại bỏ khối u bằng phẫu thuật hoặc xạ trị tại chỗ là rất hiếm. Vì vậy, hóa trị là phương pháp điều trị phổ biến nhất cho CUP. Hóa trị có thể loại bỏ hoàn toàn một số loại ung thư.

Kế hoạch chăm sóc cho bệnh nhân cũng gồm có cả điều trị triệu chứng và các tác dụng phụ, là phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân ung thư. Hãy dành thời gian tìm hiểu về tất cả các phương pháp điều trị và hãy đặt các câu hỏi về các vấn đề chưa rõ cho bác sĩ của bạn. Đồng thời, hãy trao đổi về các mục tiêu của mỗi phương pháp điều trị với bác sĩ và điều có thể mong đợi với điều trị. Tìm hiểu thêm về “Ra quyết định điều trị”.

Đối với nhiều bệnh nhân, chẩn đoán CUP có thể là một điều rất tồi tệ và đôi khi rất khó chấp nhận. Bệnh nhân và gia đình được khuyến khích trao đổi về cảm nhận của mình với bác sĩ, y tá, nhân viên xã hội, hoặc các thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khỏe. Việc nói chuyện với bệnh nhân khác, kể cả với một nhóm hỗ trợ cũng có thể hữu ích.

Hóa trị

Hóa trị sử dụng thuốc (hóa chất) để phá hủy tế bào ung thư, thường bằng cách làm ngừng sự phát triển và phân chia của tế bào ung thư. Hóa trị được thực hiện bởi bác sĩ nội khoa ung thư-một bác sĩ chuyên về điều trị ung thư bằng thuốc.

Hóa trị toàn thân đưa hóa chất vào máu để đến tế bào ung thư toàn cơ thể. Cách thông thường để thực hiện hóa trị là đặt 1 đường truyền vào trong tĩnh mạch bằng kim hoặc uống thuốc dạng viên nén hoặc viên nang.

Một lịch trình hóa trị, thường gồm nhiều chu kì cụ thể trong một khoảng thời gian. Bệnh nhân có thể nhận 1 thuốc ở một thời điểm hoặc có thể kết hợp các thuốc khác nhau trong cùng thời điểm. Các thuốc điều trị ung thư vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu thêm nhiều loại thuốc mới.

Tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào từng cá nhân và liều sử dụng, nhưng có thể gồm: mệt mỏi, nguy cơ nhiễm trùng, buồn nôn và nôn, rụng tóc, chán ăn, tiêu chảy. Những tác dụng phụ này thường biến mất sau khi điều trị kết thúc.

Tìm hiểu thêm về những điều cơ bản trong “hóa trị” và “chuẩn bị điều trị”. Nói chuyện với bác sĩ của bạn thường là cách tốt nhất để tìm hiểu về các thuốc bạn được kê, tác dụng và các tác dụng phụ của chúng hoặc tương tác với các thuốc khác. Tìm hiểu thêm về “Điều trị ung thư bằng hóa trị” và hiểu đơn thuốc của bạn bằng các cơ sở dữ liệu tìm kiếm thuốc.

Xạ trị

Xạ trị là điều trị sử dụng tia X năng lượng cao hoặc các loại hạt khác để phá hủy tế bào ung thư. Một bác sĩ chuyên về dùng xạ trị để điều trị ung thư được gọi là bác sĩ xạ trị ung thư. Một lịch trình xạ trị thường gồm một số lần điều trị cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.

Loại xạ trị phổ biến nhất là xạ trị ngoài, là phương pháp mà tia xạ được phát ra từ một máy phát bên ngoài cơ thể. Khi xạ trị sử dụng một dụng cụ đưa vào trong (implant) được gọi là xạ trị trong hay xạ trị áp sát.

Các tác dụng phụ của xạ trị có thể gồm mệt mỏi, phản ứng nhẹ ở da, bụng cồn cào khó chịu, tiêu chảy. Hầu hết các tác dụng phụ này sẽ biến mất sớm sau khi kết thúc điều trị. Tìm hiểu thêm về “Điều trị ung thư bằng xạ trị”.

Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp cắt bỏ khối u và một phần mô lành xung quanh. Bác sĩ ngoại khoa ung thư là bác sĩ chuyên về điều trị ung thư bằng phẫu thuật. Độ rộng và vùng phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí phát hiện và kích thước khối u. Tìm hiểu thêm về “Điều trị ung thư bằng phẫu thuật”.

Điều trị nhắm đích

Điều trị nhắm đích là phương pháp điều trị nhắm vào các gen, protein hoặc môi trường quanh khối u cụ thể có góp phần vào sự phát triển và sinh tồn của ung thư. Đây là loại điều trị ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư trong khi hạn chế tổn thương cho các tế bào bình thường.

Nhiều điều trị nhắm đích trong ung thư đã được chấp thuận bởi Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm tại Hoa Kỳ (U.S. Food and Drug Administration-FDA) để điều trị các loại ung thư cụ thể. Mặc dù hiện tại không có một thuốc nào được chấp thuận cho điều trị CUP, nhưng khả năng dự đoán chính xác vị trí CUP khởi phát cũng có thể giúp xác định thuốc đích phù hợp. Ví dụ, nếu CUP được cho là có nguồn gốc ở phổi, nó có thể đáp ứng với điều trị nhắm đích đã được chấp nhận cho ung thư phổi.

Hãy trao đổi với bác sĩ của bạn về các tác dụng phụ có thể có của các thuốc cụ thể và cách xử trí các tác dụng phụ đó. Tìm hiểu thêm về “Điều trị nhắm đích”.

Điều trị hormone

Mục tiêu của điều trị hormone là thay đổi hoạt động của hormone trong cơ thể, thường bằng cách làm thấp nồng độ hoặc ngăn chặn hoạt động của hormone. Điều trị hormone có thể giúp ngăn chặn sự phát triển của khối u hoặc làm giảm các triệu chứng do khối u gây ra. Loại điều trị này có thể là một lựa chọn cho bệnh nhân thuộc các dưới nhóm CUP cụ thể (xem ở dưới).

Các lựa chọn điều trị cho các dưới nhóm CUP cụ thể:

Một trong những dưới nhóm sau có thể được xác định khi đánh giá lâm sàng ban đầu và đánh giá giải phẫu bệnh. Mỗi dưới nhóm CUP có các lựa chọn điều trị cụ thể được khuyến cáo:

  • Phụ nữ với ung thư biểu mô tuyến chỉ tìm thấy ở hạch nách. Việc điều trị thường tuân theo hướng dẫn điều trị ung thư vú giai đoạn II, ngay cả khi không tìm thấy vị trí u nguyên phát ở vú. Điều trị tại chỗ bao gồm phẫu thuật cắt vú hoặc nạo hạch nách cộng với xạ trị vú. Hóa trị, điều trị hormone, hoặc/và thuốc nhắm đích ức chế HER2 có thể được đề nghị sau ca mổ, tùy theo vào số hạch ung thư, biểu hiện thụ thể estrogen/progesteron (ER/PR), HER2, và các đặc điểm khác của khối u.
  • Phụ nữ với ung thư di căn phúc mạc-ung thư biểu mô tuyến trên bề mặt ổ bụng. Việc điều trị thường tuân theo hướng dẫn điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn III, ngay cả khi buồng trứng đã bị cắt bỏ trước đó. Bất kể khi nào có thể, phẫu thuật cắt bỏ u tối đa (phẫu thuật giảm thiểu khối u) nên được thực hiện. Hóa trị phối hợp taxane/platinum dùng trong điều trị ung thư buồng trứng được khuyến cáo sau phẫu thuật. CA-125 thường là marker khối u hữu ích để theo dõi hiệu quả điều trị. Khoảng 20% đến 25% phụ nữ sống thêm một khoảng thời gian dài sau điều trị.
  • Nam giới trẻ với ung thư biểu mô kém biệt hóa trong trung thất (vùng trung tâm của lồng ngực, giữa 2 phổi) hoặc sau phúc mạc (nằm ở sau ổ bụng). Một số CUP trong nhóm này có thể là u tế bào mầm, ngay cả khi không xác định được bằng xét nghiệm giải phẫu bệnh. Nồng độ HCG và AFP cao trong máu là một gợi ý mạnh cho ung thư tế bào mầm. Nam giới nhóm này thường được hóa trị dựa theo hướng dẫn điều trị ung thư tinh hoàn giai đoạn muộn. Sau hóa trị, phẫu thuật loại bỏ tất cả u còn sót lại thường là cần thiết. Khoảng 30% nam giới nhóm này được điều trị thành công.
  • Ung thư biểu mô tế bào vảy tìm thấy trong hạch cổ. Ngay cả khi vị trí nguyên phát không được tìm thấy ở đầu và cổ sau khi kiểm tra cẩn thận, bệnh nhân thuộc nhóm này thường được điều trị theo hướng dẫn điều trị cho ung thư đầu và cổ tiến triển tại chỗ. Điều trị thường gồm xạ trị và hóa trị đồng thời. Đối với một số bệnh nhân với hạch ung thư nhỏ, điều trị bằng xạ trị đơn độc hoặc phẫu thuật sau khi xạ trị là đủ. Khoảng 40% đến 60% bệnh nhân nhóm này sống thêm một khoảng thời gian dài sau điều trị.
  • Ung thư biểu mô tế bào vảy tìm thấy trong hạch bẹn. Điều trị thường gồm phẫu thuật lấy bỏ tất cả hạch bẹn hoặc xạ trị. Bác sĩ cũng có thể đề nghị kết hợp hóa trị với xạ trị.
  • Bệnh nhân chỉ có một khối di căn đơn độc. Nhóm này gồm nhiều tình huống đa dạng, vì một khối di căn đơn lẻ có thể được tìm thấy ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, chẳng hạn như các hạch bạch huyết, não, phổi hoặc gan. Tùy thuộc vào vị trí, điều trị thường bao gồm phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc xạ trị. Sau một thời gian, hầu hết bệnh nhân đều có thêm khối di căn ở các bộ phận khác của cơ thể, nhưng hiện tượng này đôi khi chỉ xảy ra sau một thời gian dài mà không có bất kỳ bệnh nào khác.
  • Nam giới chỉ với di căn xương và/hoặc tăng nồng độ PSA. Điều trị cho nhóm này thường tuân theo hướng dẫn điều trị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn tiến triển. Điều trị hormone, còn được gọi là làm hạ/mất androgen thường giúp bệnh thuyên giảm lâu dài. Thuyên giảm có nghĩa là sự biến mất của các dấu hiệu và triệu chứng của CUP.
  • Bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến ở gan và/hoặc bụng. Đối với các khối u chỉ lan ra trong ổ bụng, các xét nghiệm bệnh học đặc biệt (nhuộm hóa mô miễn dịch hoặc nhận diện phân tử khối u) đôi khi gợi ý ung thư nguyên phát ở đại tràng. Những khối u này thường được điều trị theo hướng dẫn điều trị cho bệnh ung thư đại tràng giai đoạn muộn, ngay cả khi vị trí u nguyên phát không phát hiện được bằng nội soi.
  • Bệnh nhân với u thần kinh nội tiết kém biệt hóa. Mặc dù vị trí u nguyên phát thường không tìm thấy được, những loại u thần kinh nội tiết này thường đáp ứng với hóa trị liệu bằng platinum/etoposide (Etopophos), có hoặc không có taxane (docetaxel [Taxotere] hoặc paclitaxel [Taxol]). Phương pháp điều trị này có thể làm thu nhỏ ung thư một cách hiệu quả và cải thiện các triệu chứng liên quan đến ung thư khoảng 60% thời gian. Khoảng 10% đến 15% số bệnh nhân đạt được thuyên giảm hoàn toàn với hóa trị, và một số bệnh nhân sống một thời gian dài sau khi điều trị.
  • Bệnh nhân với u thần kinh nội tiết biệt hóa tốt. Hầu hết các u thần kinh nội tiết biệt hóa tốt bắt nguồn từ đường tiêu hóa hoặc tuyến tụy. Đối với ung thư có vị trí nguyên phát không rõ, di căn thường được tìm thấy ở gan. Các nhà giải phẫu bệnh thường dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa các khối u thần kinh nội tiết biệt hóa tốt và biệt hóa kém. Sự khác biệt này rất quan trọng vì hóa trị được khuyến nghị cho các khối u thần kinh nội tiết biệt hóa kém thường không hiệu quả đối với các khối u biệt hóa tốt. Các khối u thần kinh nội tiết biệt hóa tốt thường phát triển chậm, và bệnh nhân thường sống trong vài năm ngay cả không điều trị. Nói chung, việc điều trị tuân theo các hướng dẫn điều trị cho u thần kinh nội tiết.

Tất cả bệnh nhân CUP được khuyến khích nói chuyện với bác sĩ của họ về khả năng tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng (nếu có). Ngoài ra, hãy trao đổi với bác sĩ về các tác dụng phụ có thể có và mục tiêu của mỗi lựa chọn điều trị.

Điều trị cho những bệnh nhân không thuộc các dưới nhóm CUP cụ thể

Khoảng 75% bệnh nhân CUP không có đặc điểm của bất kỳ dưới nhóm CUP cụ thể nào được mô tả ở trên. Hầu hết các bệnh nhân trong nhóm này bị ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô kém biệt hóa (xem “các dưới nhóm”). Khả năng thành công trong điều trị cho nhóm này rất khác nhau. Nhiều người đề kháng với điều trị. Tuy nhiên, những người khác lại có những lợi ích đáng kể từ điều trị.

Các khuyến cáo điều trị cho những bệnh nhân này đang trong quá trình điều chỉnh dựa trên các nghiên cứu khoa học đang được thực hiện. Cho đến gần đây, điều trị tiêu chuẩn thường là hóa trị theo kinh nghiệm. Hóa trị theo kinh nghiệm sử dụng kết hợp các loại thuốc truyền thống đã biết là có tác dụng chống lại nhiều loại ung thư. Trước đây, nhiều loại ung thư tiến triển được điều trị theo cách tương tự như vậy, và vì thế phương pháp này mang lại cơ hội thành công cao nhất cho nhiều ca. Chỉ có khoảng 5% bệnh nhân được chữa khỏi bằng hóa trị theo kinh nghiệm, nhưng nó có thể thu nhỏ khối u ở 35% đến 40% bệnh nhân. Khoảng 20% đến 25% bệnh nhân theo điều trị này sống ít nhất 2 năm sau khi chẩn đoán.

Trong 15 năm qua, những cải tiến quan trọng đã được thực hiện trong điều trị nhiều loại ung thư. Những loại thuốc góp phần cho sự tiến bộ này là điều trị nhắm đích (xem ở trên). Không giống như hóa trị truyền thống, thuốc nhắm  đích hoạt động tốt nhất cho các loại ung thư cụ thể với các đặc điểm khối u cụ thể. Ví dụ, một loại thuốc nhắm vào sự bất thường của khối u được tìm thấy trong ung thư phổi có thể hoàn toàn không có tác dụng đối với ung thư đại tràng và ngược lại. Vì vậy, ngày càng khó thiết kế một chương trình điều trị theo kinh nghiệm/chung cho bệnh nhân CUP để mang lại kết quả tốt nhất cho các loại ung thư khác nhau.

Trong khi đó, các xét nghiệm chẩn đoán mới đã có thể dự đoán vị trí nguyên phát cho những bệnh nhân CUP, ngay cả khi vị trí u nguyên phát không thể được tìm thấy bằng chẩn đoán hình ảnh và các đánh giá lâm sàng khác. Các nhà giải phẫu bệnh thực hiện các xét nghiệm mới này, được gọi là xét nghiệm phân loại ung thư ở mức phân tử, dùng mẫu mô khối u được lấy qua sinh thiết. Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy dự đoán từ các xét nghiệm này là chính xác và hữu ích.

Mặc dù bằng chứng khoa học chưa đầy đủ, nhưng hiện tại có vẻ như việc điều trị hướng đến loại khối u cụ thể dự đoán bằng biểu hiện gen có lợi thế hơn so với hóa trị theo kinh nghiệm. Ví dụ, một bệnh nhân được dự đoán có vị trí chính nguyên phát ở đại tràng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ kế hoạch điều trị được thiết kế cho bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn muộn hơn là từ hóa trị liệu theo kinh nghiệm. Một kế hoạch điều trị như vậy bao gồm điều trị nhắm đích được phát triển riêng cho bệnh nhân ung thư đại tràng. Hiện nay, tất cả các thông tin từ các thử nghiệm lâm sàng đều cho thấy kết quả điều trị là tốt hơn khi dùng phác đồ điều trị hướng dẫn bởi biểu hiện gen (so với hóa trị theo kinh nghiệm).

Chăm sóc triệu chứng và tác dụng phụ

Ung thư và điều trị ung thư thường gây ra các tác dụng phụ. Ngoài việc điều trị để làm chậm, ngừng phát triển hoặc loại bỏ ung thư, một phần quan trọng của việc chăm sóc ung thư là làm giảm các triệu chứng và tác dụng phụ. Cách tiếp cận này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ, bao gồm việc hỗ trợ bệnh nhân với các nhu cầu về thể chất, cảm xúc và xã hội.

Chăm sóc giảm nhẹ là bất kỳ phương pháp điều trị nào tập trung vào việc giảm các triệu chứng, cải thiện chất lượng sống, hỗ trợ bệnh nhân và người thân. Bất kỳ người nào, bất kể tuổi tác, loại và giai đoạn ung thư, đều có thể được chăm sóc giảm nhẹ. Hiệu quả sẽ tốt nhất khi chăm sóc giảm nhẹ được bắt đầu càng sớm càng tốt trong quá trình điều trị ung thư.

Bệnh nhân thường được điều trị ung thư và điều trị giảm nhẹ đồng thời. Ngay cả khi không đáp ứng với hóa trị, vẫn còn nhiều phương pháp điều trị để giảm nhẹ triệu chứng. Trên thực tế, những bệnh nhân nhận được cả hai loại điều trị thường ít có các triệu chứng nghiêm trọng, chất lượng cuộc sống tốt hơn và hài lòng hơn với điều trị.

Các phương pháp điều trị giảm nhẹ rất khác nhau và thường bao gồm thuốc, chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật thư giãn, hỗ trợ cảm xúc và các liệu pháp khác. Hãy trao đổi với bác sĩ của bạn về các mục tiêu của từng phương pháp điều trị trong tổng thể kế hoạch điều trị.

Trước khi bắt đầu điều trị, hãy trao đổi với nhóm chăm sóc về các tác dụng phụ có thể có trong kế hoạch điều trị và các phương pháp chăm sóc giảm nhẹ cụ thể. Trong và sau khi điều trị, hãy nói với bác sĩ của bạn hoặc một thành viên khác trong nhóm chăm sóc sức khỏe nếu bạn đang gặp vấn đề để có thể được giải quyết nhanh nhất có thể. Tìm hiểu thêm về “Chăm sóc giảm nhẹ”.

Thuyên giảm và khả năng tái phát

Thuyên giảm (hoàn toàn) là khi ung thư không còn phát hiện được trong cơ thể và không có triệu chứng. Điều này cũng có thể được gọi là “không có bằng chứng của bệnh” hay NED (no evidence of disease). Đối với những bệnh nhân dùng hóa trị và đã thuyên giảm, việc điều trị thường được dừng lại sau 4 đến 6 tháng.

Thuyên giảm có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Sự không chắc chắn này khiến nhiều người lo lắng rằng ung thư sẽ quay trở lại. Mặc dù có nhiều sự thuyên giảm là vĩnh viễn, nhưng điều quan trọng là hãy trao đổi với bác sĩ của bạn về khả năng ung thư quay trở lại. Biết được nguy cơ tái phát của bạn và các lựa chọn điều trị có thể giúp bạn cảm thấy sẵn sàng hơn. Tìm hiểu thêm về “Đối phó với nỗi sợ tái phát”.

Nếu ung thư quay trở lại sau khi hóa trị hoặc các điều trị khác, nó được gọi là ung thư tái phát. Nó có thể trở lại ở cùng một nơi hoặc ở một vùng khác của cơ thể. Khi điều này xảy ra, một vòng kiểm tra mới sẽ được thực hiện lại để tìm hiểu về tình trạng bệnh. Sau khi kiểm tra xong, bạn và bác sĩ sẽ trao đổi về các lựa chọn điều trị phù hợp.

Hóa trị thường được khuyến cáo, với cùng loại thuốc bạn đã dùng trước đó hoặc kết hợp với thuốc mới. Nếu phương pháp điều trị đầu tiên của bạn dựa trên loại ung thư được dự đoán bằng biểu hiện gen, điều trị phác đồ 2 có thể sẽ tiếp tục tuân theo hướng dẫn điều trị tiêu chuẩn cho loại ung thư đó. Bác sĩ cũng có thể đề xuất các thử nghiệm lâm sàng đang nghiên cứu những cách mới để điều trị cho loại ung thư tái phát này. Cho dù bạn chọn phương pháp điều trị nào, chăm sóc giảm nhẹ cũng rất quan trọng để làm giảm các triệu chứng và tác dụng phụ.

Những bệnh nhân ung thư tái phát thường trải qua những cảm xúc như hoài nghi, thiếu tin tưởng hoặc sợ hãi. Bệnh nhân được khuyến khích nói chuyện với nhóm chăm sóc sức khỏe về những cảm giác này và hỏi về các dịch vụ hỗ trợ để giúp họ đối phó với nó. Tìm hiểu thêm về “Giải quyết ung thư tái phát”.

Nếu điều trị thất bại

Phục hồi sau ung thư không phải luôn luôn xảy ra. Nếu ung thư không thể được chữa khỏi hoặc kiểm soát, bệnh được gọi là giai đoạn tiến triển hoặc có thể là giai đoạn cuối.

Chẩn đoán ung thư tiến triển thường gây căng thẳng cho nhiều người và là vấn đề khó thảo luận. Tuy nhiên, điều quan trọng là hãy cởi mở và thành thật với bác sĩ và nhóm chăm sóc sức khỏe để giãi bày cảm xúc, mong muốn, và mối lo ngại của mình. Nhóm chăm sóc sức khỏe sẽ ở đó để giúp bạn với nhiều thành viên của nhóm có kĩ năng, kinh nghiệm và kiến thức đặc biệt để giúp đỡ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân. Đảm bảo cho bệnh nhân dễ chịu về mặt thể chất (bao gồm giảm đau) lẫn tinh thần là điều cực kì quan trọng.

Bệnh nhân bị ung thư tiến triển có tiên lượng sống dưới 6 tháng có thể muốn cân nhắc một loại chăm sóc giảm nhẹ được gọi là chăm sóc cuối đời (hospice care). Hospice care được thiết kế để cung cấp chất lượng cuộc sống tốt nhất cho những người gần cuối đời. Bạn và gia đình bạn được khuyến khích để suy nghĩ về nơi mà bạn cảm thấy dễ chịu nhất: ở nhà, ở bệnh viện, hoặc trong môi trường khác như nhà an dưỡng. Chăm sóc điều dưỡng và các dụng cụ đặc biệt có thể làm cho việc ở nhà là một thay thế khả thi cho nhiều gia đình. Tìm hiểu thêm về “Lập kế hoạch chăm sóc ung thư tiến triển”.

Sau cái chết của một người thân yêu, nhiều người cần sự hỗ trợ để giúp họ đương đầu với sự mất mát. Tìm hiểu thêm về “Sự đau buồn và mất mát”.

Phần tiếp theo trong hướng dẫn là Về các thử nghiệm lâm sàng. Bạn sẽ tìm thấy thông tin về các nghiên cứu tập trung vào tìm kiếm các phương pháp tốt nhất để chăm sóc bệnh nhân ung thư. Hoặc bạn có thể sử dụng menu để đọc những phần khác trong hướng dẫn này.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/unknown-primary/treatment-options?fbclid=IwAR0pFihWRBfTnjvQaBpV7WPMWBWrEeFU5ZyxbGlr63-BuyxTLGyoCdMsZYA

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.