Chủ Nhật , 29 Tháng Ba 2020
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Các bệnh Ung thư Ung thư thanh quản và hạ hầu: Các phương pháp điều trị

Ung thư thanh quản và hạ hầu: Các phương pháp điều trị

 

Phê duyệt bởi Ban biên tập Cancer.Net, 06/2019

TRONG BÀI VIẾT NÀY: Bạn sẽ tìm hiểu về các phương pháp điều trị khác nhau mà các bác sĩ chỉ định điều trị ung thư thanh quản và hạ hầu.

Phần này giải thích các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho việc chăm sóc bệnh nhân ung thư thanh quản và hạ hầu. Điều trị tiêu chuẩn có nghĩa là các phương pháp điều trị tốt nhất được biết đến. Khi đưa ra quyết định về kế hoạch điều trị, bạn có thể sẽ được khuyến khích với một lựa chọn khác là tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng nếu bạn có thể. Một thử nghiệm lâm sàng là một nghiên cứu thử nghiệm một phương pháp điều trị mới. Các bác sĩ muốn tìm hiểu liệu phương pháp điều trị mới này có an toàn, hiệu quả và có thể tốt hơn phương pháp điều trị tiêu chuẩn hay không. Các thử nghiệm lâm sàng cũng có thể thử nghiệm một loại thuốc mới, sự kết hợp mới của các phương pháp điều trị tiêu chuẩn khác nhau hoặc sử dụng các liều điều trị khác nhau của thuốc hoặc các phương pháp điều trị khác. Các thử nghiệm lâm sàng là một lựa chọn nên được cân nhắc trong điều trị và chăm sóc cho tất cả các giai đoạn của ung thư. Bác sĩ là người có thể giúp bạn xem xét tất cả các phương pháp điều trị phù hợp.

Tổng quan về điều trị

Ung thư thanh quản và ung thư hạ hầu (hạ họng) có thể được chữa khỏi khi bệnh được phát hiện sớm. Mặc dù điều trị ung thư là mục tiêu chính của các phương pháp điều trị, việc bảo tồn chức năng của các cơ quan bị ảnh hưởng cũng rất quan trọng. Khi các bác sĩ lên kế hoạch điều trị, họ phải xem xét kế hoạch này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân như thế nào, bao gồm ngoại hình và cảm giác vùng mặt- cổ, giọng nói, đường ăn và đường thở của bệnh nhân. Điều trị ung thư thanh quản và hạ hầu có thể tác động đáng kể đến các chức năng này, vì vậy quyết định điều trị nên được thực hiện cẩn thận.

Trong điều trị ung thư, các bác sĩ đến từ các chuyên khoa khác nhau thường làm việc cùng nhau để đưa ra một phác đồ điều trị tổng thể cho một bệnh nhân, bằng cách kết hợp các phương pháp điều trị khác nhau. Đây được gọi là nhóm các bác sĩ đa chuyên khoa. Việc đánh giá bệnh nhân nên được thực hiện bởi mỗi chuyên gia trước khi bất kỳ điều trị bắt đầu.

Đội ngũ này có thể bao gồm các bác sĩ chuyên gia về nội khoa ung thư, xạ trị ung thư, phẫu thuật ung thư, tai mũi họng, phục hình hàm mặt (chuyên gia thực hiện phẫu thuật phục hồi vùng đầu cổ), nha sĩ, bác sĩ vật lý trị liệu, bác sĩ thính học, bác sĩ tâm lý. Các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ mô bệnh học cũng không thể thiếu vì họ giúp chẩn đoán xác định và phân giai đoạn bệnh. Các nhóm chăm sóc ung thư bao gồm nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác, chẳng hạn trợ lý bác sĩ, điều dưỡng ung thư, nhân viên y tế xã hội, dược sĩ, cố vấn, chuyên gia dinh dưỡng và một số chuyên gia khác.

Có 3 lựa chọn điều trị chính cho ung thư thanh quản và hạ hầu: xạ trị, phẫu thuật và hóa trị. Các phương pháp này có thể được chỉ định riêng lẽ hoặc phối hợp cùng nhau. Phẫu thuật và xạ trị là phương pháp điều trị phổ biến nhất. Hóa trị có thể được sử dụng trước hoặc trong khi xạ trị và/hoặc phẫu thuật để tăng cơ hội thành công khi tiêu diệt tế bào ung thư.

Các đặc điểm của các loại phương pháp điều trị phổ biến được sử dụng cho ung thư thanh quản và hạ hầu được liệt kê dưới đây. Phác đồ điều trị cũng bao gồm cả điều trị triệu chứng và kiểm soát độc tính/ tác dụng phụ.

Các lựa chọn và khuyến cáo điều trị cần cá thể hóa trên từng bệnh nhân; nó phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm mô bệnh học và giai đoạn ung thư, các tác dụng phụ có thể xảy ra, mong muốn của bệnh nhân và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân. Bệnh nhân cần dành thời gian để tìm hiểu về tất cả các lựa chọn điều trị, mục tiêu điều trị và hãy đặt câu hỏi nếu vẫn còn những khúc mắc chưa được giải đáp, cũng như những gì bệnh nhân mong đợi trong suốt quá trình điều trị. Chính những thảo luận này sẽ giúp bệnh nhân và bác sĩ cùng nhau đưa ra quyết định cuối cùng.

Bảo vệ thanh quản

Bảo tồn chức năng thành quản là mục tiêu đầu tiên của điều trị cho gần như tất cả bệnh nhân, đặc biệt là ở giai đoạn đầu (T1 hoặc T2). Trong những trường hợp này, phẫu thuật hoặc xạ trị có thể được chỉ định để điều trị ung thư và bảo tồn chức năng của thanh quản.

Đối với những trường hợp khối u thanh quản ở giai đoạn T3 và T4, kết hợp hóa trị và xạ trị có thể bảo tồn thanh quản với hiệu quả cao; trong khi đó với các khối u thanh quản rất lớn, cắt thanh quản toàn bộ có thể là lựa chọn điều trị tốt hơn.

Hãy thảo luận với bác sĩ về việc kiểm tra giọng nói và chức năng nuốt trước khi quyết định kế hoạch điều trị.

Thông tin này dựa trên các khuyến nghị của ASCO về bảo tồn thanh quản trong điều trị ung thư thanh quản.

Xạ trị

Xạ trị là sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Một bác sĩ chuyên về xạ trị để điều trị ung thư được gọi là bác sĩ xạ trị ung thư.

Phương pháp xạ trị phổ biến nhất được gọi là xạ trị chùm tia ngoài, đó là chùm tia bức xạ được đưa vào từ một máy bên ngoài cơ thể. Một phác đồ xạ trị, hay còn gọi là kế hoạch xạ trị, thường bao gồm một số phương pháp xạ trị cụ thể được đưa ra trong một khoảng thời gian định sẵn.

Khị nguồn phóng xạ được cấy ghép vào cơ thể để điều trị, thì được gọi là xạ trị trong hay xạ trị liều chậm

Các thử nghiệm lâm sàng mới đang nghiên cứu liệu pháp chùm tia proton để xem xét ảnh hưởng điều trị trên mô lành. Liệu pháp chùm tia proton là điều trị bằng một loại xạ trị chùm tia ngoài sử dụng các proton chứ không phải tia X (photon) để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Một chế độ xạ trị, hoặc lịch trình xạ trị, thường bao gồm một số đợt xạ trị, được đưa ra trong một khoảng thời gian nhất định.

Xạ trị có thể là phương pháp điều trị chính cho ung thư đầu cổ hoặc được chỉ định sau phẫu thuật để tiêu diệt những khối u nhỏ không thể loại bỏ trong quá trình phẫu thuật. Nó thường được chỉ định kết hợp với hóa trị liệu để điều trị nhiều bệnh ung thư ở đầu cổ.

Trước khi bắt đầu điều trị

Trước khi bắt đầu xạ trị cho bất kỳ bệnh ung thư đầu- cổ, tất cả mọi bệnh nhân nên được kiểm tra kỹ lưỡng bởi một nha sĩ ung thư. Một nha sĩ ung thư là một nha sĩ có kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe răng miệng của những người bị ung thư. Vì xạ trị có thể gây sâu răng, răng bị hư hỏng có thể cần phải được loại bỏ trước khi bắt đầu điều trị. Thông thường, sâu răng có thể được ngăn ngừa bằng cách điều trị thích hợp từ nha sĩ.

Điều quan trọng nữa là bệnh nhân nhận được tư vấn và đánh giá từ một bác sĩ bệnh học về giọng nói, người có kinh nghiệm chăm sóc những người bị ung thư đầu cổ. Vì xạ trị có thể gây sưng và sẹo, giọng nói và chức năng nuốt thường bị ảnh hưởng. Các bác sĩ bệnh học kiểm tra chức năng nói, sau đó cung cấp cho bệnh nhân các bài tập và kỹ thuật để giúp ngăn ngừa các vấn đề về nói và nuốt lâu dài.

Hóa trị liệu

Tùy thuộc vào giai đoạn của ung thư, bác sĩ có thể chỉ định kết hợp hóa trị và xạ trị. Hóa trị tăng cường hiệu quả của xạ trị. Hóa trị liệu có thể giúp bệnh nhân tránh được cuộc phẫu thuật và có thể bảo tồn thanh quản và chức năng hoạt động của nó. Đối với nhiều bệnh nhân, đây là lựa chọn điều trị thích hợp. Tuy nhiên, kết hợp hóa trị và xạ trị có thể gây ra nhiều tác dụng phụ hơn là điều trị bằng xạ trị đơn thuần.

Tác dụng phụ của xạ trị

Ngoài ra, xạ trị vùng  đầu cổ có thể gây đỏ hoặc kích ứng da ở vùng được điều trị, sưng, khô miệng hoặc nước bọt đặc do tổn thương tuyến nước bọt (có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn), đau xương, buồn nôn, mệt mỏi, miệng lở loét và / hoặc đau họng, khó mở miệng và các vấn đề về răng miệng (thường có thể phòng ngừa được, xem các phần trên). Các tác dụng phụ khác có thể bao gồm sự tích tụ dịch bạch huyết được gọi là phù bạch huyết; đau hoặc khó nuốt; khàn giọng hoặc thay đổi trong giọng nói; chán ăn, do thay đổi khẩu vị; mất thính lực do tích tụ chất lỏng trong tai giữa hoặc tổn thương thần kinh; sự tích tụ của ráy tai, bị khô do tác dụng xạ trị hiệu ứng trên ống tai; và sẹo (xơ hóa). Hãy thảo luận với bác sĩ hoặc y tá về bất kỳ tác dụng phụ nào mà bạn có thể gặp để tìm ra phương pháp phòng tránh.

Xạ trị cũng có thể gây ra suy giáp, trong đó tuyến giáp, nằm ở cổ, suy giảm chức năng và khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi và uể oải. Bệnh nhân được xạ trị ở vùng cổ nên kiểm tra tuyến giáp thường xuyên. Bệnh nhân bị suy giáp sẽ cần bổ sung hormone tuyến giáp suốt đời.

Hầu hết các tác dụng phụ lâu dài của xạ trị có thể được ngăn chặn hoặc giảm bớt. Điều quan trọng là tất cả các thành viên của nhóm điều trị đa chuyên khoa đều hội chẩn bệnh nhân trước khi bắt đầu xạ trị để ngăn ngừa hoặc giảm các vấn đề dài hạn.

Phẫu thuật

Phẫu thuật là thủ thuật cắt bỏ khối u và kèm theo đó là một ít mô lành xung quanh khối u. Bác sĩ phẫu thuật ung thư là bác sĩ chuyên điều trị ung thư bằng phẫu thuật. Mục tiêu của phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ khối u và kèm theo một ít mô lành xung quanh, sao cho xung quanh vùng phẫu thuật không còn khối u. Đôi khi không thể loại bỏ hoàn toàn ung thư bằng phẫu thuật. Trong những trường hợp này, các phương pháp điều trị khác sẽ được khuyến nghị.

Trước khi phẫu thuật, hãy thảo luận với nhóm chăm sóc sức khỏe về các biến chứng hay tai biến phẫu thuật có thể xảy ra.

Các phương pháp phẫu thuật phổ biến nhất được chỉ định để điều trị ung thư thanh quản hoặc ung thư hạ hầu bao gồm:

  • Cắt thanh quản một phần. Là loại bỏ một phần của thanh quản, giúp duy trì giọng nói tự nhiên của bệnh nhân. Sau đây là một số kỹ thuật:
    • Cắt thanh quản trên nắp thanh môn. Cắt bỏ khu vực phía trên nếp thanh âm. Nếu một phần của hạ hầu được loại bỏ cùng với ung thư, thủ thuật này được gọi là phẫu thuật cắt bỏ một phần hầu họng.
    • Phẫu thuật cắt dây thanh âm. Loại bỏ nếp thanh âm.
    • Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần theo chiều dọc. Loại bỏ 1 bên thanh quản.
    • Cắt thanh quản một phần trên sụn nhẫn. Loại bỏ nếp thanh âm và khu vực xung quanh chúng.
  • Cắt thanh quản toàn bộ. Cắt bỏ toàn bộ thanh quản. Trong quá trình phẫu thuật, một lỗ thông khí sẽ được tạo ra ở phía trước cổ thông qua khí quản, để người bệnh có thể thở. Thủ thuật này được gọi là mở khí quản (xem bên dưới). Bởi vì các nếp thanh âm đã bị loại bỏ, bệnh nhân không còn có thể nói bằng cách sử dụng nếp thanh âm sau phẫu thuật. Tuy nhiên, một bác sĩ bệnh học về chức năng nói có thể hướng dẫn bệnh nhân nói theo một cách khác sau khi phẫu thuật.
  • Cắt thanh quản hầu. Là phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản, bao gồm các nếp thanh âm và một phần hoặc toàn bộ hầu họng. Sau phẫu thuật này, các bác sĩ phải tái tạo lại hầu họng bằng cách sử dụng các vạt da từ cẳng tay, các bộ phận khác của cơ thể hoặc một đoạn của ruột. Giống như phẫu thuật cắt thanh quản toàn bộ, bệnh nhân không còn có thể nói bằng cách sử dụng nếp thanh âm sau khi cắt thanh quản. Họ cũng có thể gặp khó khăn khi nuốt. Tuy nhiên, một bác sĩ bệnh học về chức năng nói có thể giúp bệnh nhân học nói và nuốt sau đó.
  • Nạo vét hạch cổ. Nếu ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở cổ, một số trong các hạch bạch huyết này có thể cần phải được phẫu thuật cắt bỏ. Có nhiều kỹ thuật nạo vét hạch cổ, chẳng hạn như nạo hạch cổ một phần, nạo hạch cổ cải biên hoặc nạo hạch cổ chọn lọc. Tùy thuộc vào giai đoạn và vị trí của ung thư, một số hoặc tất cả các hạch bạch huyết ở cổ có thể phải được loại bỏ. Bệnh nhân ung thư thanh quản được xạ trị hoặc hóa trị liệu thường không cần phẫu thuật nạo hạch cổ. Bệnh nhân có thể có bị xơ cứng vùng vai và cổ và mất cảm giác ở cổ sau khi phẫu thuật loại này.
  • Phẫu thuật bằng tia laser. Phẫu thuật laser chỉ định chùm ánh sáng để loại bỏ một khối u nhỏ trong thanh quản hoặc thực hiện phẫu thuật cắt thanh quản một phần. Công cụ này là một phương pháp điều trị tương đối mới chỉ nên được thực hiện bởi một bác sĩ có kinh nghiệm.

Các loại phẫu thuật khác có thể được chỉ định trong quá trình điều trị ung thư thanh quản hoặc hạ hầu bao gồm:

  • Mở khí quản. Là một phần của cả phẫu thuật cắt thanh quản một phần và toàn bộ, bác sĩ phẫu thuật tạo một lỗ gọi là lỗ thông khí ở phía trước cổ vào khí quản hoặc khí quản. Thủ thuật này được gọi là mở khí quản. Một ống thường được chèn để giữ cho lỗ mở. Không khí đi vào và rời khỏi khí quản, được gọi là khí quản và phổi qua lỗ khí, để người bệnh có thể thở.
  • Đối với những người đã cắt bỏ thanh quản một phần, lỗ thông thường là tạm thời. Sau khi phục hồi sau phẫu thuật cắt thanh quản một phần, ống được lấy ra, lỗ lành lại đóng lại, và người đó có thể thở và nói theo cách tương tự như trước khi phẫu thuật. Trong một số trường hợp, giọng nói có thể khàn hoặc yếu, nhưng nó thường trở nên tốt hơn khi người bệnh hồi phục sau phẫu thuật.
  • Đối với những người phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần, lỗ thông là vĩnh viễn. Ống được lấy ra nhưng người bệnh sẽ tiếp tục thở qua lỗ khí và phải học cách nói mới.
  • Phẫu thuật tái tạo. Hay còn gọi là phẫu thuật thẩm mỹ, nhằm mục đích khôi phục lại diện mạo và chức năng của bệnh nhân. Ví dụ, nếu phẫu thuật đòi hỏi phải loại bỏ mô lớn, phẫu thuật tái tạo hoặc tạo hình có thể được thực hiện để thay thế mô bị thiếu.

Tác dụng phụ của phẫu thuật

Nói chung, phẫu thuật thường gây sưng miệng và cổ họng, gây khó thở. Sau khi phẫu thuật, phổi và khí quản tạo ra rất nhiều chất nhầy. Chất nhầy được loại bỏ bằng một ống hút nhỏ cho đến khi người bệnh học ho qua lỗ khí. Tương tự, nước bọt có thể cần phải được hút ra từ miệng vì sưng ở cổ họng có thể ngăn cản chức năng nuốt. Hãy thảo luận với bác sĩ về những gì bạn có thể mong đợi sau khi phẫu thuật.

Ngoài ra, phẫu thuật có thể gây mất giọng nói hoặc mất chức năng nói vĩnh viễn, khó nuốt, phù bạch huyết, biến dạng khuôn mặt, tê ở các bộ phận của cổ và cổ họng, và ít vận động ở vùng vai và cổ. Phẫu thuật cũng có thể làm giảm chức năng tuyến giáp, đặc biệt là sau khi cắt thanh quản toàn bộ.

Phục hồi chức năng thể chất bị mất hoặc thay đổi và các dịch vụ hỗ trợ cảm xúc là những phần quan trọng của việc chăm sóc sau phẫu thuật. Điều này có thể mất thời gian và đòi hỏi chuyên môn của các thành viên khác nhau của nhóm điều trị. Bệnh nhân được khuyến khích thảo luận với nhóm chăm sóc sức khỏe của họ về những gì mong đợi trước khi có bất kỳ loại phẫu thuật.

Liệu pháp dùng thuốc

Liệu pháp điều trị toàn thân là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Các loại thuốc này được đưa đến các tế bào ung thư trên toàn cơ thể thông qua đường máu. Phương pháp điều trị toàn thân thường được chỉ định bởi bác sĩ nội khoa ung thư.

Liệu pháp toàn thân được thực hiện bằng đường truyền (ống truyền tĩnh mạch (IV) được đặt vào tĩnh mạch bằng kim) hoặc bằng đường uống. Một bệnh nhân có thể dùng một hoặc nhiều liệu pháp toàn thân đồng thời; hoặc kết hợp với các phương pháp điều trị khác.

Cần thảo luận với bác sĩ để tìm hiểu về các loại thuốc được chỉ định, mục đích của chúng và độc tính tiềm ẩn hoặc tương tác với các loại thuốc khác; cũng như thông báo cho bác sĩ biết về các loại thuốc bệnh nhân đang dùng, kể cả các loại thảo dược hay thực phẩm chức năng.

Hóa trị

Hóa trị là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư, với cơ chế ngăn cản sự phát triển, phân chia và tăng sinh của các tế bào ung thư.

Một phác đồ hóa trị, lịch trình, sẽ bao gồm một số chu kỳ điều trị cụ thể được đưa ra trong một khoảng thời gian định sẵn. Một người có thể nhận được 1 loại thuốc hoặc kết hợp nhiều loại thuốc khác nhau cùng một lúc.

Đối với ung thư thanh quản và hạ hầu, hóa trị có thể được chỉ định trước khi phẫu thuật, xạ trị hoặc cả hai. Điều này được gọi là liệu pháp tân bổ trợ.

Tác dụng phụ của hóa trị liệu phụ thuộc vào từng cá thể, loại thuốc và liều lượng sử dụng, nhưng phổ biến nhất là mệt mỏi, giảm lượng máu, buồn nôn và nôn, rụng tóc, chán ăn, tiêu chảy, khô miệng, mất thính giác và viêm loét họng miệng, có thể dẫn đến nhiễm trùng.

Liệu pháp nhắm đích

Liệu pháp nhắm trúng đích là một phương pháp điều trị nhắm vào các gen ung thư, protein hoặc can thiệp vào môi trường nội mô, mà chúng góp phần vào sự tăng sinh của các tế bào ung thư. Loại điều trị này ngăn chặn sự phát triển và lan rộng của các tế bào ung thư đồng thời hạn chế tác dụng phụ đến các tế bào khỏe mạnh.

Không phải tất cả các khối u đều có cùng một cơ chế. Do đó để tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất, bác sĩ có thể tiến hành các xét nghiệm để xác định gen, protein và các yếu tố khác chịu trách nhiệm cho sự tăng sinh khối u. Điều này giúp các bác sĩ cá thể hóa các phương pháp điều trị sao cho mang lại hiệu quả cao nhất có thể. Ngoài ra, các nghiên cứu hiện nay đang tiếp tục tìm ra được các đích phân tử mới và phương pháp điều trị nhắm vào chúng.

Cetuximab (Erbitux) là một loại thuốc điều trị nhắm đích được chỉ định kết hợp với xạ trị cho bệnh ung thư đầu cổ tiến triển tại chỗ, hoặc kết hợp với hóa trị để điều trị bệnh nhân ung thư di căn (xem bên dưới).

Hãy thảo luận với bác sĩ về các tác dụng phụ không mong muốn  và cách xử trí đối với từng loại thuốc cụ thể.

Liệu pháp miễn dịch

Liệu pháp miễn dịch, còn được gọi là liệu pháp sinh học, được thiết kế để tăng khả năng phòng vệ tự nhiên của cơ thể để chống lại ung thư. Liệu pháp này bao gồm việc sử dụng các chất được tạo ra bởi cơ thể hoặc trong phòng thí nghiệm để cải thiện, hoặc khôi phục chức năng hệ thống miễn dịch. Có 2 loại thuốc điều trị miễn dịch là Nivolumab (Opdivo) và Pembrolizumab (Keytruda) được chấp thuận để điều trị bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy tái phát hoặc di căn sau khi đã dùng các thuốc hóa trị trên nền platium. Liệu pháp miễn dịch kết hợp với hóa trị và xạ trị cũng có thể được chỉ định trong các thử nghiệm lâm sàng.

Các loại liệu pháp miễn dịch khác nhau có thể gây ra tác dụng phụ khác nhau. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm phản ứng da, triệu chứng giống cúm, tiêu chảy và thay đổi cân nặng.

Ảnh hưởng về thể chất, tinh thần và xã hội của bệnh ung thư

Ung thư và phương pháp điều trị ung thư gây ra các triệu chứng thực thể và tác dụng phụ, cũng như ảnh hưởng về cảm xúc, xã hội và tài chính. Kiểm soát tất cả các hiệu ứng này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ. Đây là một phần quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân, lồng ghép với các phương pháp điều trị khác nhằm làm chậm, ngăn chặn hoặc loại bỏ ung thư.

Chăm sóc giảm nhẹ tập trung vào việc cải thiện cảm giác của bệnh nhân trong quá trình điều trị bằng cách kiểm soát các triệu chứng và hỗ trợ bệnh nhân và gia đình họ với các nhu cầu ngoài y tế khác. Bất kỳ người nào, bất kể tuổi tác hay loại và giai đoạn ung thư, đều có thể được chăm sóc giảm nhẹ. Và chăm sóc giảm nhẹ đạt được hiệu quả tốt nhất khi được bắt đầu ngay sau khi chẩn đoán ung thư. Những người được chăm sóc giảm nhẹ song hành cùng với điều trị ung thư thường có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn và hài lòng hơn với việc điều trị.

Các phương pháp điều trị giảm nhẹ rất khác nhau bao gồm liệu pháp dùng thuốc, liệu pháp dinh dưỡng, kỹ thuật thư giãn, hỗ trợ cảm xúc và tinh thần, và các liệu pháp khác.

Trong quá trình điều trị, nhóm chăm sóc giảm nhẹ có thể yêu cầu bệnh nhân trả lời các câu hỏi hay mô tả về các triệu chứng và tác dụng phụ mà bệnh nhân đang gặp phải. Điều này giúp đội ngũ chăm sóc điều trị các triệu chứng và tác dụng phụ nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nó cũng có thể giúp ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng trong tương lai.

Ung thư di căn

Ung thư di căn là loại ung thư lan sang một bộ phận khác trong cơ thể từ cơ quan ban đầu. Nếu điều này xảy ra, hãy thảo luận với các bác sĩ chuyên khoa để tìm ra phương pháp điều trị tốt nhất. Các bác sĩ có thể có nhiều ý kiến ​​khác nhau về kế hoạch điều trị. Việc tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng cũng có thể được cân nhắc. Hãy tìm hiểu thêm về các phương pháp điều trị khác nhau để bạn có thể cảm thấy thoải mái nhất với kế hoạch điều trị đã chọn.

Thông thường, các chọn lựa điều trị ở giai đoạn này bao gồm hóa trị liệu toàn thân, chỉ định thuốc tiêu chuẩn hoặc thuốc đang được nghiên cứu như một phần của các thử nghiệm lâm sàng. Cũng có thể kết hợp liệu pháp nhắm đích, liệu pháp miễn dịch, phẫu thuật hoặc xạ trị. Một số thử nghiệm lâm sàng tập trung vào điều trị khối u với những thay đổi di truyền cụ thể, được gọi là đột biến. Để tham gia vào các loại thử nghiệm lâm sàng này, bệnh nhân sẽ phải làm các xét nghiệm phân tử để tìm kiếm các gen, protein cụ thể hoặc các yếu tố khác duy nhất cho khối u. Chăm sóc giảm nhẹ cũng sẽ rất quan trọng để giúp giảm triệu chứng và tác dụng phụ.

Đối với hầu hết bệnh nhân, việc đón nhận chẩn đoán ung thư di căn sẽ rất khó khăn và khó chấp nhận. Bệnh nhân và gia đình nên thảo luận với bác sĩ, y tá, nhân viên y tế xã hội hoặc các thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khỏe về tình cảnh hiện tại của mình. Việc trò chuyện với những bệnh nhân ung thư khác thông qua một nhóm hỗ trợ cũng sẽ rất có ích.

Lui bệnh và nguy cơ tái phát

Lui bệnh là khi ung thư không còn được phát hiện trong cơ thể và bệnh nhân không còn triệu chứng. Đó là tình trạng khi không còn bất cứ dấu hiệu nào cho thấy ung thư còn đang tồn tại trong cơ thể.

Lui bệnh có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Sự không chắc chắn này khiến nhiều người lo lắng rằng ung thư sẽ quay trở lại. Mặc dù trong đa số trường hợp sự thuyên giảm là vĩnh viễn, bệnh nhân vẫn nên thảo luận với bác sĩ về khả năng ung thư tái phát. Việc hiểu được nguy cơ tái phát ung thư và các lựa chọn điều trị có thể giúp bệnh nhân chuẩn bị tốt hơn nếu ung thư quay trở lại.

Nếu ung thư xuất hiện trở lại sau khi điều trị ban đầu, thì được gọi là ung thư tái phát. Ung thư có thể tái xuất hiện ở cùng một nơi (được gọi là tái phát tại chỗ), gần đó (tái phát tại vùng) hoặc ở một cơ quan khác (tái phát xa). Tái phát thường xảy ra trong 18 đến 24 tháng đầu sau khi điều trị ban đầu. Những người ngừng hút thuốc lá và rượu, tốt nhất là trước khi bắt đầu điều trị, có cơ hội sống lâu hơn. Sử dụng thuốc lá trong quá trình xạ trị sẽ làm giảm hiệu quả của xạ trị.

Đánh giá giai đoạn ung thư tái phát dựa vào một loạt các xét nghiệm làm cơ sở cho các chọn lựa điều trị lại. Thông thường kế hoạch điều trị lại cũng sẽ bao gồm các phương pháp điều trị được nêu ở trên, như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và liệu pháp nhắm đích, nhưng với một cách kết hợp khác và một mức độ khác. Bác sĩ có thể đề xuất các thử nghiệm lâm sàng đang nghiên cứu những cách mới để điều trị loại ung thư tái phát này. Cho dù phương pháp điều trị nào, chăm sóc giảm nhẹ sẽ rất quan trọng để làm giảm các triệu chứng và tác dụng phụ.

Những người bị ung thư tái phát thường trải qua những cảm xúc như hoài nghi hoặc sợ hãi. Hãy thảo luận với nhóm chăm sóc sức khỏe về những cảm xúc này và tìm hiểu về các dịch vụ hỗ trợ để giúp bạn đối phó với bệnh cảnh.

Nếu điều trị không hiệu quả

Không có gì đảm bảo được rằng bệnh nhân sẽ phục hồi hoàn toàn sau điều trị ung thư. Nếu ung thư không thể được chữa khỏi hoặc kiểm soát, thì đó gọi là ung thư tiến triển hoặc giai đoạn cuối.

Việc đón nhận một chẩn đoán như trên sẽ gây ra nhiều căng thẳng và đối với nhiều người, việc thông báo chẩn đoán ung thư tiến triển sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên, điều quan trọng là có các cuộc trò chuyện cởi mở và trung thực với nhóm chăm sóc sức khỏe của bạn để bày tỏ cảm xúc, mong muốn và mối quan tâm của bạn. Đội ngũ chăm sóc sức khỏe có các kỹ năng, kinh nghiệm kiến ​​thức đặc biệt, và luôn sẵn sàng để giúp đỡ bệnh nhân và gia đình của họ; và điều vô cùng quan trọng là bảo đảm cho bệnh nhân cảm thấy thoải mái về thể chất, không bị đau đớn và được hỗ trợ về mặt cảm xúc.

Những bệnh nhân bị ung thư tiến triển và dự kiến ​​sống không quá 6 tháng có thể muốn xem xét chăm sóc an dưỡng cuối đời. Kế hoạch chăm sóc an dưỡng cuối đời được thiết kế làm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Cần thảo luận với nhóm chăm sóc sức khỏe về các lựa chọn chăm sóc an dưỡng cuối đời, bao gồm chăm sóc tại nhà, trung tâm an dưỡng đặc biệt hoặc các địa điểm chăm sóc sức khỏe khác. Chăm sóc điều dưỡng cùng với các thiết bị đặc biệt có thể làm cho việc chăm sóc tại nhà là một lựa chọn khả thi cho nhiều gia đình.

Sau cái chết của một người thân yêu, nhiều người cần sự hỗ trợ để giúp họ đối mặt với sự mất mát.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/laryngeal-and-hypopharyngeal-cancer/types-treatment?fbclid=IwAR1eXtyTaDFvHdt1zFBZ5EqLM9-DEMo9QbOAR05kamdlDYXFnYhrwNPLWnE

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.
fb-share-icon0