Thứ Hai , 14 Tháng Mười 2019
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Các bệnh Ung thư Ung thư thực quản: Lựa chọn phương pháp điều trị

Ung thư thực quản: Lựa chọn phương pháp điều trị

 

Bài viết này nói về các phương pháp điều trị mà bác sĩ hay sử dụng cho bệnh nhân ung thư thực quản. Chúng là những phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho loại ung thư này. Điều trị tiêu chuẩn nghĩa là phương pháp điều trị tốt nhất đã được biết đến.

Khi đưa cân nhắc phương pháp điều trị, bạn cũng được khuyến khích xem xét thử nghiệm lâm sàng như một lựa chọn. Thử nghiệm lâm sàng là một nghiên cứu khoa học để tìm kiếm một cách tiếp cận mới trong điều trị. Các bác sĩ muốn biết liệu phương pháp điều trị mới có an toàn, hiệu quả và có thể tốt hơn các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hay không. Đó có thể là thử nghiệm một loại thuốc mới, một sự kết hợp mới của các phương pháp điều trị tiêu chuẩn, liều/lịch trình mới của thuốc đã công nhận. Bác sĩ phụ trách có thể giúp xem xét tất cả các lựa chọn điều trị cho bạn.

Tổng quan về điều trị

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, các bác sĩ chuyên khoa khác nhau sẽ làm việc cùng nhau để đưa ra kế hoạch điều trị tổng thể cho bệnh nhân bằng cách kết hợp các phương pháp điều trị khác nhau. Đây được gọi là điều trị đa mô thức. Nhóm này bao gồm cả nhiều chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe như trợ lý bác sĩ, điều dưỡng, y tá chuyên khoa ung bướu, nhân viên xã hội, dược sĩ, nhân viên tư vấn, chuyên gia dinh dưỡng …

Các phương pháp điều trị ung thư thực quản phổ biến sẽ được liệt kê bên dưới. Kế hoạch chăm sóc cũng gồm điều trị triệu chứng và tác dụng phụ, đó là một phần quan trọng trong điều trị ung thư.

Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào một số yếu tố: loại và giai đoạn ung thư, tác dụng phụ, nguyện vọng cá nhân, tổng trạng của bệnh nhân. Hãy dành thời gian để tìm hiểu về tất cả những phương pháp điều trị và đặt câu hỏi về những điều bạn chưa rõ. Bạn có thể trao đổi với bác sĩ về mục tiêu và những gì có thể xảy ra trong mỗi đợt điều trị.

Đối với khối u chưa xâm lấn ra ngoài thực quản và hạch bạch huyết, bác sĩ thường khuyên bạn nên kết hợp các phương pháp điều trị khác nhau: xạ trị, hóa trị và phẫu thuật. Trình tự điều trị sẽ được thay đổi dựa vào loại ung thư thực quản. Cụ thể, trong ung thư tế bào vảy, kết hợp hóa trị và xạ trị, gọi là hóa xạ trị, thường được khuyến cáo là phương pháp điều trị đầu tiên. Có thể sẽ phẫu thuật sau đó tùy thuộc vào hiệu quả của hóa xạ trị. Những nghiên cứu gần đây cho thấy hóa xạ trị trước phẫu thuật là tốt hơn so với phẫu thuật đơn độc. Với ung thư biểu mô tuyến, phương pháp điều trị phổ biến nhất ở Hoa Kỳ là hóa trị và xạ trị sau khi phẫu thuật. Phẫu thuật hầu như luôn được khuyến cáo sau khi hóa xạ trị, trừ khi có những yếu tố làm tăng nguy cơ từ phẫu thuật, chẳng hạn như tuổi hay tổng trạng của bệnh nhân.

Còn đối với ung thư thực quản đã di căn, điều trị thường chỉ là hóa trị và đôi khi kết hợp xạ trị.

Điều trị triệu chứng và tác dụng phụ

Điều trị ung thư thường gây ra tác dụng phụ hay tác dụng ngoại ý. Ngoài việc làm chậm, ngăn chặn hay loại bỏ hoàn toàn ung thư, một phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân ung thư là điều trị triệu chứng và tác dụng phụ. Cách tiếp cận này còn được gọi là chăm sóc giảm nhẹ, bao gồm cả hỗ trợ bệnh nhân về các nhu cầu thể chất, tình cảm và xã hội.

Chăm sóc giảm nhẹ là bất kỳ phương pháp điều trị nào tập trung vào việc hạn chế các triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ. Mọi bệnh nhân, bất kể tuổi tác, dân tộc, giai đoạn ung thư,… đều nên được chăm sóc giảm nhẹ song song. Điều này được thực hiện càng sớm càng tốt. Trong thực tế, những bệnh nhân được điều trị khối u lẫn chăm sóc giảm nhẹ cùng lúc thường có triệu chứng nhẹ nhàng hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn, và họ hài lòng hơn với quá trình điều trị.

Điều trị giảm nhẹ rất đa dạng, bao gồm dùng thuốc, thay đổi chế độ dinh dưỡng, hỗ trợ cảm xúc, thư giãn và các liệu pháp khác. Thảo luận với bác sĩ về mục tiêu của từng đợt trong kế hoạch điều trị.

Trước khi bắt đầu điều trị, hãy trao đổi với nhóm chăm sóc sức khỏe về những tác dụng phụ có thể xảy ra trong kế hoạch điều trị cụ thể và các lựa chọn điều trị giảm nhẹ. Trong và sau khi điều trị, hãy báo cho bác sĩ hoặc thành viên nhóm chăm sóc về những thay đổi trên cơ thể bạn để có thể xử trí kịp thời.

Phẫu thuật

  • Phẫu thuật triệt căn

Phẫu thuật triệt căn là việc loại bỏ khối u và một vùng mô lành xung quanh. Bác sĩ ngoại ung bướu là bác sĩ chuyên điều trị ung thư bằng phẫu thuật. Phương pháp điều trị phổ biến nhất đối với ung thư thực quản là phẫu thuật. Tuy nhiên, hiện tại phẫu thuật chỉ được sử dụng làm phương pháp điều trị chính cho những bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn sớm.

Đối với bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn xâm lấn tại chỗ – di căn, thì việc kết hợp hóa trị và xạ trị (xem bên dưới) để thu nhỏ khối u có thể được cân nhắc trước phẫu thuật. Ở những bệnh nhân không thể phẫu thuật, lựa chọn điều trị tốt nhất là sự kết hợp giữa hóa trị và xạ trị.

Phẫu thuật phổ biến nhất để điều trị ung thư thực quản là cắt thực quản. Bác sĩ sẽ loại bỏ phần thực quản bị ảnh hưởng bởi ung thư sau đó nối phần còn lại với dạ dày để bệnh nhân có thể nuốt bình thường. Dạ dày hoặc một phần của ruột non đôi khi có thể được dùng để tạo miệng nối. Phẫu thuật viên cũng sẽ nạo hạch bạch huyết xung quanh thực quản để giảm thiểu nguy cơ tái phát/di căn.

Trước khi phẫu thuật, hãy trao đổi với nhóm chăm sóc về những tác dụng phụ có thể xảy ra từ cuộc mổ.

  • Phẫu thuật giảm nhẹ

Phẫu thuật ngoài tác dụng điều trị, còn có thể giúp bệnh nhân phục hồi khả năng ăn uống và làm giảm nhẹ các triệu chứng gây ra bởi ung thư, gọi là phẫu thuật giảm nhẹ. Để thực hiện điều này, phẫu thuật viên và bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa, những chuyên gia về lĩnh vực dạ dày và ruột non, có thể:

  • Mở thông dạ dày ra da hoặc mở thông hỗng tràng (một phần của ruột non) ra da tạo đường nuôi ăn đưa chất dinh dưỡng trực tiếp vào dạ dày hoặc hỗng tràng của bệnh nhân. Việc này có thể thực hiện trước khi bệnh nhân hóa trị và xạ trị để đảm bảo dinh dưỡng duy trì cân nặng, sức khỏe của mình trong quá trình điều trị.
  • Nối tắt hoặc tạo một con đường mới vào dạ dày, nếu khối u làm tắc thực quản mà không thể can thiệp phẫu thuật. Tuy nhiên phương pháp này hiện nay ít được sử dụng.

Những bệnh nhân gặp vấn đề trong việc ăn uống có thể nuôi ăn tĩnh mạch dài ngày trước và sau phẫu thuật cũng như dùng kháng sinh dự phòng, điều trị nhiễm khuẩn. Ngoài ra bệnh nhân cần học những bài tập ho, hít thở để phòng viêm phổi.

  • Can thiệp nội soi

Các phương pháp điều trị sau đây ứng dụng nội soi vào điều trị ung thư thực quản và giảm ảnh hưởng bất lợi của khối u:

  • Nội soi nong thực quản: phương pháp này sẽ làm rộng thực quản, có thể lặp lại can thiệp nếu khối u tăng kích thước.
  • Nội soi đặt ống thông: phương pháp này giúp chèn ống thông vào thực quản qua nội soi. Ống thông có thể bằng kim loại, nhựa dạng lưới, … để giữ cho lòng thực quản không hẹp.
  • Đốt điện: Phương pháp điều trị này tiêu diệt tế bào ung thư bằng nhiệt điện. Đôi lúc phương pháp này giúp giảm nhẹ triệu chứng bằng cách loại bỏ tắc nghẽn bởi khối u.
  • Liệu pháp áp lạnh: phương pháp này dùng máy nội soi gắn thêm một đầu dò có thể làm đông và loại bỏ mô ung thư. Nó có thể làm giảm kích thước khối u giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn.

Xạ trị

Xạ trị là cách điều trị sử dụng tia X năng lượng cao hoặc loại tia phóng xạ khác nhằm phá hủy tế bào ung thư. Phác đồ xạ trị thường gồm một số lần chiếu xạ nhất định trong một khoảng thời gian ngắn. Phương pháp xạ trị phổ biến nhất là xạ ngoài, bao gồm việc chiếu tia xạ từ một thiết bị đặt ngoài cơ thể.

Khi nguồn xạ được đưa trực tiếp vào trong cơ thể, gọi là xạ trong hay cận xạ trị. Ứng dụng trong ung thư thực quản, bác sĩ sẽ nguồn phát tia xạ vào thực quản qua nội soi. Phương pháp này không/chưa phổ biến ở Việt Nam.

Liệu pháp dùng tia proton đang được nghiên cứu ứng dụng vào trong điều trị ung thư thực quản. Đó là một dạng xạ ngoài sử dụng tia proton thay vì tia X. Ở năng lượng cao, tia proton có thể phá hủy tế bào ung thư. Phương pháp này không/chưa phổ biến ở Việt Nam.

Tác dụng phụ do xạ trị có thể gồm mệt mỏi, kích ứng da nhẹ, đau rát họng, thực quản, khó nuốt hoặc đau khi nuốt, đau dạ dày, buồn nôn, tiêu chảy. Hầu hết các tác dụng không mong muốn này sẽ biến mất sau khi kết thúc điều trị

Hóa trị

Hóa trị là phương pháp ảnh hưởng lên toàn thân bằng thuốc truyền hoặc thuốc uống. So với xạ trị hay phẫu thuật là điều trị cục bộ/tại chỗ, hóa trị có thể giúp phá hủy tế bào ung thư ở nhiều nơi cùng lúc.

Các thuốc hóa trị đang dùng hiện nay bao gồm:

  • Thuốc hóa trị thường quy
  • Thuốc nhắm đích
  • Thuốc miễn dịch

Thuốc có thể được dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với nhiều thuốc khác. Thuốc hóa trị cũng có thể được dùng kèm xạ trị, trong tổng thể kế hoạch điều trị bao gồm cả phẫu thuật đi trước/sau đó.

Vì sự phức tạp của chỉ định, hãy trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để tìm hiểu về loại thuốc phù hợp cho bạn, hiểu mục tiêu điều trị, tác dụng phụ và tương tác thuốc để có lợi ích cao nhất từ điều trị.

Thuốc hóa trị thường quy

Hóa trị thường quy, hay kinh điển là phương pháp dùng thuốc tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách đánh vào cơ chế tăng trưởng và phân chia của chúng.

Một phác đồ hóa trị thường gồm một số lần truyền/uống thuốc nhất định trong một khoảng thời gian. Bệnh nhân có thể được chỉ định một loại thuốc hoặc kết hợp nhiều loại thuốc khác nhau cùng lúc. Như đã giải thích ở trên, hóa trị và xạ trị thường được tiến hành đồng thời để điều trị ung thư thực quản, được gọi là hóa xạ trị.

Vì một số tế bào lành trong cơ thể cũng hay phân chia nhanh như tế bào máu hay niêm mạc đường tiêu hóa,…các tác dụng phụ của hóa trị bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, tăng nguy cơ nhiễm trùng, buồn nôn và nôn, tiêu chảy và chán ăn. Việc xảy ra hay không còn phụ thuộc vào cơ địa bệnh nhân và liều dùng. Những tác dụng phụ này thường sẽ biến mất sau khi kết thúc điều trị.

Thuốc nhắm đích

Liệu pháp điều trị đích nhắm vào các gene, protein hay các yếu tố đặc hiệu góp phần vào sự phát triển và tồn tại của tế bào ung thư. Phương pháp này ngăn chặn sự tăng trưởng và phát tán của các ung thư trong khi hạn chế tổn thương tế bào lành.

Tuy nhiên, không phải tất cả các loại khối u đều có cùng một “đích nhắm” và phù hợp với việc dùng thuốc nhắm đích. Để tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất, bác sĩ sẽ làm một vài xét nghiệm để xác nhận đặc tính sinh học của khối u. Các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành để tìm ra các đích mới, tối ưu hóa cách dùng thuốc nhắm đích.

Liệu pháp điều trị đích thường dùng trong ung thư thực quản bao gồm:

  • Liệu pháp nhắm vào thụ thể HER-2: Trong trường hợp bệnh di căn hay tái phát có khối u là dạng biểu mô tuyến (adenocarcinoma) dương tính với thụ thể HER2, thuốc Trastuzumab (Herceptin, Ogivri) kết hợp với hóa trị được xem như phương pháp điều trị đầu tay. Nếu ung thư không có các đặc tính này, thuốc nói trên ít có tác dụng và bác sĩ sẽ đề xuất phương pháp khác.
  • Liệu pháp chống tạo mạch máu: Vì khối u cần chất dinh dưỡng do các mạch máu cung cấp để tăng trưởng và phát tán, mục tiêu của thuốc chống tạo mạch máu là làm khối u “chết đói”. Trong trường hợp khối u nằm ở vùng ranh giới giữa thực quản và dạ dày, thuốc ramucirumab (Cyramza) đã được chứng minh có tác dụng, và là một trong những lựa chọn sau khi phác đồ hóa trị đầu tay không còn hiệu quả. Ramucirumab có thể được chỉ định đơn độc hoặc phối hợp với thuốc hóa trị thường quy paclitaxel hoặc abraxane.

Hãy trao đổi với bác sĩ về những tác dụng phụ có thể xảy ra đối với từng loại thuốc cụ thể mà bạn được chỉ định và biện pháp kiểm soát chúng.

Thuốc miễn dịch

Thuốc miễn dịch, còn được gọi là liệu pháp sinh học, đôi khi được dùng để giúp cơ thể tăng cường khả năng nhận diện và tấn công loại bỏ tế bào ung thư.

Hoạt chất Pembrolizumab (Keytruda) là một loại liệu pháp miễn dịch nhắm vào tín hiệu PD-1/PD-L1. Ở Hoa Kỳ, nó được chấp thuận dùng cho một số ca bệnh có biểu hiện PD-L1 dương tính, các đặc điểm cụ thể như dMMR, MSI-H và không đáp ứng với hóa trị. Vì chỉ định thuốc này rất phức tạp và có thể gây ra tác dụng phụ khác với thuốc hóa trị thường quy, hãy trao đổi cụ thể với các bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư thực quản di căn

Nếu ung thư phát tán sang cơ quan khác trong cơ thể, đó là tình trạng ung thư di căn. Trong trường hợp này, chăm sóc giảm nhẹ là rất quan trọng để làm giảm triệu chứng và ảnh hưởng xấu của ung thư. Mục tiêu điều trị thường là kéo dài tuổi thọ đồng thời kiểm soát triệu chứng như đau và các vấn đề về ăn uống. Hóa trị cũng như xạ trị có thể giúp kiểm soát khối u, qua đó giúp giảm đau hay giảm khó chịu. Ngoài ra, việc đặt ống thông thực quản, liệu pháp Laser, liệu pháp quang động hay liệu pháp áp lạnh có thể giúp giữ cho lòng thực quản không hẹp để bệnh nhân tiếp tục ăn uống qua đường miệng.

Hầu hết mọi người khó chấp nhận chẩn đoán ung thư di căn. Bệnh nhân và gia đình hãy trao đổi với bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên xã hội và những thành viên khác trong nhóm chăm sóc để chia sẻ nỗi buồn. Nói chuyện với những bệnh nhân khác và các nhóm hỗ trợ bệnh nhân ung thư cũng có thể giúp ích.

Thuyên giảm và khả năng tái phát

Bệnh thuyên giảm là khi ung thư không được tìm thấy trong cơ thể và không có triệu chứng. Điều này có thể được gọi là “Không có dấu hiệu của bệnh” (tiếng Anh viết tắt là NED).

Bệnh có thể thuyên giảm tạm thời hoặc vĩnh viễn. Sự không chắc chắn này khiến cho nhiều người lo lắng rằng ung thư sẽ quay trở lại. Trong khi nhiều trường hợp căn bệnh được chữa lành (thuyên giảm vĩnh viễn), vẫn nên trao đổi với bác sĩ về khả năng tái phát của ung thư. Hiểu được nguy cơ tái phát và phương pháp điều trị có thể giúp bạn chuẩn bị tốt hơn nếu ung thư quay trở lại.

Nếu ung thư trở lại sau điều trị thì được gọi là bệnh ung thư tái phát. Tùy tình huống mà tên gọi có thể khác nhau. Khi bệnh trở lại cùng vị trí cũ gọi là tái phát tại chỗ, nếu gần đó thì gọi là tái phát khu vực. Nếu là ở vị trí khác hoàn toàn thì là tái phát xa. Nếu điều này xảy ra, bạn cần được xét nghiệm kỹ lưỡng để tìm hiểu chi tiết về tình trạng cơ thể. Sau những kiểm tra này, bạn và bác sĩ sẽ thảo luận về phương pháp điều trị. Thường thì kế hoạch điều trị sẽ bao gồm các phương pháp điều trị đã được mô tả ở trên, bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị, nhưng cũng có thể kết hợp theo cách khác hoặc thứ tự khác. Bác sĩ của bạn có thể đề nghị cân nhắc tham gia thử nghiệm lâm sàng nếu phù hợp. Cho dù bạn lựa chọn phương pháp điều trị nào thì chăm sóc giảm nhẹ đều rất quan trọng để giảm các triệu chứng và tác dụng phụ. Những người mắc bệnh ung thư tái phát thường sẽ có cảm giác hoài nghi hoặc sợ hãi. Hãy trao đổi với nhân viên y tế về những cảm xúc này và hỏi về các dịch vụ hỗ trợ để giúp bạn vượt qua khó khăn.

Nếu điều trị không hiệu quả

Ung thư nhiều khi không thể chữa lành. Nếu không thể chữa khỏi hay kiểm soát, ung thư sẽ tiếp tục tiến triển và đi đến giai đoạn cuối.

Giai đoạn này đối với mọi người là rất khó khăn và khó tiếp nhận. Tuy nhiên, điều quan trọng là nên cởi mở và chân thật bày tỏ cảm xúc, ý muốn và mối quan tâm của bạn với nhóm chăm sóc. Các nhân viên y tế có nhiều kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng sẽ sẵn sàng giúp đỡ các bệnh nhân và gia đình. Việc giảm đau, giảm nhẹ gánh nặng triệu chứng (thể chất và cả tinh thần) là rất quan trọng.

Những người bị ung thư di căn và có tiên lượng sống dưới 6 tháng có thể cân nhắc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cuối đời (Hospice care). Nó được thiết kế để đem lại chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể cho bệnh nhân. Hãy nói chuyện với nhân viên y tế về những lựa chọn chăm sóc sức khỏe cuối đời: thực hiện tại nhà, tại trung tâm chăm sóc sức khỏe cuối đời hoặc ở nơi khác. Dịch vụ điều dưỡng và thiết bị y tế tại nhà có thể là lựa chọn khả thi cho bạn.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.net/cancer-types/esophageal-cancer/treatment-options

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.