Thứ Sáu , 19 Tháng Tư 2019

Bệnh bạch hầu

Bài viết thứ 55 trong 55 bài thuộc chủ đề Các bệnh Nhi khoa
 
Bệnh Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn Corynebacterium Diphtheria gây bệnh.

Đường lây truyền bệnh

Nguồn lây chủ yếu là người bệnh (thể điển hình hoặc thể ẩn). Người bệnh bài tiết vi khuẩn từ cuối thời kỳ ủ bệnh đến lúc khỏi về lâm sàng. Khi nói chuyện vi khuẩn theo nước bọt lây trực tiếp từ người này sang người khác, hoặc lây qua đồ dùng bị dính vi khuẩn bạch hầu. Người vừa khỏi bệnh còn mang vi khuẩn từ 2 tuần đến vài năm.
Đường lây truyền của bệnh:
  • Trực tiếp: Qua đường thở do khi nói, hắt hơi vi khuẩn truyền từ người bệnh sang người lành.
  • Gián tiếp: thông qua đồ dùng, thức ăn, đồ uống mang vi khuẩn của bệnh nhân. Ngoài ra có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da…

Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng của bệnh Bạch hầu tùy thuộc vào biểu hiện nhiễm trùng tại chỗ, tình trạng miễn dịch của bệnh nhân với bệnh bạch hầu, và mức độ lan tràn độc tố trong máu.

Bạch hầu Mũi

Như là một trường hợp viêm đường hô hấp, đặc biệt có chảy mũi nước và triệu chứng toàn thân nghèo nàn, dần dần chất dịch mũi trở nên nhầy quánh và rồi thì có khi có máu và làm tổn thương bờ môi trên, một mùi hôi có thể ghi nhận được và nếu thăm khám cẩn thận sẽ thấy một màng trắng trong hốc mũi. Hấp thu độc tố từ từ và thiếu vắng các triệu chứng toàn thân thường làm chậm chẩn đoán.

Bạch hầu họng – Amydal

Chán ăn, bất an, sốt, viêm họng, trong vòng 1- 2 ngày một màng giả xuất hiện. Màng giả ban đầu mỏng, màu xám, như màng nhện lan dần từ amydal đến vòm khẩu cái, màng giả rất dính với niêm mạc bên dưới và phủ mặt vòm hầu và thành sau họng có khi lan xuống thanh khí quản, nếu bóc tách màng giả gây chảy máu. Hạch bạch huyết vùng cổ phản ứng có khi phù nề vùng mô mềm của cổ rất trầm trọng tạo thành triệu chứng cổ bò “Bull neck” .
Tiến trình của bệnh bạch hầu còn tùy thuộc vào diện tích của màng giả và lượng độc tố sản xuất. Một số trường hợp có suy hô hấp và tuần hoàn, tỷ lệ mạch nhiệt độ gia tăng không tương ứng, khẩu cái có thể bị liệt, làm thay đổi giọng nói, ăn uống sặc và khó nuốt, lú lẫn, hôn mê và chết có thể tiếp theo trong vòng 7- 10 ngày, một số trường hợp hồi phục chậm, có biến chứng viêm cơ tim hay viêm dây thần kinh ngoại biên.

Bạch hầu thanh quản

Thông thường là một sự lan xuống của màng giả từ họng. Biến chứng lâm sàng: Khó thở dữ dội, diễn tiến có tiếng rít thanh quản, khàn giọng, cần gián biệt với các trường hợp viêm thanh quản do các nguyên nhân khác, phản xạ co kéo trên xương ức, thượng đòn, khoảng gian sườn rất dữ dội, có khi có sự tắc thanh quản và có thể chết trừ trường hợp được khai khí quản kịp thời. Thỉnh thoảng có khó thở đột ngột và tắc nghẽn gây chết đột ngột khi một phần màng giả bóc ra gây bít đường thở.

Bạch hầu ác tính

Triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc rầm rộ nặng nề. Bệnh nhân có thể có dấu cổ bò, kèm theo trụy tim mạch, suy hô hấp nặng, tổn thương màng giả tại chỗ cũng lan rộng, nhanh, nặng nề. Tiên lượng dè dặt. Tử vong nhanh.
Có 2 thể bạch hầu ác tính:
  • Thể tiên phát xuất hiện ngày đầu hoặc ngày thứ 2 của bệnh, với những dấu hiệu đột ngột như sốt cao (39-40 độ C) mệt lả, da xanh tái, nôn, nuốt đau, màng giả lan nhanh 2 bên amiđan, hơi thở hôi, hạch cổ sưng to, cổ bạnh ra. Bệnh nhân dần dần bị mệt lả, tím tái, sốt cao, xuất huyết nhiều nơi, khi uống nước sẽ bị sộc ra mũi, huyết áp hạ, mạch nhanh. Bệnh nhân có thể bị tử vong.
  • Thể thứ phát thường xuất hiện sau bạch hầu họng thông thường do điều trị muộn – Bạch hầu thanh quản: Phần lớn do bạch hầu họng thể thông thường không được điều trị kịp thời gây ra. Ở thể này, màng giả lan xuống tận thanh quản.
Giả mạc Bạch Hầu

Nhờ vào Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia mà nước ta hầu như đã khống chế thành công bệnh Bạch hầu trên phạm vi toàn quốc. Tỷ lệ mắc bạch hầu liên tục giảm từ năm 1984 đến nay, tương ứng với sự gia tăng tỷ lệ trẻ được tiêm chủng vắc xin DPT (Bạch Hầu-Ho gà-Uốn ván).
Việt Nam đã khống chế tỷ lệ mắc bạch hầu xuống dưới 0,04/100.000 dân. Đặc biệt năm 2010 tỷ lệ mắc bạch hầu trên 100.000 dân xuống dưới 0,01 với 6 ca rải rác và chỉ xảy ra duy nhất ở một tỉnh (TP. Hồ Chí Minh).

Tình hình bệnh bạch hầu ở Việt nam năm 2005 – 2012

Phòng bệnh bạch hầu

  • Phòng bệnh không đặc hiệu: Cách ly bệnh nhân ít nhất 2 ngày sau điều trị kháng sinh thích hợp và tiếp xúc cần đeo khẩu trang. Vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi… bằng dung dịch sát khuẩn.
  • Phòng bệnh đặc hiệu: Tiêm đủ 3 mũi vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT) hoặc vắc xin DPT-VGB-Hib cho trẻ dưới 1 tuổi. Tiêm nhắc lại DPT cho trẻ từ 18 tháng.
  • Người tiếp xúc với mầm bệnh. Tiêm một liều biến độc tố bạch hầu và điều trị Benzathine Pénicilline (600.000 đơn vị nếu < 30Kg hoặc 120.000 đơn vị nếu > 30 Kg), hoặc Erythromycine (40 – 50 mg/Kg/ngày x 7 -10 ngày).
  • Người mang mầm bệnh không có triệu chứng nếu phát hiện được do cấy tìm vi khuẩn, nhận một liều biến độc tố bạch hầu cho Pénicilline hoặc Erythromycine 7 -10 ngày và được theo dõi. Kháng độc tố không khuyến cáo sử dụng cho người tiếp xúc và người mang mầm bệnh không có triệu chứng.

Khuyến cáo phòng chống bệnh bạch hầu

  1. Đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu: Quinvaxem hoặc DTP, DT đầy đủ, đúng lịch.
  2. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.
  3. Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.
  4. Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

Thông điệp phòng chống bệnh bạch hầu

  1. Tiêm chủng là cách tốt nhất để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ em.
  2. Thực hiện tiêm ngừa đúng lịch, đủ mũi tiêm cho trẻ.
  3. Khi trẻ bị bệnh phải đưa ngay trẻ đến cơ quan y tế.
  4. Cho trẻ nghỉ học, sử dụng vật dụng riêng.
  5. Không cho trẻ tiếp xúc trẻ khác.
  6. Vì sức khoẻ của con bạn và hạnh phúc của gia đình hãy đưa con đi tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch.
  7. Tiêm chủng – lợi ích cho trẻ thơ, gia đình và đất nước.
  8. Vật dụng đồ chơi của trẻ phải được ngâm rửa bằng dung dịch sát khuẩn.
Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.