Thứ Ba , 30 Tháng Mười Một 2021
Trang chủ Thuốc Thảo mộc Capsaicin – Thông tin dành cho các chuyên gia y tế

Capsaicin – Thông tin dành cho các chuyên gia y tế

Bài viết thứ 18 trong 22 bài thuộc chủ đề Thảo mộc
 

Biên dịch: Nguyễn Thị Hà Lê

Hiệu đính: DS Điều Thị Ngọc Châu – Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Mskcc.org, tháng 10/2020.

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Yhoccongdong.com, tháng 8/2021

Tên biệt dược

  • Kem Zostrix 0,025% và 0,075%;
  • Miếng dán nóng Salonpas;
  • Sinus Buster ® (xịt mũi)

Tên khoa học

  • methyl-N-vanillyl-6-nonenamide

Tóm tắt lâm sàng

Capsaicin là thành phần hoạt chất chính có nguồn gốc từ quả ớt chuông hoặc ớt cayenne, thường được sử dụng để giảm đau cơ, khớp, đau đầu và điều trị bệnh vảy nến trong y học cổ truyền. Với các tác dụng này, capsaicin là thành phần hoạt chất trong một số kem bôi da hoặc xịt mũi. Các chế phẩm dạng uống trên thị trường phần lớn để điều trị các vấn đề về tiêu hóa và tuần hoàn, kém ăn và giảm cân.

Các nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của capsaicin dùng tại chỗ với nồng độ thấp đối với bệnh vảy nến, sẩn ngứa và ngứa hậu môn. Capsaicin cũng được khuyến cáo có lợi trong điều trị bệnh viêm xương khớp.

Một phân tích tổng hợp cho thấy capsaicin cho hiệu quả tương tự như NSAID dùng tại chỗ trong các bệnh đau xương khớp, tuy nhiên tác dụng trên bệnh viêm khớp dạng thấp chưa rõ. Một nghiên cứu lâm sàng khác cho thấy kem chứa 0,075% capsaicin có thể giảm cơn đau sau phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư. Một báo cáo trường hợp bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ sử dụng capsaicin 0,025% để giảm đau chi trên khi không dùng được opioid cũng cho thấy lợi ích của capsaicin.

Capsaicin – Thông tin dành cho các chuyên gia y tế
Capsaicin – Thông tin dành cho các chuyên gia y tế

Miếng dán chứa capsaicin nồng độ cao đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả đối với chứng đau dây thần kinh sau phẫu thuật, và đã được chấp thuận cho sử dụng theo đơn. Các dữ liệu cũng cho thấy capsaicin có tác dụng giảm đau tốt hơn pregabalin và hiệu quả đối với bệnh thần kinh ngoại vi do tiểu đường, đau thần kinh dị dạng và đau thần kinh phát sinh do bệnh lý phóng xạ nhưng không liên quan đến HIV.

Một đánh giá có hệ thống gần đây cho thấy một số lợi ích đối với điều trị đau thần kinh sau phẫu thuật và bệnh lý thần kinh do HIV trên các nhóm chứng. Tuy nhiên miếng dán chỉ được khuyến cáo sử dụng khi các liệu pháp khác đã thất bại do số lượng nhỏ bệnh nhân đạt được hiệu quả (1/8) và các nguy cơ chưa rõ ràng. Capsaicin nồng độ thấp được xác định là không có tác dụng cho các tình trạng này trên lâm sàng. Các dữ liệu cũng hạn chế đối với các bệnh nhân bị bệnh thần kinh sau phẫu thuật cắt bỏ vú.

Một nghiên cứu sơ bộ cho thấy bôi thuốc mỡ capsaicin 0,025% vào ống tai ngoài giúp cải thiện chức năng nuốt ở bệnh nhân cao tuổi mắc chứng khó nuốt. Trong các báo cáo khác, một số trường hợp capsaicin bôi tại chỗ có thể điều trị triệu chứng nôn do cần sa. Chỉ một số nghiên cứu nhỏ cho thấy capsaicin dùng trong mũi với các dạng bào chế khác nhau có lợi đối với bệnh viêm mũi và chưa có dữ liệu về hiệu quả của capsaicin đối với đau đầu từng cơn.

Vẫn còn các tranh cãi rằng liệu capsaicin là chất gây ung thư, chất đồng gây ung thư hay chất chống ung thư. Ví dụ, capsaicin đã được chứng minh có tác dụng chống tăng sinh và tác dụng giống với hóa trị liệu đối với các dòng tế bào khác nhau bao gồm tế bào ung thư vú, bàng quang và tuyến tiền liệt.

Ngoài ra một nghiên cứu nhỏ cho thấy công dụng của miếng dán da có nồng độ capsaicin cao trong việc giảm đau liên quan đến bệnh lý thần kinh ngoại biên do hóa trị liệu (CIPN). Tuy nhiên việc bôi capsaicin tại chỗ trong thời gian dài đã được chứng minh gây tăng sinh các tế bào ung thư da ở chuột được sử dụng chất kích thích khối u, mặc dù tác dụng đó có thể phụ thuộc nồng độ. Do đó cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ vai trò của capsaicin trong mối quan hệ với bệnh ung thư.

Nguồn cung cấp

Ớt cayenne, nước sốt cay có ớt

Mục đích sử dụng

  • Đau khớp
  • Bệnh thần kinh
  • Đau cơ
  • Ngứa
  • Nhức đầu

Cơ chế tác dụng

Tác dụng giảm đau của capsaicin là do nhiều yếu tố. Nó khử cực các thụ thể đau sợi C theo nhiều cách thức. Điều này gây ra sự giải phóng chất P – chất dẫn truyền thần kinh tín hiệu đau đến não, gây ra sự gia tăng cơn đau ban đầu. Nếu sử dụng nhiều lần, cơn đau sẽ giảm bớt do cạn kiệt P tại các tế bào thần kinh hướng tâm. Capsaicin cũng hoạt hóa các thụ thể vaniloid đặc hiệu (TRPV1, còn được gọi là thụ thể capsaicin), gây ra sự mất chức năng có chọn lọc và đảo ngược của các đầu dây thần kinh cảm giác trên da biểu hiện TRPV1.

Cải thiện chức năng nuốt ở bệnh nhân cao tuổi mắc chứng khó nuốt, đặc biệt là phản xạ đóng thanh mạc và ho, là do kích thích thần kinh phế vị Arnold qua trung gian TRPV1 với thuốc mỡ capsaicin.

Các nghiên cứu trên các dòng tế bào ung thư khác nhau đã chỉ ra rằng capsaicin có tác dụng giống với hóa trị bằng cách gây ra quá trình bắt giữ chu kỳ tế bào và gây ra chết tế bào theo chương trình, hoặc bằng cách tạo ra các loại oxy phản ứng (ROS), khử cực màng ty thể, và thông qua hoạt hóa caspase. Ngoài ra, caspaicin là chất đồng gây ung thư đối với tác nhân hóa học gây ung thư da thông qua trung gian là yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) chứ không phải TRPV1.

Tìm hiểu thêm về quá trình chết tế bào theo chương trình do capsaicin gây ra ở tế bào u thần kinh đệm, cho thấy rằng nguyên nhân có thể là do việc ức chế quá trình tự thực bào. Capsaicin cũng gây ra hiện tượng tự thực bào bằng cách tăng nồng độ các marker tự thực bào LC3-II và Atg5, tăng phân hủy p62 và Fap-1, tăng hoạt tính của enzym caspase -3 để tạo nên quá trình chết tế bào theo chương trình ở các tế bào ung thư biểu mô vòm họng ở người.

Cảnh báo

Capsaicin có thể gây kích ứng niêm mạc, mắt và vùng da bị tổn thương. Khi sử dụng tất cả các loại kem, gel và thuốc mỡ chứa capsaicin, hãy đeo găng tay trong quá trình sử dụng, sau đó rửa tay bằng xà phòng và nước để tránh làm lan rộng hoạt chất sang những vùng nhạy cảm này. Việc sử dụng capsaicin nên được cân nhắc khi gặp các tác dụng phụ trên tim mạch trong trường hợp không sử dụng các chất cấm đặc biệt là ở người trẻ.

Chống chỉ định

Bệnh nhân bị tăng huyết áp không ổn định hoặc kiểm soát huyết áp kém hoặc có tiền sử mắc các biến cố tim mạch hoặc mạch máu não gần đây, vì capsaicin có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ lên tim mạch.

Tác dụng không mong muốn

  • Thường gặp (thuốc không kê đơn dùng tại chỗ): Bỏng, nổi mày đay và viêm da tiếp xúc; ho nhẹ đến vừa; đau và ngứa tại chỗ bôi thuốc.
  • Thoáng qua (khi sử dụng trong mũi): Cảm giác bỏng rát, chảy nước mắt và sổ mũi.

Báo cáo trường hợp

  • Co thắt mạch vành và nhồi máu cơ tim cấp tính:

Quan sát thấy ở một người đàn ông 29 tuổi sau khi sử dụng miếng dán capsaicin tại chỗ trong 6 ngày. Tình trạng bệnh nhân đã được cải thiện sau khi điều trị triệu chứng và ngưng sử dụng miếng dán.

  • Viêm màng bồ đào trước cấp tính ở cả 2 bên:

Xảy ra ở một phụ nữ 38 tuổi 1–2 ngày sau khi dán miếng dán capsaicin nhằm giảm đau cơ cổ. Tình trạng viêm đã được kiểm soát trong vòng 1 tuần bằng cách sử dụng corticosteroid tại chỗ và không có tái phát sau thời gian theo dõi lâu dài.

  • Bỏng tại vị trí sử dụng:

Đã xảy ra các trường hợp bỏng nghiêm trọng sau khi sử dụng các sản phẩm capsaicin không kê đơn. Trong một số trường hợp, phải nhập viện. Ngưng sử dụng và tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu xảy ra đau, sưng hoặc phồng rộp sau khi sử dụng.

Tương tác thuốc- thảo dược

  • Thuốc ức chế men chuyển:

Chế phẩm chứa capsaicin dùng tại chỗ gây ho ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển.

  • Thuốc là chuyển hóa qua CYP450 2C19:

Ở mô hình động vật, capsaicin ức chế CYP2C19 và có thể ảnh hưởng đến nồng độ trong máu của các thuốc được chuyển hóa bởi enzym này. Sự liên quan về mặt lâm sàng vẫn chưa được xác định.

  • Thuốc chuyển hóa qua CYP450 3A4:

Ở mô hình động vật, capsaicin cảm ứng CYP3A4, có thể làm tăng độ thanh thải của các thuốc chuyển hóa qua CYP3A4 khi sử dụng đồng thời. Sự liên quan về mặt lâm sàng vẫn chưa được xác định.

Tài liệu tham khảo

https://www.mskcc.org/cancer-care/integrative-medicine/herbs/capsaicin