Thứ Năm , 1 Tháng Mười 2020
Trang chủ Chuyên mục Ung thư Chăm sóc giảm nhẹ trong ung thư Hoại tử vô mạch, hoại tử xương

Hoại tử vô mạch, hoại tử xương

Bài viết thứ 19 trong 27 bài thuộc chủ đề Chăm sóc giảm nhẹ trong ung thư trẻ em
 

Hoại tử vô mạch là gì?

Hoại tử vô mạch (AVN), còn được gọi là hoại tử xương, là tình trạng xảy ra khi các khu vực xương bị hoại tử vì cung cấp máu kém. AVN có thể xảy ra như là một tác dụng phụ của một số bệnh ung thư hoặc điều trị ung thư.

Trẻ em được điều trị bằng corticosteroid liều cao (dexamethasone và prednison) có nguy cơ cao hơn.

AVN có thể nhẹ và tự khỏi sau khi điều trị ung thư kết thúc, hoặc tình trạng có thể nghiêm trọng, gây đau đớn và tàn phế lâu dài.

AVN ở trẻ bị ung thư

AVN là một tác dụng phụ phổ biến của điều trị bệnh bạch cầu và ung thư hạch. Có tới một nửa số trẻ em được điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) có một số mức độ AVN. Trẻ em được ghép tủy xương cũng có nguy cơ mắc AVN cao.

Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ xương nào. Tuy nhiên, ở trẻ bị ung thư, AVN thường được nhìn thấy ở gần đầu xương dài, một khu vực được gọi là đầu xương.

AVN có thể gây đau và ảnh hưởng đến chức năng khớp, đặc biệt là ở đầu gối, hông, vai và mắt cá chân. Tổn thương xương và khớp có thể dẫn đến các vấn đề lâu dài bao gồm dính khớp và viêm khớp.

Trẻ lớn và thiếu niên có nhiều khả năng phát triển AVN trong điều trị ung thư so với trẻ nhỏ và người lớn. Nó ít phổ biến hơn ở trẻ dưới 10 tuổi.

Giai đoạn đầu của AVN có thể khó phát hiện. Bệnh nhân có thể không bị đau hoặc không có các triệu chứng khác cho đến khi tổn thương xương nghiêm trọng. Trẻ em có nguy cơ cao mắc AVN nên được theo dõi trong quá trình điều trị.

Điều trị AVN phụ thuộc vào đau và mức độ tổn thương xương. Điều trị đau và vật lý trị liệu có thể giúp bệnh nhân giảm triệu chứng. Một số bệnh nhân có thể cần phẫu thuật để cải thiện lưu lượng máu và giảm áp lực trong xương. Nếu tổn thương nghiêm trọng hoặc dính khớp xảy ra, bệnh nhân có thể cần phẫu thuật thay khớp.

Triệu chứng của AVN

Một số bệnh nhân có thể không có bất kỳ triệu chứng nào, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Khi tình trạng xấu đi, đau khớp và xương có thể xảy ra. Các gia đình có thể nhận thấy một đứa trẻ đi khập khiễng, tránh né động tác, hoặc bị cứng hoặc giảm vận động. AVN đôi khi có thể dẫn đến tiêu xương và cơn đau có thể trở nên tồi tệ hơn.

AVN có thể bị giới hạn ở một vị trí hoặc có thể ảnh hưởng đến nhiều xương (đa tiêu xương). Bởi vì hóa trị tác động trên khắp cơ thể, AVN thường xảy ra ở nhiều khớp ở trẻ bị ung thư, thường là đầu gối và / hoặc hông. Các khớp khác có thể bị ảnh hưởng bao gồm vai và mắt cá chân.

Đau và tàn tật thường phụ thuộc vào

  • Những khu vực của xương bị ảnh hưởng
  • Có bao nhiêu vị trí bị AVN
  • Tiến triển AVN nhanh hay chậm
  • Khả năng tự sửa của xương

Tuy nhiên, đau không phải là một chỉ số đáng tin cậy về mức độ nặng của AVN. Các vùng nhỏ AVN có thể rất đau đớn. Những bệnh nhân khác có thể không bị đau, ngay cả khi diện tích AVN rất lớn.

Triệu chứng AVN

  • Đau (có thể thoáng qua hoặc kéo dài)
  • Cứng 1 khớp
  • Đi khập khiễng hoặc thay đổi dáng đi
  • Tránh sử khớp nào đó hoặc hạn chế vận động
  • Gặp vấn đề đi lên/xuống cầu thang

AVN: Ai có nguy cơ?

  • Dexamethasone hoặc prednison liều cao trong điều trị ung thư
  • Trẻ em trên 10 tuổi
  • Bệnh hồng cầu hình liềm
  • Phóng xạ liều cao vào xương
  • Điều trị bằng asparaginase cộng với dexamethasone
  • Di truyền

Nguyên nhân của AVN

AVN là một quá trình phức tạp. Nguyên nhân chính của AVN là mất nguồn cung cấp máu cho xương. Khi các mạch máu quá nhỏ hoặc bị hư hỏng hoặc bị tắc, các chất dinh dưỡng và oxy không thể vào xương và các tế bào xương bắt đầu chết.

Các phương pháp điều trị ung thư, bao gồm hóa trị và xạ trị, có thể khiến các tế bào xương chết và / hoặc ảnh hưởng đến quá trình chữa lành. Do đó, xương có thể bị phá hủy nhanh hơn nó có thể tự sửa chữa. Điều trị cũng có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp máu cho xương, dẫn đến AVN.

Nhiều trẻ em sử dụng các loại thuốc corticosteroid (ví dụ: prednisone, dexamethasone) như là một phần của hóa trị. Những loại thuốc này cũng có thể được sử dụng để giúp kiểm soát các tác dụng phụ như buồn nôn và viêm. Tuy nhiên, corticosteroid có thể làm tăng các chất béo (lipid) trong máu. Sự tích tụ chất béo có thể khiến các mạch máu bị tắc nghẽn. Những loại thuốc này cũng có thể thay đổi các tế bào thành mạch máu, khiến các mạch máu trở nên mỏng hoặc yếu.

Dexamethasone liều cao, liên tục có liên quan đến nguy cơ mắc AVN cao nhất so với prednisone hoặc dexamethasone xen kẽ. Một số loại thuốc, chẳng hạn như asparaginase, cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của dexamethasone và làm tăng nguy cơ mắc AVN do cách thức các loại thuốc phối hợp với nhau. Các loại thuốc khác bao gồm methotrexate (MTX) có thể gây tổn thương xương và có thể làm tăng nguy cơ AVN, đặc biệt là khi sử dụng với corticosteroid.

Chẩn đoán AVN

Các trung tâm y tế khác nhau trong cách họ xác định và theo dõi bệnh nhân nguy cơ. Các xét nghiệm hình ảnh được sử dụng để xác định các vùng AVN, đôi khi được gọi là tổn thương. Chụp cộng hưởng từ (MRI) là xét nghiệm hình ảnh nhạy nhất để chẩn đoán AVN. X-quang ít nhạy cảm hơn nhưng có thể hữu ích để theo dõi tiến triển và theo dõi bệnh nhân sau phẫu thuật. Các loại xét nghiệm khác bao gồm Bonescans và chụp cắt lớp vi tính (CT) cũng có thể được sử dụng.

Đọc thêm – Sàng lọc hoại tử vô mạch ở bệnh nhân có nguy cơ

Sự tiến triển của AVN

Sự tiến triển của AVN là khó dự đoán. Các tổn thương có thể biến mất, ổn định hoặc trở nên tồi tệ hơn. Tiến triển có thể chậm hoặc nhanh.

Mức độ nặng hoặc giai đoạn của AVN rất quan trọng để lên kế hoạch điều trị. Các bác sĩ xem xét hai yếu tố chính:

  • Kích thước của tổn thương
  • Cho dù tổn thương là trong xương hỗ trợ bề mặt khớp

Nếu xương bị tổn thương không thể hỗ trợ bề mặt khớp, xương dưới sụn sẽ bắt đầu tiêu. Lớp sụn trơn nhẵn thường nối các khớp bắt đầu bong ra. Điều này dẫn đến các vấn đề về khớp như viêm khớp, gây đau và hạn chế vận động của khớp.

Tiêu khớp có nhiều khả năng nếu tổn thương:

  • Xảy ra trong xương gần với bề mặt khớp
  • Chiếm 30% hoặc nhiều hơn bề mặt
  • Xảy ra ở khớp chịu trọng lượng (hông, đầu gối)

Bởi vì đầu gối và hông là khớp chịu trọng lượng, sự tiêu khớp là phổ biến khi AVN nặng. Ở hông, khi AVN ảnh hưởng đến hơn 30% bề mặt khớp, sự tiêu khớp thường xảy ra trong vòng 2 năm.

Điều trị AVN

Điều trị AVN dựa trên từng bệnh nhân. Các bác sĩ sẽ xem xét:

  • Tuổi bệnh nhân
  • Sức khỏe bệnh nhân và giai đoạn ung thư
  • Các điều trị ung thư và lịch trình hóa trị
  • Giai đoạn AVN
  • Xương và khớp bị ảnh hưởng
  • Mức độ đau

Mục tiêu chính của điều trị là kiểm soát cơn đau, duy trì chức năng khớp và ngăn ngừa tổn thương thêm.

Chiến lược điều trị có thể bao gồm

Thuốc

Bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau như NSAID (meloxicam, celecoxib) hoặc acetaminophen. Tuy nhiên, một số loại thuốc giảm đau cũng có thể khiến bệnh nhân có nguy cơ chảy máu, các vấn đề về gan hoặc thận và tăng tác dụng phụ của hóa trị. Gia đình nên trao đổi với bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào, kể cả thuốc không kê đơn, để đảm bảo rằng nó không tương tác với các loại thuốc khác hoặc làm cho tác dụng phụ trở nên tồi tệ hơn.

Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu làm thế nào các loại thuốc ảnh hưởng đến lưu lượng máu, đông máu, viêm, chuyển hóa lipid và / hoặc tế bào xương có thể được sử dụng để ngăn ngừa hoặc điều trị AVN. Tuy nhiên, kết quả đã không cho thấy sự tương đồng.

Vật lý trị liệu

Vật lý trị liệu rất quan trọng đối với bệnh nhân mắc AVN. Một Bác sĩ vật lý trị liệu có thể đề xuất những cách để bệnh nhân giảm cân và tránh các hoạt động đau đớn. Họ có thể đưa ra các liệu pháp cụ thể như:

  • Các bài tập để giải quyết các vấn đề như yếu cơ, cứng khớp hoặc khó đi lại.
  • Các thiết bị hỗ trợ (đi bộ, nạng hoặc gậy) để giúp di chuyển và giảm trọng lượng đè vào khớp đau. Một nhà vật lý trị liệu sẽ cung cấp các lựa chọn phù hợp nhất và dạy cho bệnh nhân cách đi bộ với thiết bị.
  • Nẹp khớp hỗ trợ cho các khớp đau để giúp giảm đau trong các hoạt động hàng ngày
  • Hướng dẫn chăm sóc tại nhà bao gồm các bài tập, hướng dẫn hoạt động thể chất, và liệu pháp nhiệt và / hoặc đá lạnh.

AVN và hoạt động mang vác

Giảm mang vác có thể được khuyến cáo để ngăn ngừa tổn thương khớp, kiểm soát cơn đau và cho phép chữa lành sau khi phẫu thuật. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ và nhà vật lý trị liệu khuyên bệnh nhân nên vận động trong giới hạn cho phép. Hoạt động thể chất rất quan trọng để tăng lưu thông, thúc đẩy sửa chữa xương và tăng cường cơ bắp hỗ trợ khớp.

Bệnh nhân mắc AVN nên tránh các hoạt động vận động mạnh như chạy, nhảy và các môn thể thao tương tác. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân bị AVN nặng hơn để ngăn ngừa chấn thương và tiêu khớp.

Điều trị bổ sung hoặc tích hợp

Bệnh nhân có thể sử dụng các liệu pháp chăm sóc cơ thể như xoa bóp, châm cứu, phản hồi sinh học và các kỹ thuật thư giãn. Các kỹ thuật cụ thể có thể giúp bệnh nhân kiểm soát cơn đau, giảm căng thẳng, giảm căng cơ và cải thiện lưu lượng máu. Các gia đình nên nói chuyện với nhóm chăm sóc của họ trước khi thử bất kỳ liệu pháp mới nào để đảm bảo nó an toàn và phù hợp với từng bệnh nhân.

Điều chỉnh hóa trị

Trong trường hợp AVN nặng, nhóm chăm sóc có thể đề nghị thay đổi kế hoạch hóa trị để giảm corticosteroid. Những quyết định này phải được cân nhắc cân bằng với nguy cơ ảnh hướng đến toàn trạng bệnh nhân.

Phẫu thuật

Một số bệnh nhân có thể cần phẫu thuật để điều trị AVN. Phẫu thuật có thể được sử dụng để giúp thúc đẩy quá trình lành xương và ngăn ngừa tổn thương xương nặng hơn. Phẫu thuật cũng có thể cần thiết để thay thế khớp. Các phương pháp bao gồm:

Khoan giảm áp

Phương pháp này được sử dụng để giảm áp lực bên trong xương, thúc đẩy quá trình lành xương và tăng lưu lượng máu. Trong khoan giảm áp, bác sĩ phẫu thuật khoan các lỗ nhỏ vào xương bị để phá vỡ các mô bị tổn thương. Sau khi mô chết được loại bỏ, một vật liệu ghép xương có thể được thêm vào để lấp đầy khoảng trống. Phẫu thuật này là xâm lấn tối thiểu và sử dụng một vết mổ rất nhỏ, phục hồi sau vài tuần. Bệnh nhân thường hồi phục nhanh chóng, giảm đau và phục hổi chức năng.

Ghép xương

Phẫu thuật để điều trị AVN có thể bao gồm ghép xương để thay thế và xây dựng lại xương bị tổn thương. Điều này liên quan đến việc cấy ghép mô xương khỏe mạnh từ một bộ phận khác của cơ thể (tự ghép) hoặc từ một nguòi cho khác (dị ghép). Vật liệu nhân tạo cũng có thể được sử dụng. Nếu sụn bị tổn thương, mảnh ghép có thể bao gồm cả xương và sụn (ghép xương). Trong một số trường hợp, các mạch máu được cấy ghép cùng với mô xương. Đây được gọi là ghép xương mạch máu và có thể giúp cải thiện việc cung cấp máu cho khớp. Trong AVN, ghép xương thường được sử dụng cùng với giải nén lõi.

Nội soi khớp – Nội soi khớp

Là một loại phẫu thuật xâm lấn tối thiểu sử dụng một camera nhỏ và dụng cụ phẫu thuật nhỏ được đưa vào qua các vết mổ nhỏ. Đối với bệnh nhân mắc AVN, nội soi khớp có thể được sử dụng để sửa chữa sụn rách, làm phẳng bề mặt xương hoặc loại bỏ các mảnh mô lỏng lẻo trong khớp. Điều này có thể giúp đỡ với các triệu chứng như đau, cứng khớp và chẹn nghẹt khớp.

Cắt bỏ xương

Phẫu thuật này được sử dụng để định hình lại hoặc định vị lại xương để giảm trọng lượng trên khu vực bị tổn thương. Trong phương pháp này, một nêm xương được loại bỏ để xương có thể được xoay thay đổi tải trọng trên xương. Các tấm, ghim hoặc ốc vít giữ xương ở vị trí mới để chữa bệnh. Cắt bỏ xương có thể giúp ngăn ngừa sự tiêu khớp.

Thay khớp

Có thể cần phẫu thuật thay khớp nếu tổn thương nặng. Phẫu thuật này bao gồm loại bỏ xương bị hư hỏng và thay thế nó bằng khớp nhân tạo. Một số bệnh nhân trẻ sẽ cần thay khớp sau khi tiêu khớp. Tuy nhiên, thay thế khớp cũng phổ biến ở những người trưởng thành bị viêm khớp hoặc giảm chức năng khớp nhiều năm sau khi điều trị kết thúc. Bệnh nhân thay khớp ở tuổi trẻ có thể sẽ cần phẫu thuật bổ sung trong tương lai. Chẩn đoán và điều trị sớm AVN rất quan trọng để giúp ngăn ngừa hoặc trì hoãn phẫu thuật thay khớp.

AVN – Lời khuyên cho bệnh nhân và gia đình

  • Biết nguy cơ của bạn. Nói chuyện với nhóm chăm sóc của bạn về phương pháp điều trị ung thư (bao gồm cả liều nhận được) và các yếu tố nguy cơ khác.
  • Theo dõi các triệu chứng. Nói với nhóm chăm sóc khi bạn đau hoặc có các vấn đề về khớp, đặc biệt là các triệu chứng mới hoặc xấu đi. Sau khi điều trị, đảm bảo sức khỏe xương là một phần của kế hoạch chăm sóc sống sót của bạn.
  • Hãy vận động tích cực. Sửa đổi các hoạt động thể chất để giảm mang trọng lượng. Tránh các hoạt động vận động mạnh và thể thao tương tác để bảo vệ xương và khớp của bạn. Nếu bạn không chắc chắn về một hoạt động nào đó, hãy hỏi bác sĩ hoặc nhà vật lý trị liệu.
  • Mang giày hỗ trợ và sử dụng dụng cụ chỉnh hình và các thiết bị hỗ trợ theo quy định. Điều này rất quan trọng, giày dép phù hợp cũng có thể giúp ngăn ngừa té ngã và chấn thương khớp.
  • Đối với sức khỏe xương và sức khỏe nói chung, một lối sống lành mạnh rất quan trọng: Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, hoạt động thể chất, duy trì cân nặng khỏe mạnh và không hút thuốc.

Tài liệu tham khảo

Avascular Necrosis (AVN) / Osteonecrosis

 

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.