Chủ Nhật , 5 Tháng Tư 2020

Hội chứng Lynch

Bài viết thứ 3 trong 9 bài thuộc chủ đề Ung thư di truyền
 

Biên dịch: Nguyễn Đức Anh Quân

Biên tập: Đỗ Hồng Mạnh

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Cancer.net, tháng 8/2018

Được chấp thuận bởi Ban biên tập Yhoccongdong.com, tháng 7/2019

 

Hội chứng Lynch hay còn gọi là ung thư đại tràng di truyền không phát sinh polyp (Hereditary non-polyposis colorectal cancer, HNPCC), là một hội chứng ung thư di truyền thường có khuynh hướng di truyền cùng những loại ung thư khác. Điều này có nghĩa là những người mắc hội chứng Lynch tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư.

Ung thư khởi phát khi các tế bào bình thường bắt đầu thay đổi và phát triển ngoài tầm kiểm soát, tạo thành một khối gọi là khối u. Một khối u có thể là lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (ung thư). Khối u ác tính có thể xâm lấn sang các bộ phận khác của cơ thể. Khối u lành tính có thể tăng kích thước nhưng không di căn sang các cơ quan khác.

Những người mắc hội chứng Lynch có nguy cơ cao mắc ung thư đại trực tràng. Đồng thời cũng có nguy cơ phát sinh các loại ung thư khác như: ung thư nội mạc tử cung (tử cung), ung thư dạ dày, ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư ruột non (ruột), ung thư tụy, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường tiết niệu, ung thư gan, ung thư thậnung thư ống mật.

Hội chứng Lynch là một trong những hội chứng ung thư di truyền thường gặp nhất, và ước tính cho thấy cứ 300 người thì có thể có Một người bị đột biến gen liên quan đến hội chứng Lynch. Manh mối cho thấy có hội chứng Lynch trong một gia đình bao gồm: phát hiện ung thư đại trực tràng và/hoặc ung thư nội mạc tử cung ở nhiều người thân ở cùng một phía của một gia đình. Ngoài ra, các loại ung thư liên quan đến hội chứng Lynch thường được phát hiện khi còn trẻ. Những người mắc hội chứng Lynch cũng có nguy cơ mắc nhiều loại bệnh ung thư trong suốt cuộc đời.

ASCO (Hiệp hội lâm sàng ung thư Hoa Kỳ, American Society of Clinical Oncology) khuyến nghị nên làm xét nghiệm sàng lọc hội chứng Lynch ở tất cả những người được chẩn đoán ung thư đại trực tràng, đồng thời các hướng dẫn gần đây cũng đề nghị làm xét nghiệm này cho tất cả các bệnh nhân có ung thư nội mạc tử cung. Các khuyến nghị này và các khuyến nghị để sàng lọc được liệt kê dưới đây tại www.asco.org/endorsements/HereditaryCRC. (Xin lưu ý rằng liên kết này sẽ đưa bạn đến một trang web khác.)

Vậy dấu hiệu của hội chứng Lynch là gì?

Các tiêu chí được sử dụng để giúp các bác sĩ quyết định ai nên làm xét nghiệm kiểm tra hội chứng Lynch được gọi là Hướng dẫn của Bethesda đã được sửa đổi, được liệt kê dưới đây:

  • Ung thư đại trực tràng tiến triển hoặc ung thư nội mạc tử cung ở người dưới 50 tuổi.
  • Ung thư đại trực tràng tiến triển, ung thư nội mạc tử cung hoặc loại ung thư khác * cùng với sự suy giảm khả năng sửa chữa ADN (MMR-D, Mismatch Repair – Deficient) hoặc sự bất ổn định vi vệ tinh mức độ cao (MSI-H, Microsatellite Instability – High) được tìm thấy khi phân tích mẫu bệnh phẩm khối u.
  • Ung thư đại trực tràng tiến triển và các loại ung thư khác * liên quan đến hội chứng Lynch đơn lẻ hoặc cùng lúc.
  • Ung thư đại trực tràng ở 1 hoặc nhiều người thân gồm cha mẹ, anh chị em ruột và con cái, những người đã hoặc đang mắc một bệnh ung thư khác liên quan đến hội chứng Lynch *, với 1 trong số các bệnh ung thư này phát bệnh trước tuổi 50.
  • Ung thư đại trực tràng ở 2 hoặc nhiều người thân bao gồm cha mẹ, anh chị em ruột, con cái, dì, chú, ông bà, cháu ruột, cháu họ* (ung thư đại trực tràng, ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư dạ dày, ung thư ruột non, ung thư niệu quản hoặc ung thư thận, ung thư bàng quang, ung thư ống mật, ung thư tuyến tụy hoặc u tuyến bã nhờn của da).

Định nghĩa của hội chứng Lynch vẫn đang được hoàn thiện. Một người vẫn có thể mắc hội chứng này ngay cả khi các Hướng dẫn của Bethesda đã sửa đổi không hoàn toàn phù hợp với tiền sử bệnh lý của gia đình. Do đó, những người có tiền sử gia đình cho thấy có khả năng mắc hội chứng Lynch nên gặp chuyên gia y tế có đào tạo về các bệnh di truyền và các bệnh lý kèm theo để được tư vấn thêm.

Các thể khác của hội chứng Lynch

Muir-Torre là tên gọi khác của hội chứng Lynch ở những người có các tổn thương ở da hoặc khối u ở da, bao gồm u tuyến bã nhờn, biểu mô tuyến bã, ung thư biểu mô tuyến bã và ung thư biểu mô tế bào vảy. Vì những tổn thương da hiếm gặp này thường gặp ở những người mắc hội chứng Lynch, nên một người được chẩn đoán mắc các tổn thương này cần được đánh giá di truyền từ một chuyên gia y tế được đào tạo về lĩnh vực này.

Hội chứng Turcot là bệnh lý mà các bệnh nhân mắc phải sẽ phát triển các khối u não và ung thư ruột. Trong quá khứ, một số bệnh nhân mắc hội chứng Lynch và/hoặc hội chứng di truyền đa polyp thể tuyến (Familial Adenomatous Polyposis, FAP) được xem như dương tính với hội chứng Turcot. Tuy nhiên, hội chứng Turcot hiện nay không còn được xem là một hội chứng di truyền riêng biệt.

Vậy đâu là nguyên nhân gây ra hội chứng Lynch?

  • Hội chứng Lynch có tính di truyền. Tức là có nguy cơ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một gia đình. Những loại đột biến này được gọi là các đột biến có tính kế thừa, hoặc các đột biến germline (tạm dịch: đột biến dòng mầm) hiện diện trong toàn cơ thể. Sự thay đổi trong một số gen liên quan đến sửa chữa đột biến ADN có liên quan đến hội chứng Lynch. Bao gồm các gen MLH1, MSH2, MSH6, PMS2EPCAM. Một đột biến (thay đổi) trong bất kỳ gen nào trong số này sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng và các bệnh ung thư liên quan khác. Phụ nữ cũng có nguy cơ phát triển ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng nếu mang đột biến trên các gen này.
  • Không phải tất cả các gia đình xuất hiện hội chứng Lynch thì có  thay đổi trong những gen MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 hoặc EPCAM. Nhiều nghiên cứu đang được tiến hành để xác định các gen khác liên quan đến hội chứng Lynch. Một số người có sự thay đổi gen không phải do di truyền mà do quá trình lão hóa cơ thể hay chưa rõ nguyên nhân. Những loại đột biến này được gọi là đột biến mắc phải (acquired mutations). Nếu một khối u được phát hiện kèm theo sự biến đổi của các gen này (MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 hoặc EPCAM), máu của người bệnh cũng sẽ được kiểm tra. Nếu cả máu và khối u đều có biến đổi gen thì nhiều khả năng là do di truyền hơn là do mắc phải. Điều này có nghĩa là các thành viên khác trong gia đình có thể bị ảnh hưởng.

Hội chứng Lynch được di truyền như thế nào?

  • Thông thường, mỗi tế bào có 2 bản sao của mỗi gen: 1 được thừa hưởng từ bố và 1 được thừa hưởng từ mẹ. Hội chứng Lynch tuân theo sự di truyền trội tự phát (autosomal dominant), theo đó chỉ cần xảy ra đột biến ở 1 bản sao của gen thì người bệnh đã có nguy cơ mắc bệnh. Điều này có nghĩa là bố hoặc mẹ mang gen đột biến có thể di truyền 1 bản sao bình thường hoặc 1 bản sao bị đột biến của họ cho thế hệ sau. Do đó, con cái của họ có 50% nguy cơ thừa hưởng đột biến đó. Anh, chị của người bị đột biến cũng có tỉ lệ tương tự. Tuy nhiên, nếu bố mẹ có kết quả kiểm tra đột biến âm tính thì nguy cơ đối với anh chị em giảm đáng kể nhưng rủi ro của họ vẫn cao hơn mức trung bình.
  • Hiện nay đã có các giải pháp hạn chế nguy cơ di truyền hội chứng Lynch cho các thế hệ con cháu trong trường hợp cha mẹ mang đột biến gen của hội chứng này. Kiểm tra gen di truyền tiền cấy phôi (Preimplantation genetic diagnosis, PGD) là một thủ thuật thực hiện kết hợp với thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization, IVF). Biện pháp này cho phép những người đã được chẩn đoán mang gen đột biến giảm khả năng di truyền các đột biến này cho con cái. Trứng của người mẹ được lấy ra và thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Khi phôi đạt đến một kích thước nhất định, 1 tế bào sẽ được lấy ra và được kiểm tra tình trạng di truyền. Từ đó các chuyên gia có thể chọn cấy những phôi không có đột biến gen. PGD ​​đã được sử dụng hơn 2 thập kỷ và đã được áp dụng cho nhiều hội chứng di truyền có khuynh hướng tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, đây là một phương pháp phức tạp với các yếu tố tài chính, thể chất và cảm xúc cần được xem xét và cân nhắc kĩ trước khi bắt đầu. Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn hãy nói chuyện với chuyên gia sản khoa tại phòng khám sản khoa.

Hội chứng Lynch phổ biến như thế nào?

Hầu hết ung thư đại trực tràng là chưa rõ nguyên nhân. Chỉ khoảng 3-5% các trường hợp ung thư đại trực tràng và 2-3% các trường hợp ung thư nội mạc tử cung được cho là do hội chứng Lynch.

Chẩn đoán hội chứng Lynch như thế nào?

  • Hội chứng Lynch có thể được xác định thông qua xét nghiệm máu. Từ đó có thể xác định người mang gen đột biến có thể truyền lại (di truyền) đột biến gen liên quan đến hội chứng Lynch cho thế hệ sau. Hiện nay, xét nghiệm có thể phát hiện biến đổi ở các gen MLH1, MSH2, MSH6, PMS2EPCAM. Tuy nhiên, không phải gia đình nào có người mắc hội chứng Lynch cũng có đột biến ở 1 trong số các gen trên.
  • Các xét nghiệm sàng lọc cũng có thể được thực hiện trên một mảnh của khối u (ung thư) để xác định xem có phải đây là hội chứng Lynch hay không. Hai xét nghiệm sàng lọc được khuyến khích làm là xét nghiệm kiểm tra tính bất ổn định vi vệ tinh (Microsatellite Instability, MSI) và hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry, IHC). Kết quả của các xét nghiệm này có thể cho biết liệu bạn có nên làm  các xét nghiệm di truyền chi tiết hơn hay không.

Nguy cơ mắc ung thư liên quan đến hội chứng Lynch:

Nguy cơ chung đối với những người mắc hội chứng Lynch

Nguy cơ đối với phụ nữ mắc hội chứng Lynch:

Những lựa chọn giúp sàng lọc ung thư đối với hội chứng Lynch:

ASCO khuyến nghị các biện pháp sàng lọc sau đây cho những người mắc hội chứng Lynch. Điều quan trọng là bạn nên thảo luận về các lựa chọn này với Bác sĩ của bạn, vì mỗi cá nhân có những đặc điểm khác nhau.

Các xét nghiệm sàng lọc chung và giảm thiểu nguy cơ:

  • Nội soi đại tràng mỗi 1-2 năm, bắt đầu ở độ tuổi từ 20 đến 25 hoặc tuổi của người trẻ nhất trong gia đình đã được chẩn đoán ung thư trừ đi 5, tùy theo điều kiện nào xảy ra sớm hơn.
  • Nội soi qua đường miệng mỗi 3 đến 5 năm, cộng với xét nghiệm tìm vi khuẩn Helicobacter pylori là cơ sở cho việc điều trị nếu dương tính.
  • Khám da toàn thân hàng năm.
  • Cân nhắc việc sử dụng aspirin hàng ngày, điều này có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng và có thể các bệnh ung thư khác ở những người mắc hội chứng Lynch.
  • Sàng lọc các bệnh ung thư khác liên quan đến hội chứng Lynch có thể được khuyến nghị tùy thuộc vào tiền sử bệnh lý của gia đình, mặc dù hiệu quả của khuyến cáo này vẫn chưa được chứng minh.

Đối với phụ nữ:

  • Kiểm tra vùng chậu, siêu âm vùng chậu, sinh thiết nội mạc tử cung mỗi năm 1 lần từ lúc 30 tuổi đến 35 tuổi. Phụ nữ không còn nhu cầu sinh con có thể xem xét phẫu thuật cắt bỏ tử cung và buồng trứng, đặc biệt khi sàng lọc ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng chưa được chứng minh là có hiệu quả ở phụ nữ mắc hội chứng Lynch.
  • Các lựa chọn sàng lọc có thể thay đổi theo thời gian khi các công nghệ mới được phát triển và có thêm nhiều thông tin về hội chứng Lynch và các thể khác của nó. Điều quan trọng là bạn trao đổi với Bác sĩ của bạn để tìm ra những xét nghiệm sàng lọc thích hợp.

Bạn nên tìm hiểu thêm thông tin về những xét nghiệm và thủ thuật y khoa thường quy tại đây.

Các câu hỏi bạn nên trao đổi với các chuyên gia y tế

Nếu bạn lo lắng về nguy cơ ung thư đại trực tràng hoặc các loại ung thư khác, hãy liên hệ với các chuyên gia y tế của bạn. Có thể sẽ hữu ích nếu bạn mời thêm người đi cùng bạn đến cuộc hẹn với các chuyên gia y tế để ghi chú các thông tin. Bạn nên cân nhắc hỏi các chuyên gia y tế của bạn những câu hỏi sau:

  • Nguy cơ phát sinh ung thư đại trực tràng hoặc các loại ung thư khác là gì?
  • Tôi có thể làm gì để giảm nguy cơ ung thư?
  • Tôi có các lựa chọn sàng lọc ung thư nào?

Nếu bạn lo lắng về tiền sử bệnh lý gia đình và nghĩ rằng gia đình bạn có thể mắc hội chứng Lynch, hãy cân nhắc hỏi những câu hỏi sau:

  • Tiền sử gia đình của tôi có làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng hoặc các loại ung thư khác không? –      Tiền sử gia đình của tôi có làm tăng nguy cơ ung thư da hoặc các vấn đề về da khác không?
  • Các xét nghiệm MSI hoặc IHC đã được thực hiện trên mẫu khối u của tôi chưa?
  • Tôi có nên gặp một chuyên gia về di truyền không?
  • Tôi có nên cân nhắc làm xét nghiệm di truyền không?

Các nguồn dữ liệu liên quan

Sự di truyền của ung thư

Xét nghiệm di truyền

Những điều mong đợi khi bạn gặp cố vấn di truyền

Khai thác tiền sử ung thư trong gia đình bạn

Chia sẻ kết quả xét nghiệm di truyền với gia đình bạn

Thông tin thêm

Hội chứng Lynch quốc tế

http://www.lynchcancers.com/

Hiệp hội ung thư ruột già

www.ccalliance.org

C3: Hiệp hội ung thư đại trực tràng

www.fightcolorectalcancer.org

Di truyền đại tràng ung thư ruột

www.hcctakesguts.org

AliveAndKickn

http://aliveandkickn.org

Để tìm chuyên gia di truyền trong khu vực của bạn, hãy hỏi Bác sĩ của bạn hoặc truy cập các trang web sau:

Hiệp hội Cố vấn Di truyền Quốc gia

www.nsgc.org

Viện Ung thư Quốc gia: Thư mục Dịch vụ Di truyền Ung thư

www.cancer.gov/cancertopics/genetics/directory

Tài liệu tham khảo:

https://www.cancer.net/cancer-types/lynch-syndrome?fbclid=IwAR0BvXYa2O1uaytBUJJsXaTU7HCa9-5xWPOHK3B-GVlG9QoQGNav1ambdv0

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.
fb-share-icon0