Thứ Năm , 9 Tháng Bảy 2020

Tìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

Bài viết thứ 27 trong 28 bài thuộc chủ đề Ung thư vú
 

Người dịch: Hoàng Thu Hà

Người hiệu đính: BS. Nguyễn Minh Thuyên

Bài này cho bạn biết thông tin về kết quả giải phẫu bệnh của bạn, và có thể giúp bạn chuẩn bị câu hỏi khi gặp bác sĩ.

Giới thiệu

Thông tin trong các kết quả giải phẫu bệnh đến từ các xét nghiệm được làm trên các mô được lấy ra khỏi cơ thể bạn. Kết quả giải phẫu bệnh ung thư vú là quan trọng trong việc giúp các bác sĩ quyết định điều trị nào có thể có hiệu quả nhất đối với bạn và cũng giúp ước lượng khả năng ung thư vú tái phát.

Có thể có một số thuật ngữ giải phẫu bệnh bạn không hiểu. Bạn có thể tìm thấy danh sách các thuật ngữ phổ biến ở trang 4.

Giải phẫu bệnh là gì?

Giải phẫu bệnh là một ngành y học xem xét sự ảnh hưởng của bệnh tới các tế bào và mô của cơ thể.

Mô được lấy ra khỏi cơ thể (ví dụ trong khi sinh thiết hoặc phẫu thuật) được xem xét dưới kính hiển vi, và có thể nhiều xét nghiệm được thực hiện trên mô. Các kết quả được đưa ra trong báo cáo giải phẫu bệnh giải thích loại ung thư và các đặc tính của ung thư.

Các kết quả giải phẫu bệnh cũng có thể đến từ các xét nghiệm được gọi là phân tích gen nhưng chúng không phù hợp với tất cả mọi người (xem trang sau).

Chờ đợi kết quả

Hầu hết mọi người cảm thấy lo âu khi chờ kết quả giải phẫu bệnh. Bạn phải chờ bao lâu phụ thuộc vào loại sinh thiết hoặc phẫu thuật mà bạn trải qua và bạn được điều trị ở đâu. Các kết quả thường có được sau một tới hai tuần. Một số xét nghiệm có thể mất nhiều thời gian hơn các loại khác và có thể được thực hiện ở một bệnh viện khác với bệnh viện bạn điều trị. Thi thoảng các bác sĩ giải phẫu bệnh lấy ý kiến thứ hai về các kết quả do vậy có thể làm trì hoãn việc bạn có được kết quả. Bác sĩ hoặc điều dưỡng ung thư vú có thể cho bạn biết khoảng khi nào có kết quả.

Khi lần đầu tiên đọc kết quả, bạn có thể thấy khó hiểu và khó nhớ. Có thể nhờ họ hàng hoặc bạn bè đi cùng với bạn. Nếu bạn được giải thích nhưng bạn không hiểu thì hãy hỏi các bác sĩ hoặc các điều dưỡng. Bạn có thể xin một bản copy báo cáo giải phẫu bệnh để đọc kỹ cùng với một thành viên nhóm chăm sóc hoặc đọc sau.

Báo cáo giải phẫu bệnh là gì?

Mỗi khi mô được lấy ra, qua quá trình xử lý tùy thuộc vào yêu cầu xét nghiệm, mô được quan sát dưới kính hiển vi và bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ viết báo cáo.

Ví dụ, báo cáo sẽ được viết ra nếu bạn được sinh thiết một phần hoặc toàn bộ tổn thương (lấy ra mô để quan sát dưới kính hiển vi), phẫu thuật bảo tồn vú (lấy ra khối ung thư và biên (rìa) của mô vú bình thường chung quanh chỗ ung thư) hoặc phẫu thuật đoạn nhũ (lấy ra tất cả các mô vú kể cả khu vực núm vú).

Chi tiết trong mỗi báo cáo sẽ phụ thuộc vào mô nào được lấy ra và mức độ nhiều hay ít. Không phải tất cả báo cáo đều có cùng lượng thông tin. Ví dụ, một báo cáo giải phẫu bệnh sau sinh thiết sẽ không có thông tin mà báo cáo sau phẫu thuật có. Bạn có thể phải chờ tất cả các báo cáo giải phẫu bệnh được gửi về trước khi có thể quyết định kế hoạch điều trị đầy đủ.

Để có thêm thông tin về các loại phẫu thuật, đề nghị xem quyển Điều trị ung thư vú nguyên phát.

Trong báo cáo giải phẫu bệnh có thông tin gì?

Không phải tất cả các báo cáo giải phẫu bệnh sẽ giống nhau – mẫu báo cáo và thuật ngữ có thể thay đổi giữa các bệnh viện. Tuy nhiên, hầu hết các báo cáo đều theo cấu trúc sau.

Thông tin chung

Có thể gồm tên, ngày sinh và số hiệu bệnh viện, tên bác sĩ và ngày phẫu thuật hoặc sinh thiết.

Thông tin lâm sàng

Đây là thông tin cung cấp cho bác sĩ giải phẫu bệnh về mô vú bị tổn thương, như là mô vú nằm ở khu vực nào trong vú trước khi được lấy ra.

Các đặc điểm của mô vú trước khi được quan sát dưới kính hiển vi

Phần này của báo cáo được gọi là mô tả đại thể (bên ngoài), và có thể gồm thông tin về:

  • Kích thước, trọng lượng và hình dáng của mô.
  • Mô được chuẩn bị như thế nào để quan sát dưới kính hiển vi.

Các đặc điểm của ung thư được quan sát dưới kính hiển vi

Phần này của báo cáo được gọi là mô tả vi thể. Các đặc điểm này được giải thích trong mục “thông tin tìm thấy trong các kết quả giải phẫu bệnh ung thư vú”.

Tóm tắt các điểm chính

Đôi khi mục này sẽ là một danh sách ở phần cuối của báo cáo, dưới nhan đề ‘Chẩn đoán’.

Tất cả thông tin trong kết quả giải phẫu bệnh được xem xét cùng nhau khi quyết định điều trị cho bạn và những lợi ích của điều trị. Không được chỉ nhìn vào một vài thông tin  – các thông tin cần đặt trong mối liên quan tới tất cả các thông tin khác trong kết quả.

Các thuật ngữ giải phẫu bệnh phổ biến về ung thư vú

Độ mô học – hệ thống được dùng để phân loại các tế bào ung thư theo mức độ chúng biệt hóa (khác nhau) với tế bào vú bình thường và mức độ phát triển triển nhanh như thế nào.

Ung thư vú xấm lấn – ung thư vú có tiềm năng lan tỏa tới các khu vực khác của cơ thể.

Các tế bào khối u biệt lập (đơn lẻ) (ITC) – khi khối ung thư vú có kích thước nhỏ hơn 0,2 mm di căn trong các hạch bạch huyết.

Ki67 – một protein tìm thấy trong tế bào. Mức độ càng cao thì các tế bào phân chia và phát triển càng nhanh.

Xấm lấn mạch máu- mạch bạch huyết – khi tế bào ung thư vú lan tỏa vào (xâm lấn) hệ bạch huyết và mạch máu trong vú, và có thể nhìn thấy các mạch này dưới kính hiển vi.

Di căn vi thể – khi khối ung thư vú có kích thước từ 0,2 tới 2 mm trong hạch bạch huyết.

Đa tâm (đa khu vực) – khi có từ hai tổn thương ung thư vú trở lên trong các phần tư vú khác nhau.

Đa ổ – khi có từ hai tổn thương ung thư vú trong cùng một phần tư vú.

Ung thư vú không xâm lấn – ung thư vú chưa phát triển khả năng lan tỏa bên trong vú hoặc tới bộ phận khác của cơ thể.

NST hoặc NOS (loại không đặc hiệu) – tế bào ung thư không có các đặc tính nổi bật như là một loại đặc biệt khác

Bác sĩ giải phẫu bệnh – bác sĩ xem xét các tế bào và mô dưới kính hiển vi.

Giải phẫu bệnh – một nhánh của y học đánh giá bệnh tật ảnh hưởng thế nào đến các tế bào và mô của cơ thể.

Báo cáo giải phẫu bệnh – báo cáo do bác sĩ giải phẫu bệnh viết ra sau khi xử lý và xem xét mô.

Ung thư vú nguyên phát – ung thư vú chưa lan quá vú hoặc các hạch bạch huyết dưới cánh tay (hố nách).

Biên phẫu thuật – mức độ các tế bào ung thư vú gần với các mép của toàn bộ khu vực mô được lấy ra trong khi phẫu thuật.

Có vài loại ung thư vú được chẩn đoán tùy thuộc vào loại tế bào ung thư nào khi quan sát dưới kính hiển vi.

Ung thư vú nguyên phát

Ung thư vú nguyên phát là ung thư vú chưa lan quá vú hoặc các hạch bạch huyết dưới cánh tay (hố nách). Nó có thể là xấm lấn hoặc không xâm lấn (còn được gọi là in situ (tại chỗ)).

Hầu hết ung thư vú là xâm lấn, nghĩa là chúng có tiềm năng lan tới các khu vực khác của cơ thể. Điều này không có nghĩa là ung thư đã hoặc sẽ lan tỏa, mà chỉ là khả năng.

Ung thư vú không xâm lấn là loại ung thư chưa có khả năng lan trong vú cũng như lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

Thường có những vùng có cả ung thư vú xâm lấn và không xâm lấn đồng thời.

Ung thư vú thể ống xâm lấn loại không đặc hiệu

Hầu hết ung thư vú thuộc loại này. Sử dụng thuật ngữ loại không đặc hiệu (NST hoặc NOS) do khi các tế bào ung thư được quan sát dưới kính hiển vi chúng không có các đặc tính nổi bật như một loại đặc biệt nào đó. Để có thêm thông tin đề nghị xem quyển Ung thư vú thể ống xâm lấn.

Các loại ung thư vú xâm lấn khác

Các loại ung thư vú khác được gọi là loại đặc biệt. Khi các tế bào ung thư này được quan sát dưới kính hiển vi, có một số các đặc tính nào đó xác định chúng như là loại đặc biệt. Nhìn chung chúng được điều trị giống như là ung thư vú xâm lấn loại không đặc hiệu. Các loại này gồm:

  • Tiểu thùy xâm lấn
  • Thể viêm
  • Bệnh Paget vú
  • Thể ống nhỏ
  • Thể mặt sàng
  • Thể nhày (còn được gọi là thể keo)
  • Thể tủy
  • Thể nhú
  • Thể vi nhú
  • Thể diệp thể ác tính
  • Thể dị sản (chuyển sản)

Có các quyển sách riêng về tất cả các loại ung thư vú.

Carcinoma ống tuyến vú tại chỗ (DCIS)

Đây là loại sớm của ung thư vú không xâm lấn. Đôi khi thể này được gọi là tiền xâm lấn hoặc nội ống. Để có thể thông tin đề nghị xem quyển Carcinoma ống tuyến vú tại chỗ (DCIS).

Các lựa chọn điều trị

Điều trị sẽ phụ thuộc vào loại ung thư vú mà bạn mắc. Quyển sách Điều trị ung thư vú nguyên phát có thể thông tin về vấn đề này. Bạn có thể đọc thêm quyển Trọn bộ ung thư vú nguyên phát.

Bạn có thể muốn hỏi:

Tôi mắc loại ung thư vú nào?

Ung thư vú là xâm lấn hay không xâm lấn?

Tôi có thể có một bản copy báo cáo giải phẫu bệnh không?

Khối ung thư vú lớn đến mức nào?

Kích thước của ung thư vú được đo tại điểm rộng nhất, thường tính bằng milimet (mm).

Nếu đồng thời có cả DCIS và ung thư vú xâm lấn thì các kết quả sẽ nói cho bạn biết kích cỡ kết hợp (đôi khi gọi là ‘kích thước toàn bộ khối u’) và mỗi loại có bao nhiêu. Nếu tìm thấy cả hai loại đồng thời thì chỉ chi tiết về ung thư vú xâm lấn được các chuyên gia dùng để xem xét điều trị và tiên lượng.

Trong khi nói chung ung thư càng nhỏ thì thường có tiên lượng tốt hơn, kích thước thường không đưa ra bức tranh tổng thể và chỉ là một phần của kết quả tổng thể. Có thể một khối ung thư nhỏ phát triển rất nhanh trong khi một ung thư lớn hơn có thể phát triển chậm hoặc có thể ngược lại.

Kích thước tính bằng milimet và centimet

Tìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

Đôi khi có từ hai khu vực trở lên bị ung thư vú. Trong trường hợp này đo kích thước mỗi khu vực. Đa tâm (đa khu vực) có nghĩa là từ hai khu vực ung thư vú trở lên ở các phần tư khác nhau của vú. Đa ổ nghĩa là tìm thấy từ hai khu vực ung thư trở lên nhưng chúng nằm ở cùng một phần tư của vú. Kết quả giải phẫu bệnh thường gồm thông tin về ung thư là khu trú (nghĩa là chỉ có một khu vực) hoặc đa ổ (nghĩa là có từ hai khu vực ung thư trở lên).

Tìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

Một số người được hóa trị trước khi phẫu thuật, được gọi là hóa trị tân bổ trợ hoặc hóa trị ban đầu. Đối với những người này, các kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật sẽ gồm tóm tắt ung thư còn lại bao nhiêu sau hóa trị. Điều này được gọi là đáp ứng điều trị.

  • Đáp ứng hoàn toàn nghĩa là không còn lại ung thư
  • Đáp ứng một phần nghĩa là chỉ còn lại một phần ung thư
  • Không có bằng chứng đáp ứng nghĩa là ung thư vẫn thế hoặc lớn hơn trước khi hóa trị.

Các lựa chọn điều trị

Kích thước và vị trí của ung thư so với kích thước vú có thể ảnh hưởng tới phẫu thuật vú. Ví dụ, với ung thư nhỏ thường là phẫu thuật bảo tồn, tức là chỉ có ung thư và biên (rìa) của mô vú bình thường xung quanh được lấy đi.

Nếu bạn có ung thư lớn (so với vú của bạn) thì bạn có thể được khuyến nghị cắt bỏ vú hoặc hóa trị trước khi phẫu thuật (được gọi là hóa trị tân bổ trợ hoặc hóa trị ban đầu). Đôi khi hóa trị tân bổ trợ được thực hiện để làm co khối u trước khi phẫu thuật.

Bác sĩ sẽ đưa ra quyết định liệu có khuyến nghị hóa trị hay không phụ thuộc vào kích thước của ung thư vú và các đặc tính khác như là có các hạch bạch huyết bị di căn hay không. Nói chung, những người có khối ung thư vú lớn (lớn hơn 2 cm) nhiều khả năng được hóa trị hơn, do ung thư lớn có thể đã tồn tại lâu hơn trước khi tìm thấy chúng và do vậy có nhiều khả năng lan tỏa hơn.

Để có thêm thông tin đề nghị đọc quyển sách Hóa trị cho ung thư vú.

Bạn có thể muốn hỏi:

  • Kích thước của ung thư vú là bao nhiêu?
  • Có từ hai vị trí ung thư vú trở lên không?

Ung thư vú ở mức độ mấy?

Ung thư được chia theo độ mô học phụ thuộc vào các tế bào ung thư khác với tế bào vú bình thường như thế nào và các tế bào ung thư phát triển nhanh ra sao.

Độ mô học khác với giai đoạn, đánh giá giai đoạn không có trong báo cáo giải phẫu bệnh. Bạn có thể đọc thêm về giai đoạn của ung thư vú trên website của chúng tôi.

Ung thư vú xâm lấn

Có 3 cấp độ ung thư vú xâm lấn:

  • Độ 1 – các tế bào ung thư nhìn gần như giống với tế bào bình thường và thường là phát triển chậm.
  • Độ 2 – các tế bào ung thư nhìn ít giống tế bào bình thường hơn và phát triển nhanh hơn.
  • Độ 3 – các tế bào ung thư nhìn hoàn toàn khác với tế bào vú bình thường và thường là phát triển nhanh.

Các lựa chọn điều trị

Nói chung các bệnh nhân có ung thư vú xâm lấn độ 3 nhiều khả năng được hóa trị để giúp tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào có thể đã lan tỏa do ung thư đang phát triển nhanh hơn.

Để có thêm thông tin đề nghị xem quyển Hóa trị cho ung thư vú.

Carcinoma ống tuyến vú tại chỗ (DCIS)

DCIS cũng có ba độ mô học, thường được gọi là thấp, trung bình và cao.

Bạn có thể muốn hỏi:

  • Ung thư vú ở độ mấy?

Ki67 có nghĩa là gì?

Ki67 là một protein tìm thấy trong tế bào. Mức độ Ki 67 càng cao thì các tế bào phân chia và tăng trưởng càng nhanh.

Ki67 thường không được đưa vào báo cáo giải phẫu bệnh. Nếu có, báo cáo sẽ nói tỷ lệ bao nhiêu phần trăm của tế bào ung thư vú dương tính cho Ki67. Ki67 nhỏ hơn 10% được coi là thấp, 10-20% là trung bình và trên 20% là cao. Giá trị càng cao thì tế bào phân chia và tăng trưởng càng nhanh.

Ung thư vú đã được loại bỏ hoàn toàn chưa?

Kết quả giải phẫu bệnh sẽ cho bạn biết các tế bào ung thư vú gần với các mép của toàn bộ khu vực mô đã được cắt bỏ tới mức độ nào. Đây được gọi là biên (rìa) phẫu thuật. Điều quan trọng là ung thư được loại bỏ với một khu vực mô còn khỏe mạnh (mô lành) xung quanh ung thư để đảm bảo rằng không còn tế bào ung thư nào còn lại.

  • Biên âm tính (sạch) nghĩa là không còn tìm thấy các tế bào ung thư tại mép ngoài của mô được lấy ra.
  • Biên dương tính nghĩa là các tế bào ung thư rất gần với hoặc chạm tới mép của mô.

Báo cáo giải phẫu bệnh giúp ước lượng khoảng cách của ung thư tới tất cả các biên (rìa) xung quanh. Các từ ngữ bạn nhìn thấy trong báo cáo gồm ở trên, ở dưới, trung điểm (hướng về giữa), hai bên (hướng về mép), phía trước và phía sau. Các bệnh viện khác nhau sẽ có các hướng dẫn khác nhau về việc mức độ lớn của biên (rìa) sạch, mô lành cần nhưng thường tối thiểu là 1 mm xung quanh chỗ ung thư.

Tìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

Lựa chọn điều trị

Nếu bạn có biên âm tính hoặc biên sạch thì nhiều khả năng bạn không cần phẫu thuật thêm nữa. Nếu bạn có biên dương tính, bạn có thể cần phẫu thuật thêm để lấy ra thêm mô phụ thuộc vào biên nào và bao nhiêu biên dương tính. Điều này nghĩa là đôi khi cần cắt hết vú để đảm bảo tất cả ung thư được cắt bỏ.

Bạn có thể muổn hỏi:

  •  Ông/bà có thể nói cho tôi biết tất cả ung thư vú đã được lấy đi phải không?

Có bất kỳ tế bào ung thư vú nào trong mạch bạch huyết hoặc mạch máu (xâm lấn mạch-bạch huyết) không?

Vú chứa mạng lưới các mạch bạch huyết và mạch máu kết nối vú với phần còn lại của cơ thể. Nếu tế bào ung thư vú xâm lấn qua thành của các mạch này thì được gọi là xâm lấn mạch-bạch huyết, làm tăng cơ hội ung thư vú lan tràn tới các nơi khác trên cơ thể. Kết quả giải phẫu bệnh sẽ nói liệu đã có sự xâm lấn mạch-bạch huyết trong mô được lấy ra trong khi phẫu thuật hay không.

Lựa chọn điều trị

Bệnh nhân có xâm lấn mạch-bạch huyết nhiều khả năng được hóa trị để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào có thể có trong hệ bạch huyết hoặc tuần hoàn máu.

Để có thêm thông tin về hóa trị, đề nghị đọc quyển Hóa trị cho ung thư vú.

Bạn có thể muốn hỏi:

•           Có bất kỳ dấu hiệu nào của xâm lấn vào mạch-bạch huyết hay không?

Có bất kỳ tế bào ung thư vú nào trong hạch bạch huyết không?

Vú có mạng lưới các mạch bạch huyết để đổ bạch huyết vào các hạch bạch huyết nằm trong hố nách. Số lượng các hạch bạch huyết trong hố nách có thể thay đổi tùy từng người.

Nếu bạn mắc ung thư vú xâm lấn, bác sĩ sẽ kiểm tra liệu có hạch bạch huyết nào dưới cánh tay có chứa tế bào ung thư hay không.

Sinh thiết hạch gác (Sentinel lymph node biopsy, sinh thiết một hoặc một vài hạch bạch huyết đầu tiên dẫn lưu từ khối u) được sử dụng rộng rãi đối với những người mắc ung thư vú mà xét nghiệm trước phẫu thuật cho thấy không có chứng cớ hạch bạch huyết có chứa tế bào ung thư. Sinh thiết hạch gác xác định liệu hạch bạch huyết đầu tiên (hoặc các hạch đầu tiên) là không có tế bào ung thư.

  • Hạch bạch huyết âm tính nghĩa là hạch bạch huyết được xét nghiệm không có tế bào ung thư.
  • Hạch bạch huyết dương tính nghĩa là chúng có chứa tế bào ung thư.

Sinh thiết hạch gác thường được thực hiện cùng lúc với phẫu thuật ung thư nhưng có thể được thực hiện trước khi phẫu thuật.

Các hạch bạch huyết dưới cánh tay

Tìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

Kết quả giải phẫu bệnh sẽ cho biết có bao nhiêu hạch được lấy ra trong khi phẫu thuật và bao nhiêu hạch có chứa tế bào ung thư, và thường được viết dưới dạng con số. Ví dụ, 2/10 nghĩa là 10 hạch bạch huyết được lấy ra và có 2 hạch có chứa tế bào ung thư. Nói chung, càng có nhiều hạch dương tính thì càng nhiều khả năng ung thư đã lan tới các nơi khác trong cơ thể. Nếu tìm thấy các tế bào ung thư trong mô xung quanh các hạch bạch huyết thì gọi là lan ra ngoài bao hạch bạch huyết (extra-capsular spread).

Đôi khi chỉ có một khu vực rất nhỏ của ung thư vú trong các hạch bạch huyết. Khi tế bào ung thư trong hạch bạch huyết nằm trong khoảng 0,2 mm tới 2 mm, thì được gọi là di căn vi thể. Khi kích thước của ung thư trong hạch bạch huyết chưa tới 0,2 mm thì được gọi là các tế bào khối u biệt lập (đơn lẻ) (ITCs).

Các lựa chọn điều trị

Nếu bạn có di căn vi thể hoặc tế bào khối u biệt lập trong hạch bạch huyết thì nhiều khả năng bạn sẽ không cần điều trị gì thêm ở hố nách.

Những người mà hạch gác có chứa tế bào ung thư (được gọi là hạch gác dương tính) có thể được điều trị thêm ở nách, gồm phẫu thuật để lấy các hạch bạch huyết ra hoặc xạ trị vào vùng nách. Điều trị thêm sẽ phụ thuộc vào có bao nhiêu hạch bạch huyết bị di căn, bị di căn nhiều thế nào và các điều trị khác mà bạn đang có.

Để có thêm thông tin về xạ trị, đề nghị đọc quyển Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát.

Nói chung, những người có ung thư vú có hạch bạch huyết dương tính nhiều khả năng được hóa trị để tiêu diệt bất kỳ tế bào nào còn sót lại hoặc trong các hạch bạch huyết cũng như ở nơi nào khác trong cơ thể.

Để có thêm thông tin, đề nghị đọc quyển Hóa trị cho ung thư vú.

Bạn có thể muốn hỏi:

  • Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết dưới cánh tay chưa?
  • Nếu có, bao nhiêu hạch bạch huyết bị di căn?

Tế bào ung thư vú có dương tính với thụ thể oestrogen hay không?

Nội tiết nữ oestrogen có thể thúc đẩy ung thư vú phát triển. Nếu ung thư vú có các thụ thể bên trong tế bào kết hợp với nội tiết estrogen thì được gọi là ung thư vú dương tính với thụ thể oestrogen hoặc ung thư vú ER+. Nếu không tìm thấy các thụ thể estrogen thì được gọi là âm tính với thụ thể nội tiết estrogen hay là ER-.

Kết quả giải phẫu bệnh thường đưa ra điểm số để chỉ ra lượng các thụ thể nội tiết trên một tế bào ung thư và tỷ lệ các tế bào có thụ thể. Nhiều khả năng các điểm số này bạn sẽ nhìn thấy nhất trong kết quả là bảng điểm Quick hoặc Alfed (nằm giữa 0 và 8) hoặc bảng điểm H (nằm giữa 0 và 300). Đối với cả hai loại bảng điểm này, điểm càng cao thì càng có nhiều tế bào ung thư vú ER+. Tỷ lệ phần trăm các tế bào có thụ thể nội tiết thường được đưa ra (từ 0% tới 100%). Điểm số lớn hơn 1% là ER+.

Lựa chọn điều trị

Có nhiều liệu pháp nội tiết hoạt động theo nhiều cách khác nhau nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của estrogen lên các tế bào ung thư. Nếu ung thư vú có ER+ thì bác sĩ sẽ thảo luận với bạn liệu pháp nội tiết nào được khuyến cáo. Lợi ích của liệu pháp nội tiết ít hiệu quả hơn đối những người ung thư vú chỉ có thụ thể progesteron dương tính (PR+ và ER-). Rất ít ung thư vú rơi vào trường hợp này nhưng nếu bạn nằm trong nhóm này thì bác sĩ sẽ thảo luận với bạn liệu rằng liệu pháp nội tiết có thích hợp hay không.

Để có thêm thông tin, đề nghị đọc quyển Điều trị ung thư vú nguyên phát và từng quyển sách về thuốc của từng liệu pháp liệu nội tiết.

Nếu bạn mắc ung thư vú có thụ thể nội tiết âm tính, thì liệu pháp nội tiết sẽ không có bất kỳ lợi ích nào cho bạn.

Bạn có thể muốn hỏi:

  • Thụ thể nội tiết của ung thư vú có dương tính không (ER+ và/hoặc PR+)?
  • Tôi có được lợi ích từ liệu pháp nội tiết không?

Nếu có, loại thuốc nào sẽ tốt nhất cho tôi và có bất kỳ loại khác thay thế không?

Các tế bào ung thư vú dương tính với HER2?

Khoảng 15-20% ung thư vú có mức độ một protein được gọi là HER2 trên bề mặt tế bào cao hơn bình thường, protein này thúc đẩy ung thư vú phát triển. Các ung thư này được gọi là HER dương tính hoặc HER2+. Nói chung, chúng nhiều khả năng phát triển và lan tỏa nhanh hơn hầu hết các loại ung thư vú có HER âm tính.

Ung thư vú xâm lấn được xét nghiệm tìm mức độ HER2. Đôi khi mất nhiều thời gian hơn để nhận được kết quả nhưng thường là có trong vòng một tới ba tuần sau khi sinh thiết hoặc phẫu thuật.

Có nhiều xét nghiệm để đo mức độ HER2. Bốn xét nghiệm được dùng phổ biến nhất là IHC (hóa mô miễn dịch), lai tại chỗ gắn huỳnh quang FISH (fluorescent insitu hybridisation), lai tại chỗ gắn chất ưa màu CISH (chromogenic in situ hybridisation) và lai tại chỗ gắn hai màu DDISH (dual-colour dual-hapten brightfield in situ hybridisation).

IHC là xét nghiệm thường được làm trước tiên, là quá trình nhuộm đặc biệt được thực hiện trên mẫu mô ung thư vú. Kết quả được báo cáo theo thang điểm từ 0-3. Điểm bằng 0 hoặc 1+ được gọi là HER2 âm tính. Điểm bằng 2+ là giáp biên, và điểm 3+ nghĩa là HER2 dương tính.

Ung thư vú có kết quả giáp biên (2+) nên được xét nghiệm lại bằng FISH, CISH hoặc DDISH để tìm liệu có phải là HER2 dương tính. Đây là các xét nghiệm chuyên biệt hơn và thường được báo cáo là dương tính hay âm tính.

Các lựa chọn điều trị

Nếu ung thư vú là HER2 dương tính, bạn thường được khuyên hóa trị và dùng liệu pháp đích (sinh học) như là trastuzumab (Herceptin). Liệu pháp đích chặn sự phát triển và lan tỏa của ung thư.

Nếu ung thư là HER2 âm tính thì liệu pháp đích không có bất kỳ lợi ích nào cho bạn.

Để có thêm thông tin, đề nghị xem tài liệu Trastuzumab (Herceptin).

Bạn có thể muốn hỏi:

  • Ung thư vú có dương tính với HER2 không?
  • Tôi sẽ có lợi từ điều trị đích?

Nếu có, loại thuốc nào sẽ là tốt nhất cho tôi và có những thuốc thay thế nào?

Xét nghiệm gen

Các xét nghiệm này giúp tìm các nhóm gen trong ung thư vú. Chúng giúp nhận diện bệnh nhân nào có nhiều khả năng hưởng lợi từ hóa trị và khả năng ung thư quay trở lại (tái phát) như thế nào?

Các xét nghiệm được thực hiện trên mô vú lấy ra trong khi phẫu thuật, thường được thực hiện trong một phòng xét nghiệm khác bệnh viện của bạn, và không liên quan đến bất kỳ mô nào được lấy thêm ra.

Các kết quả gen cung cấp được tách riêng với báo cáo giải phẫu bệnh và bác sĩ sẽ xem xét chúng cùng với kết quả giải phẫu bệnh để giúp họ quyết định điều trị nào được khuyến nghị cho bạn.

Xét nghiệm gen không phù hợp cho mọi người và thường sẽ chỉ được cân nhắc nếu ung thư vú là dạng xâm lấn, dương tính với thụ thể nội tiết (ER+) và HER2 âm tính và không có quá ba hạch dương tính.

Các ví dụ về xét nghiệm gen gồm:

Oncotype DX

Xét nghiệm này dự đoán khả năng ung thư quay trở lại và lợi ích của hóa trị. Kết quả được gọi là điểm tái phát, nằm giữa 0 và 100. Điểm càng cao thì nguy cơ tái phát ung thư vú xâm lấn càng lớn, và càng nhiều khả năng sẽ cần hóa trị.

Endo Predict

Xét nghiệm này dự đoán khả năng ung thư lan tràn trong vòng 10 năm. Kết quả được gọi là điểm EPclin, được báo cáo là nguy cơ cao hoặc nguy cơ thấp.

Xét nghiệm ký đồ gen chẩn đoán ung thư vú Prosigna

Xét nghiệm này dự đoán khả năng ung thư lan tràn trong vòng 10 năm. Kết quả được báo cáo là nguy cơ thấp, trung bình hoặc cao.

Bạn có thể muốn hỏi:

Xét nghiệm gen có phù hợp với tôi không? Nếu có, tôi nên thực hiện xét nghiệm nào?

Nói chuyện với bác sĩ

Bạn có thể thấy việc thảo luận các kết quả với bác sĩ là hữu ích. Nếu có bất kể điều gì trong báo cáo giải phẫu bệnh mà bạn chưa hiểu, hãy nói họ giải thích cho bạn.

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.