Thứ Tư , 15 Tháng Tám 2018
Trang chủ Chuyên ngành Sản phụ khoa Mang thai Các xét nghiệm thường quy khi mang thai

Các xét nghiệm thường quy khi mang thai

Nội dung chính

Bài viết thứ 35 trong 37 bài thuộc chủ đề Mang thai
 

Tại sao nên làm các xét nghiệm khi mang thai?

Theo khuyến cáo, tất cả các phụ nữ mang thai nên làm một số xét nghiệm như một phần của việc chăm sóc trước sinh thường quy. Các xét nghiệm này có thể giúp phát hiện những vấn đề có thể làm tăng nguy cơ biến chứng cho cả mẹ lẫn thai nhi.

Xét nghiệm trong thời kỳ mang thai

Các xét nghiệm nào được thực hiện trong giai đoạn sớm của thai kì?

Các xét nghiệm dưới đây nên được thực hiện trong giai đoạn sớm của thai kì:

  • Công thức máu
  • Nhóm máu
  • Xét nghiệm nước tiểu
  • Cấy nước tiểu
  • Rubella
  • Viêm gan B và viêm gan C
  • Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs)
  • HIV
  • Lao

Công thức máu là gì và kết quả cho biết điều gì?

Công thức máu là xét nghiệm đánh giá số lượng các loại tế bào khác nhau có trong máu. Số lượng hồng cầu cho biết thai phụ có bị thiếu máu hay không và mức độ thiếu máu như thế nào. Số lượng bạch cầu cho biết có bao nhiêu tế bào miễn dịch có trong máu và số lượng tiểu cầu có thể cho biết liệu thai phụ có vấn đề gì với chức năng đông máu hay không.

Xét nghiệm nhóm máu và ý nghĩa?

Xét nghiệm nhóm máu cho biết thai phụ có yếu tố Rh hay không. Yếu tố Rh là một protein hiện diện trên bề mặt hồng cầu. Đa số mọi người đều có yếu tố Rh, còn gọi là Rh dương. Một số người không có yếu tố Rh, còn gọi là Rh âm. Nếu thai nhi có Rh dương còn mẹ Rh âm, cơ thể mẹ sẽ hình thành nên các kháng thể kháng lại yếu tố Rh. Và ở lần mang thai tiếp theo, những kháng thể này có thể gây tan máu thai nhi.

Xét nghiệm nước tiểu và ý nghĩa?

Xét nghiệm nước tiểu nhằm phát hiện hồng cầu (nếu có bệnh lý ở đường tiết niệu), bạch cầu (nếu có nhiễm trùng đường tiết niệu), và đường niệu (nồng đồ cao có thể là dấu hiệu của đái tháo đường). Lượng protein cũng được định lượng. Nên có sự theo dõi và so sánh nồng độ protein trong nước tiểu trong giai đoạn sớm của thai kì và các giai đoạn sau đó. Nồng độ protein cao có thể là một dấu hiệu của tiền sản giật, một tai biến nghiêm trọng thường xảy ra trong giai đoạn sau của thai kì hoặc sau khi sinh.

Cấy nước tiểu và ý nghĩa?

Cấy nước tiểu là xét nghiệm để tìm vi khuẩn có trong nước tiểu, đây có thể là một dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu.

Rubella và kết quả xét nghiệm cho biết điều gì?

Rubella (thường gọi là sởi Đức) có thể gây dị tật bẩm sinh nếu phụ nữ bị nhiễm trong quá trình mang thai. Xét nghiệm máu để kiểm tra liệu tiền sử thai phụ đã từng bị nhiễm rubella hay đã tiêm vắc xin chủng ngừa bệnh này hay chưa. Nếu chưa từng mắc rubella trước đó hay chưa tiêm vắc xin, thai phụ nên tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh trong quá trình mang thai vì có nguy cơ lây nhiễm cao. Nếu chưa tiêm vắc xin, thai phụ nên tiêm sau khi sinh, ngay cả khi đang cho con bú. Không nên tiêm vắc xin ngừa rubella trong khi mang thai.

Xét nghiệm viêm gan B, viêm gan C và ý nghĩa?

Virus viêm gan B và virus viêm gan C thường gây tổn thương gan. Phụ nữ mang thai bị nhiễm virus viêm gan B hay C có thể lây truyền cho thai nhi. Tất cả thai phụ nên xét nghiệm có nhiễm viêm gan B hay không. Nếu thuộc nhóm nguy cơ, thai phụ cũng nên làm thêm xét nghiệm viêm gan C.

Các xét nghiệm STI nào được thực hiện ở phụ nữ mang thai?

Tất cả phụ nữ mang thai nên được xét nghiệm lậu cầu và chlamydia trong giai đoạn sớm của thai kì. Lậu cầu và chlamydia có thể gây biến chứng cho cả mẹ và thai. Nếu bị nhiễm 1 trong 2, thai phụ sẽ được điều trị trong suốt quá trình mang thai và sau đó sẽ được xét nghiệm lại để đánh giá kết quả điều trị. Nếu có nguy cơ bệnh lậu (<25 tuổi và sống trong khu vực dịch tễ của bệnh lậu), thai phụ nên làm xét nghiệm để biết có bị lậu hay không.

Vì sao tất cả phụ nữ mang thai đều làm xét nghiệm HIV?

Nếu thai phụ nhiễm HIV, virus có thể lây truyền cho thai nhi. HIV tấn công các tế bào của hệ thống miễn dịch và dẫn đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Nếu  nhiễm HIV, thai phụ sẽ được điều trị bằng thuốc và đi theo một trình tự đặc biệt nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ lây truyền cho thai.

Thai phụ nào nên làm xét nghiệm bệnh lao (TB)?

Phụ nữ có nguy cơ mắc lao cao (ví dụ, nhiễm HIV hoặc có tiếp xúc với người mắc lao) nên làm xét nghiệm kiểm tra lao.

Các xét nghiệm nào được thực hiện trong giai đoạn sau của thai kì?

Các xét nghiệm dưới đây được thực hiện trong giai đoạn sau của thai kì:

  • Công thức máu
  • Xét nghiệm kháng thể Rh
  • Xét nghiệm sàng lọc glucose
  • Liên cầu khuẩn nhóm B

Khi nào thì xét nghiệm kháng thể kháng Rh?

Nếu thai phụ có kết quả Rh âm, nên làm xét nghiệm kháng thể kháng Rh vào thời điểm 28 – 29 tuần của thai kì. Nếu không có kháng thể Rh, thai phụ nên tiêm Rh immunoglobulin. Điều này ngăn cơ thể tạo ra kháng thể trong thời gian còn lại của thai kì. Nếu xét nghiệm có kháng thể kháng Rh, thai phụ cần được chăm sóc đặc biệt và theo dõi chặt chẽ

Sàng lọc đường máu và ý nghĩa?

Xét nghiệm sàng lọc này giúp định lượng nồng độ đường trong máu. Nồng độ đường cao có thể là một dấu hiện của đái tháo đường thai kì. Xét nghiệm này thường được thực hiện từ tuần 24-28 của thai kì. Nếu thai phụ có yếu tố nguy cơ của đái tháo đường hoặc tiền sử từng mắc đái tháo đường thai kì, việc sàng lọc có thể thực hiện trong 3 tháng đầu.

Liên cầu khuẩn nhóm B là gì và vì sao phụ nữ mang thai phải làm xét nghiệm này?

Liên cầu khuẩn nhóm B là một loại vi khuẩn sống ở âm đạo và trực tràng. Nhiều phụ nữ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B mà không có triệu chứng. Hầu hết thai nhi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B từ mẹ sẽ không có triệu chứng. Tuy nhiên, một số ít có thể bị bệnh. Bệnh lý này có thể xuất hiện nặng nề, thậm chí gây tử vong cho trẻ sơ sinh. Liên cầu khuẩn nhóm B có thể được phát hiện bởi xét nghiệm sàng lọc thường quy vào khoảng tuần 35-37 của thai kì. Khi làm xét nghiệm này, dùng tăm bông để lấy bệnh phẩm từ âm đạo và trực tràng.

Hướng xử trí khi xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B dương tính?

Nếu kết quả xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B dương tính, sử dụng kháng sinh lúc chuyển dạ sẽ giúp dự phòng lây nhiễm cho trẻ.

Sự khác nhau giữa xét nghiệm sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh là gì?

Các xét nghiệm sàng lọc trong quá trình mang thai để đánh giá nguy cơ mắc phải các dị tật bẩm sinh thường gặp. Một xét nghiệm sàng lọc không thể khẳng định chắc chắn thai nhi có dị tật bẩm sinh hay không. Các xét nghiệm này không gây ảnh hưởng lên thai.

Xét nghiệm chẩn đoán có thể phát hiện rất nhiều, không phải tất cả, các dị tật bẩm sinh do bất thường gen hay nhiễm sắc thể (xem thêm phần Rối loạn di truyền FAQ094). Những trường hợp cặp vợ chồng có người trong gia đình bị dị tật bẩm sinh, hoặc đã có con bị dị tật bẩm sinh thì có thể làm xét nghiệm chẩn đoán thay vì xét nghiệm sàng lọc. Các xét nghiệm chẩn đoán cũng có thể là lựa chọn đầu tiên cho tất cả phụ nữ mang thai, kể cả những người không có yếu tố nguy cơ. Một vài xét nghiệm chẩn đoán đều có nguy cơ ảnh hưởng lên thai, như sẩy thai hoặc thai lưu.

Bước đầu tiên trong sàng lọc dị tật bẩm sinh là gì?

Sàng lọc dị tật bẩm sinh bắt đầu bằng việc xác định các yếu tố nguy cơ. Trong giai đoạn sớm của thai kì, nhân viên y tế sẽ đặt nhiều câu hỏi để tìm các yếu tố nguy cơ ở thai phụ, như tiền sử dị tật bẩm sinh của cá nhân hay gia đình, chủng tộc, mẹ trên 35 tuổi, đái tháo đường trước đó. Trong một vài trường hợp, thai phụ nên đến gặp nhà tư vấn di truyền để có thêm những thông tin chi tiết về những yếu tố nguy cơ.

Xét nghiệm thể mang là gì?

Xét nghiệm người mang gen có thể cho biết thai phụ hay chồng mang gen bị rối loạn, ví dụ như bệnh xơ nang. Xét nghiệm người mang gen có thể được làm trước hoặc trong quá trình mang thai. Xét nghiệm này được khuyến cáo nếu thai phụ hay chồng có rối loạn di truyền, đã từng có con bị rối loạn di truyền, có tiền sử gia đình bị rối loạn về di truyền,  hoặc thuộc nhóm chủng tộc có tăng nguy cơ bị các rối loạn đặc biệt. Ngoài ra, sàng lọc người mang gen bệnh xơ nang được đề nghị cho tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản vì đây là một trong những rối loạn di truyền phổ biến nhất.

Các xét nghiệm sàng lọc dị tật bẩm sinh khác được thực hiện trong quá trình mang thai?

Xét nghiệm sàng lọc bao gồm siêu âm kết hợp với xét nghiệm máu có thể đo được nồng độ các chất có trong máu mẹ.

Các loại xét nghiệm nào chẩn đoán dị tật bẩm sinh được thực hiện trong quá trình mang thai?

Các xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh bao gồm chọc ối, sinh thiết gai nhau và siêu âm hình thái.

Thai phụ có thể lựa chọn các xét nghiệm dị tật bẩm sinh không?

Thai phụ có quyền lựa chọn có làm các xét nghiệm như đã nêu trên hay không? Khi chẩn đoán có dị tật bẩm sinh, thai phụ có thể cân nhắc quyết định ngừng thai. Nếu lựa chọn tiếp tục thai kì, thai phụ nên chuẩn bị cho việc sinh ra một em bé có nhiều bất thường đi kèm và chăm sóc y tế cho trẻ. Thai phụ nên trao đổi với nhân viên y tế hoặc chuyên gia tư vấn di truyền để đưa ra quyết định tốt nhất.

Giải thích thuật ngữ

  • Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS): gồm nhiều dấu hiệu và triệu chứng, hay gặp nhất là các nhiễm trùng rất nặng, xảy ra trên một cơ thể mà hệ thống miễn dịch bị phá hủy bởi virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV).
  • Chọc ối: Thủ thuật dùng kim tiêm lấy một ít nước ối và tế bào từ túi ối xung quanh thai nhi.
  • Thiếu máu: Nồng độ máu hay số lượng hồng cầu thấp. Phần lớn các trường hợp đều do thiếu sắt.
  • Kháng sinh: Thuốc để điều trị các loại nhiễm trùng.
  • Kháng thể: Protein trong máu, được sản xuất để chống lại khi xuất hiện các chất lạ, ví dụ vi khuẩn, virus gây nhiễm trùng.
  • Vi khuẩn: Sinh vật chỉ có một tế bào có thể gây nhiễm trùng cho cơ thể.
  • Người mang gen: Người mang gen gây bệnh nhưng không có biểu hiện triệu gì, có thể truyền gen cho con của họ.
  • Tế bào: đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của cơ thể, cấu tạo tất cả các phần của cơ thể.
  • Chlamydia: Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục gây nên bởi vi khuẩn có thể dẫn tới viêm vùng chậu và vô sinh.
  • Sinh thiết gai nhau: Thủ thuật lấy mẫu tế bào từ bánh nhau.
  • Nhiễm sắc thể: Cấu trúc nằm bên trong tế bào và chứa các gen.
  • Bệnh xơ nang: là một rối loạn di truyền gây nên các vấn đề về tiêu hóa và hô hấp.
  • Đái tháo đường: Là bệnh mà nồng độ đường trong máu tăng lên quá cao.
  • Thai nhi: Bào thai phát triển trong tử cung từ tuần thứ 9 cho đến hết thai kì.
  • Gen: Là một đoạn ADN chứa các cấu trúc quy định các đặt tính riêng của mỗi người và kiểm soát các hoạt động của cơ thể. Gen là đơn vị cơ bản của di truyền và có thể truyền từ ba mẹ sang con.
  • Chuyên gia tư vấn di truyền: Là một bác sĩ được đào tạo đặc biệt về di truyền và tư vấn, cung cấp những lời khuyên chuyên môn về rối loạn di truyền và các xét nghiệm tiền sản.
  • Đái tháo đường thai kì: Là đái tháo đường xuất hiện trong quá trình mang thai.
  • Glucose: Loại đường hiện diện trong máu và là nguồn nhiên liệu chính cho cơ thể.
  • Lậu: Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục có thể dẫn tới viêm vùng chậu, vô sinh và viêm khớp.
  • Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV): Một virus tấn công vào các tế bào miễn dịch của cơ thể và gây nên hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS).
  • Tiền sản giật: Một rối loạn xảy ra trong thai kì hoặc sau khi sinh, triệu chứng gồm huyết áp tăng hoặc các dấu hiệu tổn thương các cơ quan khác, như protein niệu, giảm tiểu cầu, bất thường chức năng gan, thận, đau bụng trên, tràn dịch phổi, đau đầu nghiêm trọng hay là sự thay đổi thị lực.
  • Chăm sóc tiền sản: Chương trình chăm sóc cho một phụ nữ có thai trước khi sinh.
  • Yếu tố Rh: Một protein có thể hiện diện trên bề mặt hồng cầu.
  • Rh Immunoglobulin: Là một chất ngăn sự xuất hiện kháng thể của người mang Rh âm phản ứng lại tế bào Rh dương.
  • Nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STIs): Nhiễm trùng lây truyền qua quan hệ tình dục, bao gồm Chlamydia, lậu, nhiễm trùng dạng u nhú ở người, herpes, giang mai, và nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV, nguyên nhân của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải [AIDS]).
  • Giang mai: Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục gây nên bởi xoắn khuẩn giang mai (Treponema pallidum); có thể gây các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong nếu ở giai đoạn muộn.
  • Ba tháng đầu-giữa-cuối: Mỗi ba tháng trong một thai kì.
  • Lao: Một bệnh do loại vi khuẩn có thể gây ảnh hưởng đến phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác. Nếu không điều trị có thể tử vong.
  • Siêu âm: Dùng sóng âm để đánh giá các cấu trúc bên trong cơ thể. Trong thai kì, siêu âm được sử dụng để theo dõi thai nhi.

Tài liệu tham khảo

http://www.acog.org/Patients/FAQs/Routine-Tests-During-Pregnancy

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.