Thứ Tư , 24 Tháng Mười 2018

Những lưu ý về bệnh loét hay lở miệng

Bài viết thứ 18 trong 22 bài thuộc chủ đề Các bệnh Tai Mũi Họng
 

Tổng Quan

Những tổn thương ở miệng như loét miệng thường đau khi ăn và nói. Hai trong số những tổn thương miệng tái phát phổ biến nhất là mụn nước do virus herpes simplex gây ra (còn gọi là bệnh herpes ở môi) và viêm loét miệng aphthe (áp-tơ).

Mặc dù có nhiều điểm tương đồng, bệnh herpes ở môiloét miệng aphthe có một số khác biệt quan trọng.

Bệnh herpes ở môi là gì?

mụn nước ở khóe môi

Hình 1. Tổn thương dạng mụn nước – Herpes ở khóe môi phải

Bệnh herpes ở môi có biểu hiện thường gặp là những mụn nước chứa dịch lỏng ở khóe môi. Sang thương cũng có thể xảy ra trên lợi (nướu), vòm miệng (khẩu cái) nhưng rất hiếm.

Vị trí có mụn nước thường đau. Trước khi xuất hiện mụn nước khoảng 6-24 giờ, người bệnh có thể có cảm giác đau, bỏng rát, châm chít tại vị trí sẽ xuất hiện tổn thương. Mụn nước vỡ trong vòng vài giờ, sau đó đóng vảy. Triệu chứng này thường kéo dài khoảng bảy đến mười ngày.

Xem thêm bài Tổng quan về bệnh Herpes môi (mụn rộp môi)

Tại sao bệnh herpes ở môi hay tái phát?

Ở Việt Nam, khoảng 80% dân số có mang virus herpes trong người. Nhưng chỉ khoảng 25% số người này có triệu chứng lâm sàng và bị các đợt tái phát. Nguyên nhân tái phát là do những vi rút tiềm ẩn (không hoạt động) ở những người phơi nhiễm được kích hoạt bởi một số tác nhân như: căng thẳng, sốt, chấn thương, thay đổi nội tiết tố và tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Khi xuất hiện trở lại, tổn thương có xu hướng ở cùng vị trí so với những lần trước đây.

Bệnh herpes ở môi có lây nhiễm không?

Thời gian từ lúc mụn nước vỡ cho đến khi vết loét lành hoàn toàn là thời điểm có nguy cơ lây nhiễm cao nhất. Virus có thể lây từ môi sang mắt và cơ quan sinh dục của người đang nhiễm virus; hay lây qua người khác, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp với tổn thương hoặc dịch tiết của người bệnh như nước bọt, nước mắt.

Bệnh herpes ở môi được điều trị như thế nào?

Có thể bôi một lớp thuốc mỡ có chứa chất kháng virus, ví dụ Acyclovir 5%, 3-4 lần/ ngày ngay khi có cảm giác lạ (đau, châm chít) ở khóe môi để ngăn ngừa sự xuất hiện mụn nước hoặc làm giảm triệu chứng đau rát.

Mặc dù cho đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào có thể chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, đây là một bệnh lý khá phổ biến, thường tự khỏi sau 7-10 ngày, ít để lại hậu quả nghiêm trọng nếu người bệnh tuân thủ các lưu ý sau:

  • Tránh tiếp xúc với vùng niêm mạc có tổn thương.
  • Không bóp, không véo hoặc làm vỡ mụn nước.
  • Rửa tay sạch trước khi chạm vào mắt, vùng sinh dục hoặc tiếp xúc với người khác.

Lưu ý: Mặc dù rất thận trọng, sự lây truyền virus thậm chí vẫn có thể xảy ra khi chưa xuất hiện mụn nước.

Viêm loét miệng aphthe (áp-tơ) là gì?

Loét miệng (còn gọi là viêm loét miệng aphthe) có một số khác biệt so với bệnh herpes ở môi.

loét aphathe ở niêm mạc

Hình 2. Loét aphthe ở niêm mạc mặt trong môi dưới

Sang thương là những vết loét nhỏ, nông, đáy trắng, đường viền đỏ. Bệnh thường gặp ở bề mặt không sừng hóa như bờ lưỡi, vòm miệng mềm hay mặt trong môi và má. Hiếm gặp ở những vị trí sừng hóa như vòm miệng cứng, lưng lưỡi hoặc lợi. Tổn thương rất đau và thường kéo dài 5-10 ngày.

Người nào có khả năng bị loét aphthe và nguyên nhân gây ra loét aphthe là gì?

Ở Mỹ, 80% dân số Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 10-20 tuổi, hầu hết là phụ nữ có loét aphthe. Những bằng chứng tốt nhất cho thấy loét aphthe là do phản ứng miễn dịch tại chỗ liên quan đến stress, chấn thương hoặc bị kích thích. Các loại thực phẩm có tính acid (ví dụ: cà chua, cam, quýt và một số loại hạt) được biết là gây kích thích ở một số bệnh nhân.

Loét aphthe có lây nhiễm không và điều trị như thế nào?

Nguyên nhân của bệnh lý này (đã trình bày ở trên) không phải do virus hay vi khuẩn. Vì vậy, chúng không lây lan tại chỗ hay lây sang người khác. Hướng điều trị là giảm khó chịu và chống nhiễm trùng. Thuốc kháng viêm Corticoid tại chỗ như thuốc bôi Triamcinolone Dental Paste (Kenalog 0.1%) được ghi nhận có hiệu quả trong điều trị.

Khi nào nên đến gặp bác sĩ để được tư vấn?

Nếu vết loét ở miệng không lành sau hai tuần, bạn nên đến gặp nha sĩ để được tư vấn.

Loét miệng là con đường dễ dàng để vi khuẩn và virus xâm nhập vào cơ thể tạo thuận lợi cho nhiễm trùng phát triển. Những người uống rượu, hút thuốc, hút thuốc là thụ động, bệnh nhân đang xạ trị hoặc hóa trị, ghép tủy hay tế bào gốc hoặc bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch cũng nên xem xét việc kiểm tra miệng thường xuyên bởi bác sĩ. Một trong những dấu hiệu đầu tiên của tiền ung thư khoang miệng là loét miệng không thể chữa lành.

Những biện pháp tầm soát nào được thực hiện?

Các bác sĩ có thể kiểm tra đầu, mặt, cổ, môi, lợi và những vùng trong miệng có nguy cơ ung thư cao như sàn miệng, lưỡi (đáy lưỡi, lưng lưỡi, bụng lưỡi và bờ lưỡi), vòm miệng cứng hay mềm.

Nếu có tổn thương nghi ngờ được tìm thấy, bác sĩ sẽ khuyên bạn nên kiểm tra mô mềm trong khoang miệng.

Những tổn thương ở miệng cần được lưu ý là gì?

Bạch sản ở bờ lưỡi trái

Hình 3. Bạch sản ở bờ lưỡi trái

Bạch sản: Một mảng màu trắng hình thành ở mặt trong của má, lợi, hoặc lưỡi, không có đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của bất kỳ bệnh lý nào khác. Những mảng này là do sự tăng trưởng tế bào sừng (một vài trường hợp xảy ra ở tế bào gai) quá mức và thường gặp ở những người hút thuốc lá. Sang thương là kết quả của sự kích thích bởi hàm giả, thói quen cắn mặt trong má (morsicatio buccarum). Bạch sản có thể tiến triển thành ung thư.

Nhiễm nấm Candida ở miệng

Hình 4. Nhiễm nấm Candida ở miệng – dạng màng giả

Nhiễm nấm Candida ở miệng: Nấm Candida (thường là Candida albicans) tồn tại trong miệng ở dạng không gây bệnh ở khoảng 50-60% người trong dân số chung. Nhiễm nấm xảy ra khi bào tử nấm sinh sản với số lượng lớn do những điều kiện thuận lợi. Thường gặp nấm miệng ở những người đeo hàm giả vệ sinh răng miệng kém, trẻ nhỏ (đẹn sữa), người già, suy nhược do bệnh, suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS). Những người bị hội chứng khô miệng (dry-mouth syndrome) rất dễ bị nấm miệng.

Nấm Candia có thể phát triển mạnh sau khi điều trị kháng sinh kéo dài, và có thể làm giảm số lượng vi khuẩn thường trú trong miệng.

Lưỡi lông

Hình 5. Lưỡi lông

Lưỡi lông: Bệnh tương đối hiếm, do sự kéo dài của các nụ vị giác. Nguyên nhân có thể do vệ sinh răng miệng kém, miệng bị kích thích mạn tính hoặc hút thuốc.

Lồi xương (torus ) vòm miệng

Hình 6. Lồi xương (torus) vòm miệng

Lồi xương (torus) vòm miệng (lồi xương khẩu cái): Sự tăng trưởng xương ở trung tâm của vòm miệng. Tình trạng này thường xảy ra ở phụ nữ trên 30 tuổi và hiếm khi cần phải điều trị. Lồi xương vòm miệng thường gặp ở những người có thói quen nghiến răng. Đôi khi cần được loại bỏ bằng phẫu thuật để đảm bảo sự khít sát của hàm giả.

Ung thư khoang miệng

Hình 7. Ung thư khoang miệng

Ung thư khoang miệng (hốc miệng, xoang miệng): Biểu hiện là mảng trắng hay đỏ trong miệng, hoặc vết loét nhỏ như loét aphthe. Vị trí phổ biến nhất của ung thư miệng là lưỡi và sàn miệng. Những triệu chứng khác có thể liên quan đến ung thư khoang miệng bao gồm: khối u có thể cảm thấy trong miệng hay cổ, đau hoặc gặp khó khăn khi nuốt, khi nói hay nhai; khối dạng mụn cóc, khàn tiếng kéo dài hơn hai tuần, hay tình trạng tê ở miệng hoặc mặt.

Ngăn ngừa loét/ lở miệng bằng những cách nào?

  • Bỏ hút thuốc.
  • Giảm căng thẳng.
  • Tránh gây tổn thương cho miệng bằng bàn chải cứng, thức ăn rắn, dụng cụ niềng răng hoặc hàm giả.
  • Nhai chậm.
  • Giữ vệ sinh răng miệng tốt, bao gồm việc kiểm tra răng miệng định kì.
  • Có chế độ ăn uống cân bằng về dinh dưỡng.
  • Xác định và loại bỏ những thực phẩm nhạy cảm với miệng của bạn.
  • Uống nhiều nước.
  • Tránh ăn thức ăn hoặc đồ uống quá nóng.
  • Thực hiện theo hướng dẫn dinh dưỡng để bổ sung vitamin phù hợp.
Xem thêm bài Đau hay lở loét họng miệng của BS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Tài liệu tham khảo

  1. http://www.entnet.org/HealthInformation/mouthSores.cfm
  2. Neville B. W.,Damm D. D., Allen C. M., Bouquot J. E.,« Oral and maxillofacial pathology », 3rd edition, 2012.
Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.