Thứ Hai , 27 Tháng Chín 2021
Trang chủ Thuốc Thảo mộc Thông tin chung về Beta-Caroten

Thông tin chung về Beta-Caroten

Bài viết thứ 8 trong 7 bài thuộc chủ đề Thảo mộc
 

Biên dịch: Võ Nguyễn Trâm Anh

Hiệu đính: DS. Đặng Hoài Thu – Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

Thông tin dành cho người bệnh và người nhà bệnh nhân

Hãy trao đổi với bác sĩ về các loại thực phẩm chức năng/thực phẩm bổ sung bạn đang dùng, chẳng hạn như thảo mộc, vitamin, khoáng chất, các bài thuốc nam, thuốc cổ truyền, thuốc Đông y…Điều này sẽ giúp bác sĩ có thể quản lý việc điều trị của bạn được tốt và an toàn hơn.

Beta-caroten có tác dụng như thế nào?

Không có bằng chứng chắc chắn ủng hộ cho việc sử dụng các sản phẩm thực phẩm chức năng/ thực phẩm bổ sung chứa beta-caroten để ngăn ngừa bệnh tim mạch hoặc ung thư.

Beta-caroten là một chất chống oxy hóa được tìm thấy trong các loại trái cây màu vàng và cam như mơ, dưa lưới, đu đủ, các loại bí, cà rốt, khoai lang, bí ngô, các loại rau xanh và bông cải xanh.

Chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư và các bệnh tim mạch. Mặc dù các sản phẩm thực phẩm chức năng có thành phần beta-caroten dường như không có tác dụng ngăn ngừa hoặc điều trị một cách hiệu quả các bệnh này, nhưng beta-caroten thu được từ chế độ ăn uống có thể có lợi. Lí do là vì hoạt chất này có thể tương tác với các thành phần tự nhiên khác trong trái cây, rau quả và gây ra tác động đến cơ thể nhiều hơn so với các loại thực phẩm chức năng.

Mục đích sử dụng

  • Chống oxy hóa

Một vài nghiên cứu ủng hộ mục đích sử dụng này.

  • Ngăn ngừa ung thư

Các bằng chứng hiện có không ủng hộ việc sử dụng các loại thực phẩm chức năng chứa beta-caroten để ngăn ngừa ung thư. Ngược lại, trên thực tế, chế độ bổ sung beta-caroten liều cao có liên quan đến nguy cơ cao hơn mắc ung thư phổi ở nam giới hút thuốc và ung thư tuyến tiền liệt.

  • Ngăn ngừa và điều trị bệnh tim mạch

Một số thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu quần thể có cỡ mẫu lớn và thiết kế tốt chứng minh việc bổ sung beta-caroten không làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực hoặc bệnh mạch vành. Trên thực tế, một đánh giá về các thử nghiệm lâm sàng chỉ ra beta-caroten có liên quan đến gia tăng mức độ nhỏ tỷ lệ tử vong nói chung cũng như tử vong do bệnh tim mạch.

  • Ngăn ngừa bệnh đục thủy tinh thể

Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc sử dụng thực phẩm chức năng chứa beta-caroten không làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh đục thủy tinh thể, tuy nhiên một nghiên cứu nhỏ chỉ ra nồng độ beta-caroten trong máu có liên quan đến giảm tỷ lệ đục thủy tinh thể, điều này gợi ý beta-caroten thu được từ chế độ ăn uống, chứ không phải từ các sản phẩm thực phẩm chức năng, có thể mang lại lợi ích.

  • Ngăn ngừa và điều trị thoái hóa điểm vàng

Một thử nghiệm lâm sàng chứng minh việc bổ sung thực phẩm chức năng chứa các chất chống oxy hóa cùng với kẽm làm giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng, nhưng nghiên cứu không chỉ rõ được chính xác tác dụng này là do beta-caroten hay một chất chống oxy hóa nào khác trong thực phẩm chức năng mang lại.

  • Điều trị bệnh AIDS

Mặc dù các nghiên cứu cỡ mẫu nhỏ đã gợi ý rằng các sản phẩm thực phẩm chức năng chứa beta-caroten có thể làm tăng số lượng tế bào CD4, nhưng kết quả này chưa được khẳng định qua các thử nghiệm lâm sàng.

  • Kích thích hệ thống miễn dịch

Một vài thí nghiệm trong ống nghiệm cho thấy beta-caroten kích thích một số thành phần thuộc hệ thống miễn dịch, tuy nhiên kết quả này không giúp khẳng định liệu tác dụng này có xảy ra trên cơ thể người hay không.

  • Điều trị bạch sản miệng

Một số thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng việc bổ sung beta-caroten có thể làm thuyên giảm bệnh bạch sản trong khoang miệng, một tổn thương tiền ung thư ở miệng.

  • Điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Dữ kiện hiện có còn mâu thuẫn.

  • Cải thiện nhận thức

Dữ kiện trên lâm sàng gợi ý việc bổ sung beta-caroten lâu dài có thể cải thiện khả năng nhận thức.

Tác dụng phụ

  • Việc sử dụng beta-caroten liều cao trong thời gian dài có thể dẫn đến chứng caroten (carotenodermia), một hiện tượng đổi màu vàng cam vô hại ở da.

Thông tin dành cho cán bộ y tế

Tổng quan lâm sàng

Beta-caroten là một sắc tố tự nhiên được tổng hợp từ thực vật, được sử dụng như một chất chống oxy hóa, kích thích miễn dịch và ngăn ngừa hoặc điều trị ung thư, AIDS, bệnh tim mạch và bạch sản. Beta-caroten, cùng với alpha-caroten và beta-cryptoxanthin, có thể được chuyển đổi thành retinol và được phân loại như một tiền vitamin A caroten. Việc bổ sung beta-caroten không làm tăng nồng độ vitamin A trong cơ thể hay dẫn đến ngộ độc vitamin A.

Dữ liệu hiện có về việc bổ sung beta-caroten cho bệnh nhân HIV và tác động đến số lượng tế bào CD4 cũng như trong các bệnh tim mạch còn mâu thuẫn. Một phân tích tổng hợp đã chứng minh sự gia tăng nhỏ nhưng đáng kể về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở nhóm sử dụng beta-caroten so với giả dược, trong khi các nghiên cứu khác không cho kết quả tương tự hay chỉ ra bất kỳ lợi ích nào của việc bổ sung beta-caroten đối với bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên, ăn nhiều trái cây và rau quả chứ không phải bổ sung các thực phẩm chức năng chứa chất chống oxy hóa, được chứng minh có liên quan đến giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, ung thư và tử vong do mọi nguyên nhân. Beta-caroten cũng có tương quan nghịch với hội chứng chuyển hóa.

Một phân tích tổng hợp khác không tìm thấy bất kỳ mối tương quan nào giữa việc bổ sung beta-caroten và các bệnh máu ác tính. Mối liên quan giữa nồng độ beta-caroten huyết thanh và nguy cơ tiến triển bệnh đái tháo đường tuýp 2 cũng chưa được chứng minh.

Các nghiên cứu khác báo cáo rằng nồng độ beta-caroten huyết thanh có tương quan nghịch với tỷ lệ mắc phải bệnh đục thủy tinh thể; sử dụng β-caroten liều cao (và tránh bổ sung vitamin C đồng thời) có liên quan đến việc giảm nguy cơ mất thính lực mắc phải ở phụ nữ; chế độ ăn giàu dinh dưỡng có tác dụng bảo vệ các tế bào biểu mô miệng khỏi sự rút ngắn chiều dài telomere tương đối. Các dữ liệu về hiệu quả của việc bổ sung beta-caroten để ngăn ngừa suy giảm nhận thức còn mâu thuẫn.

Mối liên hệ dịch tễ học giữa beta-caroten và nguy cơ ung thư đang còn mâu thuẫn. Trong khi chế độ ăn giàu beta-caroten có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung; và bằng chứng củng cố cho mối tương quan nghịch với thời gian sống thêm toàn bộ ở bệnh nhân ung thư vú còn hạn chế, nồng độ beta-caroten huyết thanh cao có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, nhưng giảm nguy cơ ung thư biểu mô đường tiết niệu xâm lấn. Các dữ liệu về tác dụng ngăn ngừa ung thư của beta-caroten cũng không đồng nhất. Việc tiêu thụ beta caroten, vitamin A, C, trái cây và rau quả không ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư biểu mô tế bào thận; bổ sung chất chống oxy hóa, beta-caroten và vitamin A, C và E không giúp ngăn ngừa ung thư đường tiêu hóa, và thậm chí beta-caroten có thể làm tăng tỷ lệ tử vong toàn bộ. Dữ liệu từ các thử nghiệm lớn, đa trung tâm cho thấy việc bổ sung beta-caroten có thể không làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt; và ở nam giới hút thuốc trên 40 tuổi, nó có thể làm tăng tỷ lệ mắc ung thư phổi, bất kể hàm lượng hắc ín hay nicotin trong thuốc lá. Khi kết hợp với hút thuốc lá, thực phẩm chức năng chứa beta-caroten cũng có thể làm giảm hiệu quả của các liệu pháp điều trị ung thư, dẫn đến tăng tỷ lệ tái phát và tử vong. Kết quả từ một nghiên cứu thuần tập quy mô lớn gợi ý rằng việc uống rượu cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả ngăn ngừa ung thư của beta-caroten.

Hơn nữa, việc bổ sung beta-caroten lâu dài có thể không mang lại ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong toàn phần hoặc tử vong do ung thư trong vòng 10 năm sau đó. Nhóm chuyên trách các dịch vụ dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến cáo không sử dụng thực phẩm chức năng chứa beta-caroten hoặc vitamin E để ngăn ngừa bệnh tim mạch hoặc ung thư.

Nguồn thực phẩm

Trái cây màu vàng đậm và màu cam (mơ, dưa lưới, đu đủ), các loại bí, cà rốt, khoai lang, bí ngô, các loại rau có màu xanh và bông cải xanh.

Mục đích sử dụng

  • Ngăn ngừa ung thư
  • Bệnh tim mạch
  • Đục thủy tinh thể
  • Thoái hóa điểm vàng
  • AIDS
  • Kích thích miễn dịch
  • Bạch sản miệng
  • Đái tháo đường tuýp 2
  • Nhận thức

Cơ chế hoạt động

Beta-caroten có tác dụng chống oxy hóa mạnh và bảo vệ quá trình peroxyd hóa lipid và hoạt động của tiền vitamin A, do đó ngăn ngừa các tổn thương do oxy hóa. Hoạt chất này cũng được chứng minh có khả năng làm giảm mức độ nặng của viêm loét đại tràng trên chuột thông qua điều biến một số đích phân tử  bao gồm yếu tố hạt nhân tăng cường chuỗi nhẹ kappa của các tế bào B hoạt động (NF-κB), cyclooxygenase-2, interleukin17 và yếu tố tăng trưởng mô liên kết.

Trong các nghiên cứu khác, beta-caroten làm giảm sự phát triển của tế bào và thúc đẩy quá trình chết theo chương trình (apoptosis) ở nhiều dòng tế bào ung thư thông qua biểu hiện của caveolin-1. Nó cũng thúc đẩy quá trình sản xuất glutathion; tăng cường chức năng của đại thực bào và tế bào diệt tự nhiên; và tăng số lượng tế bào lympho T hỗ trợ. Tuy nhiên, các kết quả trên lâm sàng cho thấy beta-caroten có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Beta caroten được cho làm tăng biểu hiện gen sinh mạch trong tế bào nội mô tĩnh mạch rốn ở người (HUVEC) cũng như sự di cư của các tế bào này, kích thích tăng sinh tế bào trong ung thư tụy biểu mô tuyến ống cũng như các tế bào ung thư phổi. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy beta-caroten cũng thúc đẩy sự phát triển của ung thư phổi biểu mô tuyến thông qua khuếch đại tín hiệu AMP vòng.

Phản ứng có hại của thuốc

Sử dụng quá nhiều thực phẩm và chế phẩm bổ sung chứa lượng lớn caroten có thể gây ra chứng caroten (carotenodermia) – một hiện tượng vô hại trong đó da đổi màu vàng cam.

Tương tác giữa thuốc và thảo mộc

Etanol: Tác dụng gây độc gan của etanol có thể tăng lên khi dùng đồng thời liều cao beta-caroten. Một nghiên cứu thuần tập quy mô lớn cho thấy uống rượu có thể làm giảm khả năng ngăn ngừa ung thư của beta-caroten.

Tài liệu tham khảo

https://www.mskcc.org/cancer-care/integrative-medicine/herbs/beta-carotene