Thứ Hai , 21 Tháng Chín 2020

U sao bào ở trẻ em: Chẩn đoán

Bài viết thứ 2 trong 9 bài thuộc chủ đề U sao bào ở trẻ em
 

Biên dịch: Nguyễn Tấn Long

Hiệu đính: Ths.Bs Lê Thỵ Phương Anh, Lê Hà Cảnh Châu

Bài viết này giới thiệu các xét nghiệm, thủ thuật và chẩn đoán hình ảnh phổ biến mà các bác sĩ sử dụng để tìm ra căn nguyên của bệnh. Sử dụng menu để xem các bài viết khác.

Các bác sĩ sử dụng nhiều xét nghiệm để tìm kiếm hoặc chẩn đoán khối u, cũng như đánh giá sự lan tràn của ung thư sang các cơ quan khác từ khối u nguyên phát (gọi là di căn). Ví dụ, các xét nghiệm hình ảnh có thể giúp khảo sát cấu trúc bên trong cơ thể và có thể phát hiện nếu ung thư đã lan rộng. Các bác sĩ cũng có thể làm các xét nghiệm để xác định phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với bệnh nhân.

Trong hầu hết trường hợp, sinh thiết là xét nghiệm duy nhất để biết chắc chắn sự tồn tại của khối u. Trong quá trình sinh thiết, bác sĩ lấy một mẫu mô nhỏ để mang đi xét nghiệm. Nếu không thể sinh thiết, các xét nghiệm khác có thể được làm thêm để hỗ trợ chẩn đoán.

Danh sách dưới đây mô tả các xét nghiệm để chẩn đoán u tế bào hình sao. Không phải tất cả các xét nghiệm đều được sử dụng cho mọi trường hợp. Bác sĩ có thể xem xét các yếu tố sau để chọn xét nghiệm chẩn đoán:

  • Loại khối u nghi ngờ
  • Dấu hiệu và triệu chứng
  • Tuổi và tình trạng sức khoẻ
  • Kết quả các xét nghiệm đã thực hiện trước đó

Ngoài thăm khám lâm sàng, các xét nghiệm sau đây có thể được sử dụng để chẩn đoán u tế bào hình sao:

  • Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT). Chụp CT có thể thu được hình ảnh bên trong cơ thể bằng cách sử dụng tia X chụp từ các góc độ khác nhau. Sau đó, máy tính sẽ kết hợp lại thành một hình ảnh 3 chiều chi tiết, từ đó cho thấy các bất thường hoặc khối u trong cơ thể. Chụp CT cũng có thể được sử dụng để đo kích thước của khối u. Đôi khi, một loại thuốc nhuộm đặc biệt gọi là thuốc cản quang được đưa vào cơ thể trước khi quét để cung cấp hình ảnh chi tiết hơn. Thuốc cản quang được tiêm vào tĩnh mạch hoặc dùng dưới dạng thuốc uống (dạng viên hoặc dạng lỏng).
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI). MRI sử dụng sóng từ trường, không phải tia X, để tạo ra các hình ảnh chi tiết của cơ thể. MRI có thể được sử dụng để đo kích thước của khối u. Thuốc đối quang từ được đưa vào cơ thể bệnh nhân trước khi quét để cung cấp những hình ảnh chi tiết hơn. Thuốc đối quang từ có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc dùng dưới dạng thuốc uống (dạng viên hoặc dạng lỏng).
  • Sinh thiết. Các xét nghiệm khác chỉ có thể gợi ý rằng có một khối u, nhưng để chẩn đoán xác định cần thực hiện sinh thiết. Đối với u tế bào hình sao, sinh thiết được thực hiện để xác định loại u và giai đoạn của u, ngoài ra còn có thể xác định các đặc điểm phân tử giúp bác sĩ đưa ra kế hoạch điều trị phù hợp (xem bên dưới). Trong khi sinh thiết, bác sĩ ngoại thần kinh sẽ lấy một mẫu mô nhỏ khỏi khối u. Bác sĩ ngoại thần kinh là bác sĩ chuyên điều trị khối u thần kinh bằng phẫu thuật. Nhà giải phẫu bệnh sau đó sẽ phân tích mẫu mô, đây là bác sĩ chuyên phân tích các xét nghiệm, đánh giá các tế bào, mô và cơ quan để chẩn đoán bệnh.
  • Xét nghiệm phân tử khối u. Bác sĩ có thể đề nghị các xét nghiệm trên một mẫu mô khối u để xác định các gen, protein cụ thể và các yếu tố khác đặc trưng cho khối u. Kết quả của các xét nghiệm này có thể giúp lựa chọn phương pháp điều trị cho trẻ (xem Các loại điều trị).

Sau khi hoàn thành các xét nghiệm chẩn đoán, bác sĩ sẽ trao đổi các kết quả với bạn. Nếu chẩn đoán là u tế bào hình sao, những kết quả này sẽ giúp bác sĩ mô tả chi tiết hơn về khối u. Điều này được gọi là phân độ và giai đoạn.

Phần tiếp theo trong hướng dẫn này là Phân độ và giai đoạn, giúp giải thích hệ thống phân loại mà bác sĩ sử dụng để mô tả mức độ của u tế bào hình sao. Sử dụng menu để đọc các phần khác trong hướng dẫn này.

Tài liệu tham khảo

Astrocytoma – Childhood: Diagnosis

 

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.