Phác đồ hóa trị EC là gì?
EC là phác đồ hóa trị kết hợp hai thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư vú.
Nó có tên như vậy là ghép từ hai chữ cái đầu của các thuốc:
- Epirubicin
- Cyclophosphamid
Ai có thể được chỉ định điều trị hóa trị phác đồ EC?
Ung thư vú nguyên phát
Phác đồ hóa trị EC được sử dụng để điều trị ung thư vú nguyên phát. Đây là trường hợp ung thư vú chưa lan ngoài vú hoặc quá các hạch bạch huyết dưới cánh tay.
Hóa trị được chỉ định để làm giảm nguy cơ ung thư vú tái phát hoặc lan tràn.
Phác đồ hóa trị EC có thể được chỉ định trước phẫu thuật, được gọi là điều trị tân bổ trợ hoặc sau phẫu thuật và được gọi là điều trị bổ trợ.
Nếu ung thư vú đã tái phát hoặc lan tràn
Phác đồ hóa trị EC cũng có thể được chỉ định cho những người mà ung thư vú đã:
- Tái phát ở khu vực ngực/vú hoặc ở da gần với vị trí ban đầu hoặc sẹo mổ (tái phát tại chỗ).
- Lan tới các mô và bạch bạch huyết xung quanh ngực, cổ và dưới xương ức (ung thư vú tiến triển tại vùng).
- Lan tới các bộ phận khác của cơ thể (ung thư vú di căn).
Trước khi bắt đầu điều trị hóa trị phác đồ EC
Trước khi bắt đầu điều trị, các bác sĩ sẽ sắp xếp một buổi tư vấn những thông tin về phác đồ điều trị.
Các chuyên gia sẽ thảo luận với bạn về cách thức sử dụng, thời gian sử dụng hóa trị và cách quản lý các tác dụng phụ của hóa trị.
Bạn sẽ được kiểm tra xét nghiệm máu và một số người sẽ được làm thêm xét nghiệm điện tim để kiểm tra nhịp tim. Bạn cũng sẽ được đo chiều cao và cân nặng để tính ra liều hóa trị phù hợp với bạn.
Bạn sẽ được cung cấp những số điện thoại liên hệ để giải đáp những thắc mắc hoặc quan tâm của bạn.
Cách bạn được điều trị hóa trị phác đồ EC như thế nào?
Phác đồ hóa trị EC thường sẽ được truyền trực tiếp vào cơ thể bạn qua đường tĩnh mạch.
Mỗi chu kỳ (mỗi lần sử dụng thuốc) hóa trị phác đồ EC cách nhau 3 tuần (21 ngày). Cả 2 loại thuốc sẽ được truyền lần lượt trong cùng một ngày. Thường bạn sẽ sử dụng phác đồ EC tổng cộng 4 cho đến 6 chu kỳ, và kéo dài trong khoảng 3 đến 4 tháng.
Khoảng thời gian giữa mỗi chu kỳ điều trị là thời gian để cơ thể hồi phục. Khoảng thời gian này có thể thay đổi phụ thuộc vào số lượng tế bào máu đã trở lại bình thường hay chưa giữa mỗi chu kỳ.
Nếu sử dụng hóa trị phác đồ EC trong bốn chu kỳ, phác đồ tiếp theo có thể sử dụng thuốc hóa trị khác như là docetaxel hoặc paclitaxel.
Nếu paclitaxel được sử dụng sau phác đồ EC, khoảng thời gian giữa mỗi chu kỳ hóa trị có thể ngắn hơn kế hoạch điều trị tiêu chuẩn và được gọi là liều dày.
Các tác dụng phụ của phác đồ hóa trị EC
Giống như bất kỳ điều trị nào khác, phác đồ hóa trị EC có thể gây ra các tác dụng phụ. Phản ứng với thuốc của mỗi người là khác nhau, và mức độ phản ứng cũng vậy. Những tác dụng phụ thường sẽ được kiểm soát, và không phải mọi tác dụng phụ được kê toa đều ảnh hưởng tới tất cả mọi người.
Nếu bạn lo ngại về bất kỳ tác dụng phụ nào, bất kể đã được liệt kê ở đây hay chưa, xin hãy trao đổi với bác sĩ điều trị của bạn.
Trước khi bắt đầu hóa trị, bạn nên được cung cấp 1 số điện thoại thường trực hoặc người mà bạn có thể liên lạc nếu cảm thấy không khỏe vào bất cứ thời điểm nào trong khi điều trị, kể cả ban đêm hoặc vào cuối tuần.
Các tác dụng phụ phổ biến
Những tác dụng phụ trong quá trình truyền
Nếu epirubicin rò ra khỏi tĩnh mạch, nó có thể làm tổn thương mô mềm xung quanh (được gọi là thoát mạch).
Báo với nhân viên y tế ngay lập tức nếu bạn cảm thấy đau, tê bì hoặc cảm giác bỏng rát gần vị trí kim luồn trong quá trình truyền thuốc.
Trong khi đang truyền thuốc cyclophosphamide, bạn có thể cảm thấy nóng hoặc đỏ bừng mặt và hơi chóng mặt, ngứa mũi hoặc có vị kim loại trong miệng.
Các cảm giác này thường sẽ mất đi khi kết thúc truyền, nhưng hãy trao đổi với nhân viên y tế nếu bạn cảm thấy bất kỳ cảm giác nào trong những cảm giác này. Một số người nhận thấy ngậm một viên kẹo cứng sẽ giúp làm giảm những cảm giác này.
Ảnh hưởng lên máu
Phác đồ hóa trị EC có thể ảnh hưởng tạm thời lên số lượng các tế bào máu khỏe mạnh trong cơ thể.
Bạn sẽ được làm xét nghiệm máu định kỳ để kiểm tra số lượng các tế bào máu. Nếu số lượng các tế bào máu quá thấp thì đợt truyền tiếp theo có thể bị trì hoãn hoặc giảm liều thuốc hóa trị.
Nguy cơ nhiễm trùng
Không đủ số lượng tế bào bạch cầu có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.
Bác sĩ điều trị có thể hướng dẫn bạn phản hồi lại những dấu hiệu của việc nhiễm trùng. Nhưng nói chung bạn cần liên hệ với bệnh viện nay lập tức nếu có bát kỳ dấu hiệu nào dưới đây:
- Nhiệt độ cơ thể cao (trên 37,5o) hoặc thấp (dưới 36o), hoặc có bất cứ dấu hiệu nào mà bác sĩ điều trị đã tư vấn cho bạn.
- Bạn bỗng nhiên cảm thấy không khỏe, thậm chí khi nhiệt độ bình thường
- Bạn có những triệu chứng nào của việc nhiễm trùng, ví dụ đau họng, ho, tiểu rắt hoặc cảm thấy lạnh và/hoặc rét run.
Trước khi bắt đầu điều trị, bạn sẽ được cung cấp 1 số điện thoại thường trực hoặc cho biết nơi xử trí khi có tình trạng cấp cứu.
Bạn có thể cần sử dụng kháng sinh. Đôi khi bác sĩ có thể khuyến nghị tiêm các thuốc gọi là các yếu tố tăng trưởng để kích thích việc sản sinh các tế bào bạch cầu giúp làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.
Thiếu máu
Tình trạng thiếu hụt các tế bào hồng cầu trong cơ thể được gọi là thiếu máu. Nếu bạn cảm thấy đặc biệt mệt mỏi, khó thở hoặc chóng mặt, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị của bạn.
Bầm tím và chảy máu
Phác đồ hóa trị EC có thể làm giảm số lượng tế bào tiểu cầu là những tế bào giúp máu đông. Người bệnh có thể dễ bị thâm tím, chảy máu mũi hoặc chảy máu chân răng khi đánh răng. Bạn hãy trao đổi với bác sĩ điều trị nếu gặp bất kỳ triệu chứng nào trong các triệu chứng này.
Rụng tóc
Phác đồ hóa trị EC có thể gây rụng hết tóc ở đa số bệnh nhân. Giống như tóc, thuốc cũng có thể ảnh hưởng tới vùng lông khác trên cơ thể bao gồm lông mày, lông mi, lông mu và lông ngực đối với nam giới. Rụng tóc (lông) thường bắt đầu ngay sau đợt truyền thứ nhất.
Kỹ thuật làm mát da đầu trong khi truyền có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm rụng tóc. Không phải mọi khu vực đều có kỹ thuật này nên bạn có thể trao đổi kĩ hơn với bác sĩ điều trị về vấn đề này.
Buồn nôn và nôn
Bạn có thể thấy buồn nôn hoặc bị nôn, nhưng nhiều người sẽ chị bị thoáng qua.
Bạn sẽ được chỉ định dùng thuốc chống nôn trước khi truyền, và được kê đơn thuốc chống nôn để uống ở nhà để làm giảm những triệu chứng này.
Kích ứng bàng quang hoặc nước tiểu màu đỏ hoặc hồng
Các thuốc hóa chất (nhất là nhóm cyclophosphamide) có thể gây kích ứng lớp niêm mạc bàng quang.
Bạn nên uống nhiều nước trong quá trình truyền hóa chất.
Cố gắng đi tiểu đều đặn, ngay khi bạn có cảm giác buồn tiểu. Hãy trao đổi ngay với bác sĩ điều trị khi nhận thấy có bất kỳ sự kích ứng hoặc cảm giác nóng rát/buốt khi đi tiểu.
Nhóm thuốc Epirubicin có thể làm nước tiểu có màu hồng hoặc đỏ trong một vài ngày do đây là màu của thuốc và điều này là hoàn toàn bình thường.
Viêm loét miệng và thay đổi vị giác
Bạn cần chăm sóc miệng và nướu thật cẩn thận trong khi điều trị.
Súc miệng với nước súc miệng để làm giảm đau họng, và ngăn ngừa các vết loét vùng miệng họng tiến triển.
Hãy đi khám nha khoa trước khi bắt đầu điều trị hóa trị và nên tránh điều trị răng miệng trong khi điều trị hóa trị. Nếu bạn cần phải can thiệp về vấn đề răng miệng, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị để chọn lựa thời gian phù hợp nhất.
Nhóm thuốc Epirubicin có thể làm thay đổi vị giác, ví dụ mặn hơn, đắng hơn hoặc có vị kim loại. Vị giác của bạn sẽ trở về bình thường sau khi kết thúc điều trị dù việc này có mất thời gian.
Đau mắt và nghẹt mũi, chảy nước mũi
Mắt bạn có thể cảm thấy sưng đau, có gỉ mắt hoặc chảy nước mắt. Bác sĩ điều trị có thể chỉ định một vài loại thuốc nhỏ mắt giúp mắt bạn dễ chịu hơn.
Phác đồ hóa trị EC cũng có thể gây nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi. Hãy nói với bác sĩ điều trị nếu điều này xảy ra để được tư vấn.
Cảm giác kiệt sức
Cảm giác kiệt sức do ung thư là tình trạng cực kỳ mệt mỏi, không hết sau khi nghỉ ngơi hoặc đi ngủ. Nó là tác dụng phụ rất phổ biến trong quá trình điều trị ung thư vú và có thể ảnh hưởng tới thể lực và cảm xúc của người bệnh.
Nếu bạn thấy kiệt sức, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị. Họ có thể đánh giá và tư vấn cho bạn về cách thức xử trí tình trạng này.
Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản
Phác đồ hóa trị EC có thể gây vô sinh tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Nếu bạn còn mong muốn có con, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi bắt đầu điều trị. Họ có thể giới thiệu bạn tới bác sĩ hỗ trợ sinh sản để được tư vấn về các phương án bảo tồn khả năng sinh sản.
Xem thêm bài viết: Ung thư và khả năng sinh sản: Điều trị ung thư và khả năng sinh sản của phụ nữ
Các triệu chứng mãn kinh
Phác đồ hóa trị EC có thể gây các triệu chứng mãn kinh với những bệnh nhân nữ chưa đến thời kỳ này. Đó là do hóa chất ảnh hưởng tới buồng trứng là nơi sản sinh ra estrogen.
Các triệu chứng mãn kinh phổ biến bao gồm:
- Bốc hỏa và ra mồ hôi ban đêm
- Thay đổi tâm trạng
- Đau khớp
- Khô âm đạo.
Bạn có thể trao đổi với bác sĩ điều trị để được tư vấn cách ứng phó với những triệu chứng này.
Ảnh hưởng lên khả năng tập trung
Bạn có thể thấy khó tập trung hoặc tỉnh táo, điều này có thể gây rất khó chịu.
Triệu chứng này đôi khi được gọi là ‘não hóa chất’ hay là ‘sương mù hóa chất’, nhưng bác sĩ điều trị có thể gọi là hiện tượng suy giảm nhận thức. Hiện tượng này thường được cải thiện theo thời gian sau khi kết thúc điều trị.
Các tác dụng phụ ít phổ biến hơn của phác đồ hóa trị EC
Thay đổi ở tim
Epirubicin có thể ảnh hưởng tới hoạt động của tim và có thể không phù hợp với những người hiện có bệnh tim.
Các vấn đề với tim do điều trị bằng pirubicin là không thường gặp. Tuy nhiên, do chúng có thể xảy ra, trước khi bắt đầu hóa trị bác sĩ sẽ cho bạn đánh giá chức năng tim để kiểm tra xem tim của bạn có đang làm việc bình thường hay không.
Các phản ứng ở da
Epirubicin có thể làm cho da trở nên đỏ và sưng đau, đặc biệt nếu bạn kết hợp với xạ trị. Hãy báo cho bác sĩ điều trị biết nếu điều này xảy ra.
Da bạn có thể trở nên sẫm màu do nhiều pigment (sắc tố) được sản sinh ra. Những vùng da sậm màu sẽ trở lại bình thường trong vài tháng sau khi kết thúc điều trị.
Trong khi đang điều trị bằng phác đồ EC, và trong một vài tháng sau đó, da sẽ nhạy cảm hơn. Bạn sẽ nhiều khả năng bị cháy nắng nên cần bôi kem chống nắng có hệ số bảo vệ cao nếu bạn ra ngoài nắng.
Các thông tin quan trọng khác
Huyết khối
Người bệnh mắc ung thư vú có nguy cơ cao bị huyết khối. Nguyên nhân có thể là do bản thân ung thư và một số phương pháp điều trị gây ra. Nếu ung thư đã lan tới các bộ phận khác của cơ thể (ung thư vú di căn) thì điều này cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện huyết khối.
Phác đồ hóa trị EC làm tăng nguy cơ huyết khối như là thuyên tắc tĩnh mạch sâu (DVT). Những người bị DVT có nguy cơ phát triển thành thuyên tắc phổi (PE) khi một phần của cục máu đông vỡ ra và di chuyển tới phổi.
Huyết khối nguy hiểm nhưng có thể điều trị được, nên bạn cần báo cáo các triệu chứng càng sớm càng tốt cho bác sĩ điều trị.
Nếu bạn có bất kỳ các triệu chứng nào dưới đây thì hãy liên lạc với bác sĩ điều trị ngay lập tức:
- Bắp chân hoặc đùi bị đau, tấy đỏ hoặc đổi màu, nóng và sưng lên.
- Sưng, tấy đỏ hoặc đau buốt ở vị trí cắm kim của đường truyền trung tâm, ví dụ ở cánh tay, khu vực ngực hoặc cổ.
- Khó thở
- Tức ngực
- Ho không rõ nguyên nhân hoặc ho ra máu.
Quan hệ tình dục, tránh thai và mang thai
Quan hệ tình dục trong khi điều trị
Bạn vẫn có thể quan hệ tình dục trong khi điều trị.
Người ta cho rằng thuốc hóa trị không thể đi vào dịch âm đạo hoặc tinh dịch nhưng điều này không thể loại trừ hoàn toàn khả năng thuốc hóa trị có thể đi vào máu và một số dịch khác của cơ thể.
Hầu hết các bác sĩ chuyên khoa sẽ khuyên sử dụng các biện pháp tránh thai bảo vệ như bao cao su trong một vài ngày sau khi hóa trị.
Tránh thai và mang thai
Bạn không nên mang thai trong khi hóa trị do phác đồ EC có thể gây hại cho quá trình phát triển của thai nhi.
Nếu bạn chưa mãn kinh, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị về phương pháp tránh thai phù hợp nhất cho bạn, Bạn vẫn có thể thụ thai mặc dù kinh nguyệt không đều hoặc đã mất.
Bạn nên sử dụng các biện pháp tránh thai trong khi điều trị và trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc.
Nam giới điều trị bằng phác đồ EC cũng nên dùng biện pháp tránh thai trong khi điều trị và trong vòng 06 tháng sau khi kết thúc.
Cho con bú
Bạn không nên cho con bú trong khi điều trị bằng phác đồ EC do có khả năng em bé có thể hấp thụ thuốc qua sữa mẹ và gây hại cho bé.
Tiêm chủng
Nếu bạn đang có kế hoạch đi du lịch hoặc làm việc nước ngoài, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị trước tiên.
Bạn không nên tiêm vắc-xin sống trong khi đang hóa trị như: sởi, ru-be-la, thủy đậu, lao, bệnh zô-na và sốt vàng da.
Vắc-xin sống có chứa lượng nhỏ vi rút sống hoặc vi khuẩn sống. Chúng có thể gây hại cho bạn do hệ miễn dịch bị suy giảm trong quá trình hóa trị.
Bạn có thể tiêm các loại vắc-xin này sáu tháng sau khi điều trị kết thúc. Hãy trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi tiêm vắc-xin.
Nếu những người sống cùng bạn cần tiêm vắc-xin sống, hãy báo cho bác sĩ điều trị của bạn. Họ có thể tư vấn cho bạn một vài khuyến cáo cần thiết.
Vắc-xin Coronavirus (Covid-19)
Bạn nên trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi tiêm vắc-xin coronavirus (Covid-19).
Vắc-xin cúm
Bất kỳ ai có nguy cơ suy giảm hệ miễn dịch làm tăng khả năng lây nhiễm đều cần tiêm vắc-xin cúm, bao gồm cả những người đã hoặc đang hóa trị. Vắc-xin cúm không phải là vắc-xin sống nên không chứa bất kỳ vi-rút sống nào. Nếu bạn đang hóa trị, hãy trao đổi với bác sĩ điều trị về thời gian tốt nhất để tiêm vắc-xin cúm.
Tài liệu tham khảo
https://breastcancernow.org/sites/default/files/files/ec_chemotherapy_2.pdf