Biên dịch: Võ Thục Trang
Hiệu đính: BS. Hà Thị Mỹ Hòa
Một số sản phụ gặp các vấn đề sức khỏe trong thời kỳ mang thai. Những biến chứng này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ, thai nhi hoặc cả hai. Ngay cả những sản phụ khỏe mạnh trước khi mang thai cũng có thể gặp phải các biến chứng này. Từ đó có thể khiến thai kỳ trở thành thai kỳ có nguy cơ cao.
Chăm sóc tiền sản sớm và thường xuyên của thai kỳ có thể giúp giảm nguy cơ gặp vấn đề. Bạn có thể cần bác sĩ có chuyên môn chẩn đoán, điều trị và quản lý. Điều này nên được thực hiện trước khi chúng trở nên nghiêm trọng. Chăm sóc thai kỳ cũng có thể giúp xác định các vấn đề về sức khỏe tâm trí thời kỳ mang thai và sau sinh như lo âu và trầm cảm.
Dưới đây là một số biến chứng thường gặp trong thai kỳ:
Tăng huyết áp
Tăng huyết áp xảy ra khi các động mạch đưa máu từ tim đến các cơ quan bị hẹp lại. Từ đó làm tăng áp lực trong các động mạch. Trong thai kỳ, điều này có thể làm máu đến nhau thai – nơi cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cho thai nhi trở nên khó khăn. Sự giảm lưu lượng máu có thể làm chậm quá trình tăng trưởng của thai nhi. Ngoài ra, làm tăng nguy cơ sinh non và tiền sản giật ở mẹ.
Những sản phụ có tiền sử huyết áp cao sẽ tiếp tục theo dõi và kiểm soát. Thậm chí có thể cần sử dụng thuốc nếu cần suốt quá trình mang thai.
Huyết áp cao trong thai kỳ được gọi là tăng huyết áp thai kỳ.
Thông thường, tăng huyết áp thai kỳ xảy ra trong nửa sau của thai kỳ và mất đi sau khi sinh.
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK)
ĐTĐTK là khi sản phụ trước đây không bị ĐTĐ mắc bệnh trong quá trình mang thai.
Bình thường, cơ thể tiêu hóa thành phần thức ăn thành đường glucose – nguồn năng lượng chính của cơ thể. Sau quá trình tiêu hóa, glucose di chuyển vào máu để cung cấp năng lượng cho cơ thể.
Để loại bỏ glucose khỏi máu và đưa vào tế bào cơ thể, tụy sản xuất một hormone gọi là insulin. Trong thai kỳ, hormone thay đổi làm cơ thể không sản xuất đủ insulin. Hoặc không sử dụng insulin một cách bình thường. Từ đó, khiến glucose tích tụ trong máu và gây ra bệnh đái tháo đường, hay còn gọi là tăng đường huyết.
Quản lý ĐTĐTK bằng cách tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ. Đây là cách tốt nhất để giảm thiểu các vấn đề liên quan đến tăng đường huyết trong quá trình mang thai. Nếu không được kiểm soát, nó có thể dẫn đến huyết áp cao do tiền sản giật , thai to làm tăng nguy cơ sinh mổ.
Nhiễm trùng
Trong quá trình mang thai và/hoặc khi sinh, có thể xảy ra nhiễm trùng. Bao gồm một số nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) và có thể gây ra các biến chứng cho sản phụ, thai kỳ và em bé sau khi sinh. Một số nhiễm trùng có thể lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ qua đường sinh dục. Các nhiễm trùng khác có thể lây nhiễm thai nhi trong quá trình mang thai. Các bệnh nhiễm trùng có thể được dự phòng và điều trị với sự chăm sóc kỹ càng ở các giai đoạn. Bao gồm trước thai kỳ, trong thai kỳ và theo dõi sau sinh.
Một số nhiễm trùng trong thai kỳ có thể gây ra hoặc góp phần vào các biến chứng như:
- Mất thai/sẩy thai (trước tuần 20 của thai kỳ)
- Thai ngoài tử cung (khi phôi nằm ngoài tử cung, thường là trong ống dẫn trứng)
- Sinh non (trước tuần thứ 37 thai kỳ)
- Trọng lượng sơ sinh thấp
- Bất thường bẩm sinh bao gồm mù lòa, điếc, dị tật xương và khuyết tật trí tuệ …)
- Thai lưu (từ tuần thứ 20 thai kỳ)
- Bệnh trong thời kỳ sơ sinh (tháng đầu đời)
- Tử vong sơ sinh
- Biến chứng về sức khỏe của mẹ
Chủng ngừa khi mang thai
Nếu bạn dự định mang thai, hãy tham khảo bác sĩ về việc tiêm vắc-xin thủy đậu và Rubella (sởi Đức) trước mang thai. Bạn cũng có thể tiêm một số vắc-xin khác. Chẳng hạn như vắc-xin cúm trong quá trình mang thai. Nếu bạn biết rằng bạn bị nhiễm trùng, chẳng hạn như STI, hãy nói chuyện với bác sĩ về vấn đề này trước khi mang thai để tăng cơ hội có thai kỳ khỏe mạnh.
Xét nghiệm bệnh nhiễm trùng khi mang thai
Xét nghiệm sơ sinh sớm cho bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục và các bệnh nhiễm trùng khác. Việc này giúp xác định liệu nhiễm trùng có thể được chữa trị bằng thuốc hay không. Hoặc nếu bạn biết mình bị nhiễm trùng, hãy thông báo cho bác sĩ sớm nhất có thể. Điều trị sớm làm giảm nguy cơ cho thai nhi và mẹ. Ngay cả khi nhiễm trùng không thể được chữa khỏi, bạn vẫn có thể thực hiện các biện pháp để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé.
Sản phụ hãy tìm hiểu thêm về những nhiễm trùng có thể ảnh hưởng đến thai kỳ.
Tiền sản giật
Tiền sản giật là một tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể dẫn đến sinh non và tử vong. Nguyên nhân của nó chưa được biết đến. Tuy nhiên, một số sản phụ có các yếu tố nguy cơ bao gồm:
- Mang thai lần đầu
- Đã từng mắc tiền sản giật trong thai kỳ trước
- Mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường , bệnh thận và bệnh lupus ban đỏ hệ thống
- Độ tuổi từ 35 trở lên
- Đa thai
- Béo phì
Sinh non
Sinh non là quá trình chuyển dạ xảy ra trước tuần thứ 37 của thai kỳ. Bất kỳ em bé nào được sinh ra trước tuần thứ 37 đều tăng nguy cơ gặp các vấn đề về sức khỏe. Trong hầu hết các trường hợp là do các cơ quan như phổi và não hoàn thiện quá trình phát triển trong những tuần cuối trước khi sinh đủ tháng (từ 39 đến 40 tuần).
Một số điều kiện tăng nguy cơ sinh non, gồm nhiễm trùng, cổ tử cung ngắn hoặc có tiền sử sinh non.
Progesterone, một hormone được sản xuất tự nhiên trong thai kỳ có thể được sử dụng để ngăn chặn sinh non ở một số sản phụ. Năm 2003, các nhà nghiên cứu NICHD đã phát hiện ra rằng việc bổ sung progesterone cho sản phụ có tiền sử sinh non giảm ⅓ nguy cơ sinh non trong thai kỳ sau .
Trầm cảm và lo âu
Nghiên cứu cho thấy có đến 13% sản phụ ở Mỹ biểu hiện các triệu chứng trầm cảm thường xuyên sau khi sinh. Và lo âu thường kèm theo đến 43% sản phụ có thai và sau khi sinh đang bị trầm cảm. Điều này khiến cho trầm cảm và lo âu trở thành những biến chứng thai kỳ phổ biến hơn. Những tình trạng tâm lý này có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của mẹ và con. Nhưng tin tốt đây là các tình trạng có thể điều trị được.
Sáng kiến “Sức khỏe Tâm trí của Mẹ” do NICHD dẫn dắt được thiết kế nhằm giáo dục gia đình và người có chuyên môn về sức khỏe về những người có nguy cơ mắc trầm cảm và lo âu trong suốt và sau thai kỳ, cách nhận biết những triệu chứng và tìm kiếm sự giúp đỡ.
Mất thai/Sẩy thai
Sẩy thai sử dụng để miêu tả việc mất thai do nguyên nhân tự phát trước tuần thứ 20 của thai kỳ. Các dấu hiệu có thể bao gồm xuất hiện vệt máu hoặc chảy máu âm đạo, đau bụng hoặc dịch hoặc mô đi qua đường âm đạo. Tuy nhiên, chảy máu từ âm đạo không có nghĩa là sẩy thai sẽ xảy ra hoặc đang xảy ra. Sản phụ gặp phải dấu hiệu này bất kể giai đoạn nào trong thai kỳ nên liên hệ với người có chuyên môn về sức khỏe sớm nhất có thể.
Thai lưu
Mất thai sau tuần thứ 20 của thai kỳ được gọi là thai lưu. Trong khoảng 50% các trường hợp được báo cáo, bác sĩ không tìm thấy nguyên nhân thai lưu. Tuy nhiên, các tình trạng sức khỏe có thể góp phần vào thai lưu. Bao gồm các bất thường về nhiễm sắc thể, nhau thai, thai chậm phát triển, vấn đề sức khỏe mãn tính của mẹ và nhiễm trùng. Đọc thêm về các tình trạng sức khỏe và yếu tố trong lối sống có thể tăng nguy cơ thai lưu .
Các biến chứng khác
Các biến chứng khác của thai kỳ có thể bao gồm:
Buồn nôn và nôn mửa kéo dài
Mặc dù sản phụ có hiện tượng buồn nôn và nôn mửa trong thai kỳ là điều bình thường. Đặc biệt là trong ba tháng đầu. Một số sản phụ có triệu chứng nghiêm trọng hơn kéo dài đến ba tháng cuối.
Nguyên nhân của dạng nghiêm trọng hơn của vấn đề này được gọi là hội chứng nôn nghén nặng, hiện chưa được biết đến. Sản phụ bị mệt mỏi và nôn mửa quá mức trong thai kỳ, có triệu chứng như buồn nôn không thuyên giảm sụt cân, giảm cảm giác thèm ăn, mất nước và cảm thấy hoa mắt.
Những sản phụ bị ảnh hưởng có thể cần nhập viện để truyền dịch và dưỡng chất. Một số sản phụ cảm thấy tốt hơn sau tuần thứ 20 của thai kỳ trong khi những người khác tiếp tục trải qua triệu chứng này trong suốt thai kỳ.
Thiếu máu thiếu sắt
Phụ nữ mang thai cần sắt nhiều hơn so với bình thường để sản xuất máu nhiều hơn trong thai kỳ. Thiếu máu thiếu sắt khi cơ thể không có đủ sắt, khá phổ biến trong thai kỳ liên quan đến sinh non và trọng lượng thai nhi thấp. Triệu chứng của thiếu sắt bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, khó thở và da nhợt nhạt . Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo bổ sung 27mg sắt hàng ngày (có trong hầu hết các loại thuốc vitamin cho bà bầu) để giảm nguy cơ thiếu máu thiếu sắt. Một số sản phụ có thể cần bổ sung sắt thêm qua thuốc bổ sung sắt. Người có chuyên môn về sức khỏe có thể kiểm tra tình trạng thiếu máu thiếu sắt và nếu bạn bị thiếu sắt, có thể cho bạn sử dụng thuốc bổ sung sắt.
Tài liệu tham khảo
https://www.nichd.nih.gov/health/topics/pregnancy/conditioninfo/complications