Thứ Hai , 11 Tháng Mười Hai 2017

Peptide C

Bài viết thứ 38 trong 38 bài thuộc chủ đề Bệnh tiểu đường
 

Xét nghiệm peptide C đo nồng độ peptide C có trong máu. Peptide C được sản xuất ở cùng nồng độ như insulin vì tuyến tuỵ đầu tiên sản xuất ra phân tử insulin liên kết với peptide C. Sau đó peptide C bị cắt bỏ đi để tạo ra phân tử insulin hoàn chỉnh. Insulin giúp cơ thể sử dụng và kiểm soát đường huyết. Insulin giúp đường glucose đi vào tế bào để tế bào có thể sử dụng glucose và tạo ra năng lượng. Peptide C không có ảnh hưởng gì lên đường huyết nhưng bằng cách đo lượng peptide C trong máu, ta có thể biết được có bao nhiêu insulin do tuyến tuỵ tiết ra.

Xét nghiệm peptide C có thể được tiến hành khi mới phát hiện ra là bị tiểu đường và muốn biết xem là tiểu đường loại 1 hay loại 2. Tiểu đường loại 1 là do tuyến tuỵ không sản xuất ra insulin nên sẽ có lượng insulin và peptide C trong máu thấp. Tiểu đường loại 2 là do các tế bào trở nên đề kháng với tác dụng của insulin, nghĩa là tuyến tuỵ vẫn sản xuất ra insulin và peptide C như bình thường, hoặc với nồng độ cao hơn bình thường, nhưng insulin không còn tác dụng lên tế bào như trước nữa.

Xét nghiệm peptide C cũng có thể được dùng để tìm nguyên nhân gây ra hạ đường huyết, ví dụ như khi sử dụng quá nhiều thuốc để chữa tiểu đường hoặc khi bị u đảo tuỵ. Do insulin tổng hợp không chứa peptide C, người bệnh bị hạ đường huyết do dùng quá nhiều insulin tổng hợp sẽ có nồng độ peptide C thấp nhưng nồng độ insulin cao. Trong trường hợp u đảo tuỵ (insulinoma), do đảo tuỵ sản xuất ra quá nhiều insulin nên gây hạ đường huyết. Trong trường hợp này, người bệnh sẽ có cả nồng độ peptide C và insulin cao.

Tại sao phải làm xét nghiệm này?

Xét nghiệm này được dùng để:

  • Giúp phân biệt tiểu đường loại 1 và loại 2.
  • Tìm nguyên nhân gây hạ đường huyết.
  • Kiểm tra xem u đảo tuỵ đã bị loại bỏ hoàn toàn hay chưa.

Chuẩn bị làm xét nghiệm

Bác sĩ có thể sẽ yêu cầu ngừng ăn và uống trong vòng 8 tiếng trước khi lấy mẫu máu.

Insulin và các thuốc uống khác dùng để chữa tiểu đường loại 2 có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Bác sĩ có thể sẽ yêu cầu ngừng uống các loại thuốc này trước khi lấy mẫu máu.

Hỏi bác sĩ nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến sự cần thiết làm xét nghiệm, rủi ro khi làm xét nghiệm, quá trình làm xét nghiệm hoặc cách diễn giải kết quả. Bạn có thể sử dụng danh sách các câu hỏi này để tham khảo khi nói chuyện với bác sĩ.

Tiến trình xét nghiệm

Y tá thường lấy máu theo các bước sau:

  • Quấn một dây chun/đàn hồi quanh phần trên của bắp tay để ngăn máu lưu thông. Việc này khiến cho tĩnh mạch phía dưới chỗ dây quấn phình to ra để dễ chích kim vào tĩnh mạch.
  • Khử trùng chỗ sẽ chích kim bằng cồn.
  • Chích kim tiêm vào tĩnh mạch. Một số trường hợp khó, y tá có thể phải chích vài lần mới luồn được kim vào tĩnh mạch.
  • Lấy máu vào ống xilanh hoặc ống nghiệm gắn liền.
  • Tháo dây chun khỏi bắp tay khi đã lấy đủ máu.
  • Ấn gạc hoặc bông vào chỗ chích kim sau khi rút kim ra.
  • Tiếp tục ấn/đè bông vào chỗ đã chích kim để cầm máu và băng lại.

Cảm giác khi lấy mẫu máu

Mẫu máu thường được lấy từ tĩnh mạch ở khuỷu tay. Khi quấn dây chun trên cánh tay để chuẩn bị lấy máu, bạn có thể cảm thấy bị thít chặt. Có người không cảm thấy gì khi y tá chích kim vào tay, nhưng cũng có người cảm thấy nhói đau.

Rủi ro khi lấy mẫu máu

Có rất ít rủi ro khi lấy mẫu máu.

  • Chỗ lấy máu sẽ có thể xuất hiện vết bầm nhỏ. Đó là do chảy máu trong(xuất huyết trong, chảy máu dưới da) và nguy cơ này có thể giảm bớt bằng cách ấn mạnh vào chỗ lấy máu vài phút sau khi rút kim.
  • Tĩnh mạch ở chỗ lấy máu có thể bị sưng tấy. Hiện tượng này gọi là viêm tĩnh mạch, rất hiếm khi xảy ra và có thể chữa bằng cách chườm nóng vài lần trong ngày.
  • Chảy máu kéo dài có thể xảy ra ở các bệnh nhân bị rối loạn đông máu.Việc dùng một số thuốc như aspirin, warfarin (còn gọi là coumadin) vàmột số thuốc làm máu khó đông khác có thể dễ gây chảy máu. Hãy thông báo cho y tá hoặc bác sĩ trước khi lấy máu nếu bạn có các vấn đề về đông máu.

Kết quả

Xét nghiệm peptide C đo nồng độ peptide C có trong máu.

Nồng độ bình thường

Bảng thống kê dưới đây liệt kê ra các giá trị được coi là bình thường. Tuy

nhiên số liệu này chỉ mang tính chất tham khảo vì các trung tâm xét nghiệm khác nhau có thể có các tiêu chuẩn khác nhau. Trong bảng kết quả nhận được thông thường sẽ có ghi khoảng giá trị nào là bình thường tại nơi xét nghiệm đó. Ngoài ra bác sĩ sẽ đánh giá kết quả dựa trên sức khoẻ bệnh nhân và nhiều yếu tố khác. Vì thế kết quả nằm ngoài số liệu bình thường nêu dưới đây vẫn có thể là bình thường đối với phòng xét nghiệm đó hoặc bệnh nhân đó.

Xét nghiệm peptide C phải được so sánh với kết quả đường huyết. Hai xét nghiệm này được làm cùng một lúc. Có khi cũng phải làm thêm xét nghiệm để đo lượng insulin trong máu.

Giá trị peptide C bình thường

Khi đói 0.51-2.72 nano-gram/mili-lit (ng/mL), hoặc 0.17-0.90 nano-mol/lit (nmol/L)

Nồng độ peptide C cao

  • Nếu nồng độ peptide C cao và nồng độ đường huyết cũng cao thì có nghĩa là bị tiểu đường loại 2 hoặc bị kháng insulin (như trường hợp bị hội chứng Cushing).
  • Nếu nồng độ peptide C cao và nồng độ đường huyết lại thấp thì có thể bị u đảo tuỵ (insulinoma) hoặc có thể do dùng một số thuốc hạ đường huyết loại sulfonylurea (như glyburide).
  • Nếu nồng độ peptide C vẫn cao sau khi đã phẫu thuật cắt bỏ u đảo tuỵ thì có thể là bị tái phát hoặc u đã di căn sang nơi khác.

Nồng độ peptide C thấp

  • Nếu nồng độ peptide C thấp và nồng độ đường huyết cũng thấp thì có thể bị các bệnh liên quan đến gan, bị nhiễm trùng nặng, bị bệnh Addison (suy thượng thận), hoặc đang dùng insulin tổng hợp.
  • Nếu nồng độ peptide C thấp mà nồng độ đường huyết lại cao thì có nghĩa là bị tiểu đường loại 1.

Việc cắt bỏ hoàn toàn tuyến tuỵ khiến cho nồng độ peptide C thấp đến mức không thể đo được. Trong trường hợp này thì nồng độ đường huyết sẽ cao và bệnh nhân sẽ phải được bổ sung insulin.

Điều gì có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm?

Các yếu tố sau khiến bạn không thể làm xét nghiệm hoặc làm kết quả xét nghiệm không chính xác:

  • Đang dùng các loại thuốc như insulin, hoặc sulfonylurea chỉ định cho tiểu đường loại 2.
  • Bị suy thận. Cả insulin và peptide C đều được thận đào thải khỏi cơ thể. Người bị suy thận có thể có nồng độ peptide C cao.
  • Bị béo phì. Người bị béo phì sản xuất ra nhiều insulin hơn người bình thường và làm cho nồng độ peptide C cũng trở nên cao hơn người bình thường.

Lưu ý

  • Xét nghiệm peptide C phải được làm cùng lúc với xét nghiệm đường huyết. Xem bài “Đường huyết” để biết thêm chi tiết về xét nghiệm đường huyết.
  • Người mới bị tiểu đường loại 2 thường có nồng độ peptide C bình thường hoặc cao hơn bình thường. Tuy nhiên theo thời gian thì người bị tiểu đường loại 2 có thể có nồng độ peptide C thấp hơn bình thường.
  • Bác sĩ sẽ dựa vào tuổi, cân nặng và thời gian mắc bệnh để phân biệt tiểu đường loại 1 với loại 2 và để xuất hướng điều trị. Mặc dù hiếm, nhưng có trường hợp phải làm thêm xét nghiệm kích thích peptide C để phân biệt hai loại tiểu đường. Mẫu máu đầu tiên sẽ được lấy để làm chuẩn. Sau đó bệnh nhân sẽ được tiêm một loại hóc-môn làm tăng đường huyết (glucagon). Bệnh nhân sẽ được lấy máu lần thứ 2 và so sánh với mẫu máu đầu tiên. Người bị bệnh tiểu đường loại 1 sẽ có nồng độ peptide C luôn thấp vì tuyến tuỵ không thể sản xuất ra insulin khi nồng độ glucagon tăng. Người bị bệnh tiểu đường loại 2 sẽ có nồng độ peptide C trong mẫu máu thứ 2 cao hơn mẫu máu đầu tiên vì tuyến tuỵ sản xuất nhiều insulin hơn bình thường khi bị kích thích bởi glucagon.

Tài liệu tham khảo

http://www.webmd.com/diabetes/c-peptide

Bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE


  • error: