Chủ Nhật , 25 Tháng Bảy 2021

Paclitaxel (Taxol)

Bài viết thứ 58 trong 60 bài thuộc chủ đề Ung thư vú
 

Về bài viết này

Bài viết này giải thích về thuốc paclitaxel, thuốc hoạt động như thế nào, khi nào thuốc được chỉ định và các tác dụng phụ mà bạn có thể trải qua.

Paclitaxel là gì?

Paclitaxel là một loại thuốc hóa trị. Hóa trị là phương pháp điều trị sử dụng các hóa chất độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư.

Paclitaxel là tên chung quốc tế (không phải tên biệt dược), nhưng bạn cũng có thể thấy thuốc được gọi bằng một trong các tên biệt dược là Taxol.

Một số người được chỉ định một thuốc được gọi nab-paclitaxel (Abraxane). Bạn có thể được chỉ định thuốc này nếu bạn có phản ứng dị ứng với paclitaxel.

Paclitaxel hoạt động như thế nào?

Paclitaxel hoạt động bằng cách ngăn chặn sự phân chia và nhân lên của các tế bào ung thư, khiến các tế bào ung thư không thể phát triển và lan rộng.

Khi nào bác sĩ chỉ định paclitaxel cho bạn?

Ung thư vú nguyên phát

Paclitaxel được sử dụng để điều trị ung thư vú nguyên phát (ung thư chưa lan quá vú hoặc tới các hạch bạch huyết dưới cánh tay) khi kết hợp với các thuốc khác. Thuốc cũng có thể được chỉ định như là một phần của thử nghiệm lâm sàng. Bạn có thể tìm thấy thông tin về thử nghiệm lâm sàng trên website www.breastcancernow.org.

Trước phẫu thuật

Paclitaxel có thể được chỉ định trước phẫu thuật để làm giảm kích thước các khối u lớn. Người bệnh sẽ được xem xét phẫu thuật bảo tồn nếu có thể, thay vì cắt bỏ toàn bộ vú. Hoặc thuốc cũng có thể được chỉ định trước khi phẫu thuật để làm chậm sự phát triển của ung thư phú đang tiến triển nhanh và làm giảm nguy cơ di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.

Khi hóa trị được thực hiện trước phẫu thuật thì được gọi là hóa trị tân bổ trợ.

Sau phẫu thuật

Paclitaxel được chỉ định sau phẫu thuật để làm giảm nguy cơ ung thư vú tái phát. Hóa trị thường được bắt đầu trong vòng một vài tuần sau phẫu thuật.

Nếu cần, bạn sẽ được xạ trị sau khi hoàn thành đợt điều trị paclitaxel.

Hóa trị được chỉ định sau phẫu thuật được gọi là hóa trị bổ trợ.

Ung thư vú di căn

Paclitaxel được chỉ định đơn độc hoặc kết hợp với thuốc hóa trị khác hoặc các thuốc chống ung thư khác để điều trị ung thư vú đã:

  • Lan tới các mô và hạch bạch huyết xung quanh ngực, cổ và dưới xương đòn (gọi là tái phát tại vùng hoặc ung thư vú tiến triển tại chỗ).
  • Lan tới các cơ quan khác của cơ thể (ung thư vú di căn).

Trước khi bắt đầu truyền paclitaxel

Trước khi bắt đầu điều trị hầu hết các bệnh viện sẽ bố trí một số buổi trao đổi, cung cấp thông tin về phác đồ hóa trị được sử dụng. Tại đây, điều dưỡng sẽ thảo luận với bạn lịch trình điều trị cụ thể, cách quản lý và xử trí các tác dụng phụ thường gặp. Bạn cũng sẽ được cho số điện thoại để liên hệ khi bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc lo lắng nào.

Paclitaxel được dùng như thế nào?

Paclitaxel được truyền vào tĩnh mạch ở bàn tay hoặc cánh tay.

Cũng có thể dùng các phương pháp truyền tĩnh mạch khác, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như là điều dưỡng có dễ lấy ven hay không, hay do sự lựa chọn của bạn.

Paclitaxel có thể được dùng theo chu kỳ hai tuần/1 lần trong hai giờ (liều dày) hoặc có thể được truyền hàng tuần ở liều thấp hơn trong một giờ.

Khoảng cách giữa mỗi đợt điều trị là để cơ thể bạn có thời gian hồi phục. Thời gian này có thể thay đổi phụ thuộc vào số lượng các tế bào máu đã trở lại mức bình thường hay chưa.

Bạn sẽ được truyền paclitaxel theo đợt giống bệnh nhân ngoại trú.

Trước mỗi đợt truyền bạn sẽ được sử dụng một số thuốc khác để dự phòng các phản ứng có thể xảy ra.

Tôi sẽ dùng paclitaxel trong bao lâu?

Đối với ung thư vú nguyên phát thường là ba tới sáu chu kỳ điều trị.

Đối với ung thư vú tiến triển tại chỗ và ung thư vú di căn thì số đợt điều trị sẽ thay đổi phụ thuộc vào từng cá nhân.

Các tác dụng phụ của paclitaxel

Giống như bất kì liệu pháp điều trị nào khác, paclitaxel có thể gây ra các tác dụng phụ. Mỗi người phản ứng khác nhau với thuốc và một số người có thể có nhiều tác dụng phụ hơn những người khác. Các tác dụng phụ này thường có thể xử trí được và không phải tất cả các tác dụng phụ được mô tả ở đây đều xảy ra với tất cả mọi người.

Nếu bạn lo ngại về bất kỳ tác dụng phụ nào, dù có được liệt kê ở đây hay không, hãy báo với điều dưỡng hoặc bác sĩ điều trị càng sớm càng tốt.

Nếu bạn đang dùng các thuốc hóa trị hoặc thuốc chống ung thư khác cùng với paclitaxel thì bạn có thể gặp thêm tác dụng phụ khác do các thuốc này gây ra.

Các tác dụng phụ phổ biến

Ảnh hưởng lên máu

Paclitaxel có thể tạm thời ảnh hưởng tới số lượng các tế bào máu trong cơ thể bạn. Các tế bào máu (tế bào bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu) được sản sinh và phóng thích từ tủy xương (tủy xương là vật liệu xốp có trong phần rỗng của xương). Hóa trị làm giảm khả năng tủy xương tạo ra các tế bào này.

Bạn sẽ được xét nghiệm máu thường quy trong suốt quá trình điều trị để kiểm tra. Nếu số lượng các tế bào máu quá thấp thì đợt điều trị tới có thể bị trì hoãn hoặc phải giảm liều hóa trị.

Nguy cơ nhiễm trùng

Khi các tế bào bạch cầu xuống thấp dưới mức nào đó thì được gọi là hạ bạch cầu. Không đủ số lượng bạch cầu có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng. Số lượng các tế bào này thường trở lại bình thường trước khi bắt đầu đợt hóa trị tiếp theo.

Hãy liên lạc với bệnh viện ngay nếu:

  • Bạn bị sốt cao (trên 37,5oC) hoặc nhiệt độ hạ thấp (dưới 36oC), hoặc bất kỳ bất thường nào mà bác sỹ đã đề cập đến trước đó.
  • Bạn đột nhiên cảm thấy không khỏe, thậm chí khi nhiệt độ bình thường.
  • Bạn có bất kể triệu chứng nào của nhiễm trùng, ví dụ đau họng, ho hoặc cảm thấy ớn lạnh hoặc run.

Trước khi bắt đầu hóa trị, bạn có thể hỏi bác sỹ điều trị số điện thoại để liên lạc 24/24 giờ hoặc những địa chỉ có thể liên hệ trong tình huống nguy cấp. Bạn có thể cần sử dụng kháng sinh. Đôi khi bác sĩ có thể khuyến nghị bạn tiêm thuốc kích bạch cầu để ngăn ngừa giảm bạch cầu và giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Thiếu máu

Có quá ít tế bào hồng cầu có nghĩa là bạn đã bị thiếu máu. Nếu bạn cảm thấy đặc biệt mệt, khó thở hoặc chóng mặt, hãy báo cho bác sỹ điều trị biết.

Bầm tím và chảy máu

Paclitaxel có thể làm giảm số lượng tiểu cầu – thành phần quan trọng trong quá trình đông máu. Bạn có thể dễ dàng bị bầm tím, chảy máu mũi hoặc chảy máu chân răng khi đánh răng. Hãy báo với bác sỹ điều trị nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào kể trên.

Rụng tóc

Paclitaxel gây rụng tóc. Hầu hết mọi người sẽ rụng tóc và lông mày, lông mi và lông trên cơ thể.

Bạn có thể bắt đầu rụng tóc trong khoảng hai tuần sau đợt điều trị đầu tiên hoặc sớm hơn. Rụng tóc thường diễn ra từ từ nhưng có thể chỉ trong vài ngày.

Làm mát da đầu bằng “mũ làm lạnh” có thể làm giảm rụng tóc khi bạn sử dụng chúng trước, trong và sau khi truyền một tới hai giờ. Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc vào loại thuốc và liều lượng, và không phải ai cũng có hiệu quả khi sử dụng.

Rụng tóc là tạm thời và trong hầu hầu hết các trường hợp tóc sẽ mọc lại vài tuần sau khi điều trị kết thúc.

Rụng tóc vĩnh viễn là hiện tượng tóc không mọc lại hoàn toàn trong sáu tháng hoặc hơn sau khi kết thúc điều trị. Hiện chưa có bằng chứng thuyết phục nào về tỷ lệ xảy ra rụng tóc vĩnh viễn ở bệnh nhân sử dụng paclitaxel.

Nếu bạn lo lắng về rụng tóc khi quyết định điều trị, hãy nói với bác sỹ điều trị và điều dưỡng.

Tê bì và ngứa ran ở bàn tay hoặc bàn chân

Một số người điều trị bằng paclitaxel bị đau, tê bì và ngứa ở bàn tay và bàn chân, là do ảnh hưởng của paclitaxel lên dây thần kinh ngoại biên. Đối với một số người, các triệu chứng này thường nhẹ và mất đi sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, ở đa số bệnh nhân, tình trạng ngứa và tê bì được cải thiện nhưng có thể không biến mất hoàn toàn. Nếu các triệu chứng nghiêm trọng bạn có thể cần giảm liều paclitaxel hoặc dừng điều trị hoàn toàn.

Nếu bạn bị ngứa ran và tê bì (như là khó cài khuy áo hoặc có cảm giác khó phân biệt giữa nước nóng và nước lạnh bằng các ngón tay) thì hãy nói với bác sỹ điều trị để có thể theo dõi các triệu chứng này.

Đau cơ và khớp

Hai đến ba ngày sau truyền thuốc, bạn có thể thấy đau cơ và khớp. Hiện tượng này thường mất đi sau vài ngày hoặc một tuần nhưng đối với một số người có thể kéo dài hơn. Có thể bạn sẽ rất đau và cần sử dụng thuốc giảm đau nhẹ hoặc thuốc kháng viêm như là ibuprofen. Nên có các thuốc này trước khi bắt đầu điều trị phòng khi bạn cần đến. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc giảm đau như là paracetamol hoặc ibuprofen có thể che dấu các dấu hiệu của nhiễm trùng.

Trước khi sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm, hãy hỏi bác sĩ về liều, thời gian dùng thuốc và các tác dụng phụ có thể, đặc biệt là nếu bạn bị loét dạ dày hoặc hen suyễn.

Buồn nôn và nôn

Buồn nôn thường nhẹ và hầu hết mọi người sẽ không bị nôn thực sự. Bạn có thể cảm thấy người khó chịu trong một vài giờ sau khi truyền. Thông thường bạn sẽ được cho dùng dùng thuốc chống nôn bằng đường uống hoặc truyền tĩnh mạch trước mỗi đợt hóa trị. Bạn cũng có thể sẽ được kê đơn thuốc chống nôn để mang về nhà.

Nếu bạn đang buồn nôn và bị nôn thì hãy liên lạc với bác sỹ điều trị.

Hãy liên lạc ngay với bệnh viện vào bất kỳ thời điểm, dù là cuối tuần hay ban đêm nếu tình trạng nghiêm trọng và không thể uống bất kỳ chất lỏng nào.

Phản ứng dị ứng trên da

Bạn có thể xuất hiện ban đỏ ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể hoặc da bị đổi màu, đỏ, ngứa hoặc bạn có thể cảm thấy đỏ bừng mặt. Bác sĩ có thể cho thuốc để làm giảm tình trạng này.

Nếu bạn xuất hiện các phản ứng dị ứng trên da thì hãy nói vói bác sỹ điều trị khi bạn tái khám để có thể được theo dõi các triệu chứng.

Một số người có thể gặp phản ứng dị ứng da nghiêm trọng gọi là hội chứng bàn tay-bàn chân hay hội chứng Palmar-plantar. Hội chứng này thường ảnh hưởng tới lòng bàn tay và gan bàn chân nhưng bạn cũng có thể có các triệu chứng ở các khu vực như da ở đầu gối hoặc khuỷu tay.

Đối với một số người, hội chứng bàn tay-bàn chân có thể làm bạn khó thực hiện các hoạt động hàng ngày hơn và ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Bác sỹ điều trị có thể cho bạn sử dụng các thuốc bôi dạng gel hoặc kem lên khu vực bị ảnh hưởng.

Viêm loét miệng

Bạn có thể bị đau và loét miệng. Sử dụng nước xúc miệng có thể làm giảm nguy cơ này.

Việc chăm sóc răng và lợi rất quan trọng trong quá trình điều trị. Nếu bạn bị nhiễm trùng, bác sĩ điều trị hoặc điều dưỡng có thể khuyên bạn dùng các loại nước xúc miệng khác hoặc thuốc điều trị phù hợp.

Bạn cần đến gặp nha sỹ để kiểm tra trước khi bắt đầu hóa trị. Nếu bạn cần điều trị các bệnh lý răng, miệng hãy báo với bác sỹ điều trị để cân nhắc thời điểm phù hợp.

Tiêu chảy và táo bón

Bạn có thể bị tiêu chảy và táo bón. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc để điều trị tiêu chảy hoặc táo bón hoặc đưa ra lời khuyên về chế độ ăn phù hợp với bạn.

Hãy liên hệ với nhóm hóa trị nếu bạn bị tiêu chảy từ bốn lần trở lên trong 24 giờ.

Kiệt sức (Mệt lả)

Mệt lả liên quan tới ung thư là trạng thái cực kỳ mệt, không hết đi khi nghỉ ngơi hoặc ngủ. Nó là tác dụng phụ rất phổ biến và có thể ảnh hưởng tới thể xác và tinh thần của bạn.

Nếu cảm thấy kiệt sức, hãy nói với bác sĩ của bạn. Họ có thể đánh giá và đưa ra lời khuyên giúp cải thiện triệu chứng này.

Ảnh hưởng lên khả năng tập trung

Một số người thấy việc điều trị ảnh hưởng lên khả năng tập trung và làm cho họ hay quên. Hiện tượng này đôi khi được gọi là “chemo fog” hay suy giảm nhận thức. Hiện tượng này thường cải thiện theo thời gian sau khi điều trị kết thúc.

Hạ huyết áp

Cần đều đặn kiểm tra huyết áp khi truyền palitaxel. Hãy nói cho bác sỹ điều trị biết nếu bạn cảm thấy chóng mặt hoặc đau đầu nhẹ.

Các tác dụng phụ ít phổ biến hơn

Phản ứng ở móng tay, móng chân

Paclitaxel có thể làm thay đổi móng tay, móng chân, như biến đổi về màu sắc hoặc cấu trúc bề mặt móng, hình thành các đường gợn trên móng. Móng cũng có thể trở nên giòn và dễ nứt. Thỉnh thoảng có thể bị bong ra và rơi đi nhưng móng sẽ mọc trở lại.

Do bạn có nguy cơ nhiễm trùng nhiều hơn trong khi đang hóa trị, hãy báo bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào như là đỏ, nóng, sưng hoặc đau ở hoặc dưới móng tay và móng chân cho bác sỹ.

Phản ứng tại vị trí cắm kim truyền

Có thể xảy ra có hiện tượng đau, đỏ da, thay đổi màu da hoặc sưng ở vị trí kim được cắm vào hoặc ở bất kỳ nơi nào dọc tĩnh mạch.

Nếu bạn thấy đau, nhức như kim châm hoặc cảm giác bỏng rát xung quanh đường truyền trong khi đang truyền thuốc thì  hãy báo ngay với điều dưỡng.

Tình trạng thoát mạch trong truyền paclitaxel (thuốc rò rỉ ra ngoài tĩnh mạch) có thể làm tổn thương mô xung quanh.

Sau một vài tuần bạn có thể nhận thấy đau, da sẫm màu và cứng xung quanh nơi cắm kim truyền. Hiện tượng này sẽ mất đi theo thời gian.

Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản

Người ta chưa biết một cách chính xác liệu paclitaxel có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không. Tuy nhiên, bất kỳ ảnh hưởng nào cũng sẽ phụ thuộc vào các thuốc hóa trị khác mà bạn đang dùng cùng lúc hoặc đã dùng trước đó, và tuổi của bạn nữa.

Một số phụ nữ mất kinh trong khi hóa trị, nhưng hiện tượng này chỉ là tạm thời. Phụ nữ tuổi từ 40 trở lên thì ít có khả năng có kinh trở lại sau khi hoàn thành hóa trị hơn là phụ nữ dưới tuổi 40.

Nếu bạn lo lắng về khả năng sinh sản của mình, hãy thảo luận với bác sỹ điều trị trước khi bắt đầu sử dụng paclitaxel.

Nếu bạn muốn biết thêm về khả năng sinh sản hoặc có thai sau điều trị, đề nghị đọc quyển Khả năng sinh sản và điều trị ung thư.  

Ảnh hưởng lên gan

Paclitaxel có thể ảnh hưởng lên chức năng gan. Ảnh hưởng này là tạm thời và chức năng gan sẽ trở về bình thường khi dừng điều trị.

Bạn ít khi nhận thấy bất kỳ bất thường nào về thay đổi chức năng gan. Tuy nhiên, bạn sẽ được xét nghiệm máu đều đặn để theo dõi chức năng gan suốt cả quá trình điều trị.

Các tác dụng phụ hiếm gặp

Thay đổi nhịp tim  

Paclitaxel có thể làm thay đổi nhịp tim nên bạn cần theo dõi cẩn thận chỉ số này trong khi điều trị. Nếu có thay đổi về nhịp tim, thì có thể điều trị dễ dàng và bạn sẽ không phải dừng thuốc.

Điều này không giống với các phản ứng dị ứng với paclitaxel (xem dưới đây).

Phản ứng dị ứng

Trước khi bắt đầu điều trị, bạn sẽ được chỉ định dùng các thuốc gọi là steroid đề làm giảm nguy cơ phản ứng dị ứng. Thuốc này thường được dùng ở dạng viên nén để uống hoặc truyền tĩnh mạch.

Nếu bạn có phản ứng dị ứng với paclitaxel thì phản ứng thường xảy ra trong vòng vài phút kể từ thời điểm bắt đầu truyền. Nhiều khả năng hiện tượng này xảy ra vào đợt truyền thứ nhất hoặc thứ hai. Phản ứng có thể thay đổi từ nhẹ tới nặng, mặc dù phản ứng nặng là không phổ biến.

Bạn sẽ được theo dõi chặt chẽ trong suốt thời gian điều trị để có thể giải quyết bất kỳ phản ứng nào ngay lập tức.

Các triệu chứng gồm đỏ bừng mặt, phát ban, ngứa, đau lưng, khó thở, ngất xỉu, sốt hoặc rét run. Nếu bạn gặp các phản ứng dị ứng nghiêm trọng thì sẽ được dừng truyền ngay lập tức. Bạn có thể không được truyền lại paclitaxel hoặc có thể được dùng thêm thuốc để ngăn ngừa phản ứng khác, và paclitaxel có thể được truyền chậm hơn.

Ảnh hưởng lên phổi

Ảnh hưởng lên phổi gồm xơ hoặc viêm phổi. Đây là tác dụng phụ hiếm gặp, nhưng nếu bạn bị khó thở hoặc ho khan trong hoặc sau điều trị một vài tuần, hãy nói cho bác sĩ điều trị biết.

Huyết khối

Những người mắc ung thư vú có nguy cơ có huyết khối cao hơn. Nguyên nhân có thể là do bản thân ung thư và một số thuốc điều trị ung thư vú gây ra. Nếu ung thư đã lan tới các bộ phận khác của cơ thể (ung thư vú di căn) thì cũng làm tăng nguy cơ huyết khối.

Truyền paclitaxel làm tăng nguy cơ huyết khối như là thuyên tắc tĩnh mạch sâu (DVT). Những người bị DVT có nguy cơ phát triển thành thuyên tắc phổi (PE) khi một phần của cục máu đông vỡ ra và đi tới phổi.

Huyết khối là tác dụng phụ nguy hiểm nhưng có thể điều trị được, nên điều quan trọng là bệnh nhân cần báo cáo các triệu chứng với bác sĩ càng sớm càng tốt.

Nếu bạn có bất kỳ các triệu chứng nào trong các triệu chứng sau thì hãy liên lạc với bác sĩ đa khoa hoặc bác sĩ điều trị ngay lập tức:

  • Đau, tấy đỏ hoặc thay đổi màu da, nóng và sưng bắp chân, chân hoặc đùi
  • Sưng, tấy đỏ hoặc đau ở chỗ cắm kim của đường truyền trung tâm ở cánh tay, khu vực ngực hoặc lên tới cổ.
  • Khó thở
  • Tức ngực
  • Ho không rõ nguyên nhân hoặc có thể ho ra máu.

Đi du lịch và tiêm chủng

Nếu bạn đang có kế hoạch cho ngày nghỉ hoặc cần đi ra nước ngoài, trước tiên hãy tham khảo ý kiến bác sỹ điều trị.

Bạn không nên tiêm vắc xin sống trong khi đang hóa trị. Vắc xin sống gồm sởi, rubella, thủy đậu, lao, zona và vắc xin ngừa bệnh sốt vàng da.

Vắc xin sống có chứa lượng nhỏ vi rút sống hoặc vi khuẩn sống. Nếu bạn có hệ miễn dịch suy yếu do hóa trị thì các vắc xin này có thể gây hại.

Tiêm chủng các vắc xin này sáu tháng sau khi kết thúc điều trị là an toàn. Hãy nói với bác sĩ đa khoa hoặc bác sĩ điều trị trước khi tiêm chủng hoặc khi bạn tiếp xúc gần với người cần tiêm vắc xin sống. Họ có thể tư vấn cách phòng ngừa mà bạn có thể cần thực hiện.

Xem thêm bài viết về Tổng quan về vắc xin

Tiêm vắc xin virut Corona (Covid-19)

Những người đang hóa trị cần trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi tiêm vắc xin virut corona (Covid-19).

Xem thêm bài viết về Vắc xin COVID-19

Tiêm vắc xin cúm

Bất kỳ ai có nguy cơ suy giảm hệ miễn dịch dẫn đến dễ nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus hơn như bệnh nhân sắp hoặc đang hóa trị, thì cần tiêm vắc xin cúm..

Vắc xin cúm không phải là vắc xin sống. Nếu bạn đang hóa trị thì hãy trao đổi với bác sỹ điều trị hoặc điều dưỡng về thời gian tốt nhất để tiêm vắc xin này.

Tình dục, tránh thai và có thai

Bạn được khuyên không có thai trong khi đang điều trị do paclitaxel có thể gây hại tới thai nhi đang phát triển. Nếu bạn chưa mãn kinh thì hãy hỏi bác sỹ điều trị về phương pháp tránh thai phù hợp nhất. Bạn vẫn có thể có thai thậm chí nếu kinh nguyệt không đều hoặc dừng hẳn.

Bạn vẫn có thể quan hệ tình dục trong khi đang điều trị. Người ta cho rằng thuốc hóa trị không thể đi vào dịch âm đạo hoặc tinh dịch, nhưng không thể loại trừ hoàn toàn điều này do thuốc hóa trị có thể đi vào máu và một số dịch khác của cơ thể.

Hầu hết các bác sĩ ở bệnh viện sẽ khuyên sử dụng các biện pháp tránh thai rào chắn có hiệu quả như bao cao su trong hoặc sau truyền hóa chất một vài ngày.

Hóa trị sẽ gần như ảnh hưởng tới cảm giác của bạn về tình dục và sự gần gũi. Bạn có thể không cảm thấy thích được gần gũi khi bạn đang điều trị, hoặc bạn có thể thấy gần gũi giúp bạn cảm thấy bình thường hơn. Phản ứng của mỗi người sẽ khác nhau.

Đề nghị xem quyển sách Cơ thể bạn, sự gần gũitình dục để có thêm thông tin về điều trị có thể ảnh hưởng thế nào lên hình ảnh cơ thể, tình dục và sự gần gũi.

Tài liệu tham khảo

https://breastcancernow.org/information-support/publication/paclitaxel-taxol-bcc34